ĐIỀU KIỆN CẦN ĐỂ GIẢI NGHĨA KINH THÁNH

Giải nghĩa Kinh thánh  – Giới thiệu  

Dịch giả: Trần T. Hồng Ngọc

ĐIỀU KIỆN CẦN ĐỂ GIẢI NGHĨA KINH THÁNH

Các điều kiện cần, hoặc các yêu cầu, để giải nghĩa Kinh Thánh là gì? Chúng ta cần có những thái độ và kỹ năng nào để hiểu Kinh thánh và ích lợi từ việc nghiên cứu Kinh thánh là gì?

ĐIỀU GÌ KHÔNG BẮT BUỘC?

Trước khi chúng ta xem xét những gì cần thiết để giải nghĩa Kinh thánh, chúng ta muốn thảo luận một số điều không cần thiết để giúp giải nghĩa Kinh thánh một cách chính xác.

Không bắt buộc phải trở thành Học giả Kinh thánh

Trước tiên, chúng ta không cần phải là học giả Kinh thánh để giải nghĩa Kinh thánh. Bất cứ ai cũng có thể đọc Kinh thánh và hiểu những gì Đức Chúa Trời muốn mọi người làm để được cứu.

Đôi khi các chuyên gia dường như nói rằng độc giả phải có bằng sau đại học, biết đọc, viết trong các ngôn ngữ gốc, biết lịch sử cổ đại, và thông thạo các phong tục tập quán của thời Kinh Thánh thì mới có thể hiểu biết nhiều về Kinh Thánh. Ví dụ, Bernard Ramm, trong phần Giải nghĩa Kinh thánh Tin lành, lần đầu nói rằng việc giải nghĩa Kinh thánh không chỉ giới hạn trong giới tinh hoa văn học; nhưng sau đó anh ta tiếp tục nói về trình độ trí tuệ của người giải nghĩa theo cách anh ta tin rằng người giải nghĩa Kinh Thánh cho người khác cần phải có trình độ học vấn nâng cao và kiến ​​thức về các ngôn ngữ gốc.[1]

Chúng ta có thể học hai cở sở lập luận từ quan điểm này:

(1) Có những chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu Kinh thánh,

và chúng ta cần sẵn sàng xem xét những gì họ nói.

(2) Có giá trị trong việc học tập, nghiên cứu các ngôn ngữ gốc trong Kinh thánh và tìm hiểu về các nền văn hóa cổ đại. Đồng thời, chúng ta phải nhớ rằng Kinh Thánh ban đầu được viết bằng ngôn ngữ của dân thường và họ phải hiểu được Kinh Thánh! Phi-e-rơ khi nói về các bức thư của Phao-lô, ông nói rằng “một số điều [trong đó] khó hiểu” (2 Phi-e-rơ 3:15, 16). Lưu ý rằng anh ấy không nói “mọi thứ” hay “hầu hết mọi thứ”, mà chỉ nói “một số điều”. Trên thực tế, hầu hết những gì chúng ta tìm thấy trong Kinh thánh đều tương đối dễ hiểu.[2]

Do đó, chúng ta không được từ bỏ quyền đọc và giải nghĩa Kinh thánh cho chính mình. Ở một mức độ nào đó, quyền đó chính là ý nghĩa của cuộc Cải cách ở thế kỷ thứ mười sáu — chức tế lễ của mỗi tín đồ và quyền của các tín đồ được đọc và giải nghĩa Kinh thánh cho chính họ. Bất cứ ai đọc cũng có thể hiểu được thông điệp cơ bản của Kinh Thánh và cố gắng hiểu nó như bất kỳ cuốn sách nào khác.

Không bắt buộc phải được soi sáng bởi Đức Thánh Linh

Ý nghĩ rằng chúng ta phải trải nghiệm sự soi sáng đặc biệt của Đức Thánh Linh rất phổ biến trong Đạo Tin lành. Ví dụ, khi Ramm đưa ra “trình độ thuộc linh” của người giải nghĩa Kinh Thánh , bao gồm “sự phụ thuộc hoàn toàn vào Đức Thánh Linh để hướng dẫn và dẫn dắt.”[3] Một nguồn khác mô tả niềm tin này như sau:

Về phần mình, Đức Chúa Trời cung cấp cách thức cho sự hiểu biết vâng phục lẽ thật của Ngài: sự soi sáng của Đức Thánh Linh. Một hệ quả tất yếu của việc đòi hỏi đức tin là sự biến đổi của Đức Thánh Linh. Có nghĩa là, khi một người đã hiến dâng cuộc sống của mình trong đức tin đối với Giê-xu là Chúa, thì Kinh thánh nói về công việc mà Đức Chúa Trời thực hiện trong họ. Hoạt động nội tại này cho phép người tin Chúa nhận thức và nắm giữ lẽ thật thuộc linh, một khả năng không có đối với người không tin (xem 1 Cô 2: 6–16; 2 Cô 3: 15–18)[4]

Trong quan điểm này có một yếu tố của sự thật— cụ thể là chúng ta phải tìm kiếm sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời trong việc hiểu biết. Chúng ta nên cầu nguyện để có được sự khôn ngoan (Gia-cơ 1: 5), nhưng lời cầu nguyện không thể thay thế cho nỗ lực thực sự.[5]

Quan điểm này cũng có những yếu tố sai lầm. Ví dụ, nó dựa trên sự hiểu biết sai lầm về hai phân đoạn chính.

Một số người đã khẳng định rằng Giăng 3: 3 (“ nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời”) dạy rằng người chưa được sinh lại thì không thể hiểu được vương quốc của Đức Chúa Trời.[6] Tuyên bố này khó có thể xảy ra vì hai lý do.

(1) Người ta phải hiểu sự thật để được sinh lại. Những người trở thành Cơ đốc nhân trong Công vụ đã nghe Tin lành được rao giảng và hiểu nó trước khi họ trở thành Cơ đốc nhân — nghĩa là trước khi họ được sinh lại (so sánh 1 Phi-e-rơ 1: 22–25).

(2) Để “thấy” vương quốc của Đức Chúa Trời không có trong Giăng 3: 3 có nghĩa là “hiểu” vương quốc. Bối cảnh làm cho điều đó rõ ràng. Giăng 3: 5 là song song, và câu tương đương trong câu đó là “vào”. Do đó, “thấy” có thể tương đương với “vào”. Ý nghĩa này được xác nhận bởi thực tế là từ Hy Lạp được dịch là “thấy” (ei˙selqei√n, eiselthein) có thể có nghĩa là “trải nghiệm”.[7] Để “thấy” vương quốc trong Giăng 3: 3 có nghĩa là “trải nghiệm” nó[8]

Một đoạn Kinh Thánh thứ hai thường bị sử dụng sai trong 1 Cô-rinh-tô 2,  mà một số tuyên bố dạy rằng chỉ những ai được “Đức Thánh Linh soi sáng” mới có thể hiểu được ý muốn của Đức Chúa Trời. Câu quan trọng trong phân đoạn này là câu 14:

“Một người sống theo bản tính tự nhiên sẽ không thể nhận biết những gì thuộc về Ðức Thánh Linh của Ðức Chúa Trời, vì người ấy sẽ cho những điều đó là rồ dại; người ấy không thể biết được những điều đó, vì chúng phải được nhận thức theo cách thuộc linh. BD2011”

Ý nghĩa ở đây tương tự như luận điểm mà Phao-lô đưa ra trong 1 Cô-rinh-tô 1: 18–25: Tin Lành là sự rồ dại đối với những ai tự giới hạn mình trong sự khôn ngoan của mình. Sự dạy dỗ của câu 14 không phải là người không tin thì không thể hiểu biết gì cho đến khi anh ta được Đức Thánh Linh soi sáng, mà là người tự nhiên sẽ không chấp nhận cũng như không đánh giá đầy đủ những lời dạy của Tin lành.[9]

Phao-lô không dạy rằng một người không tin Chúa phải nhận được sự giúp đỡ từ Đức Thánh Linh trước khi anh ta có thể giải nghĩa Kinh Thánh. Quan điểm cho rằng cần phải có sự soi sáng đặc biệt của Thánh Linh để giải nghĩa Kinh Thánh liên quan đến ít nhất ba lập luận trái chiều như sau:

(1)  gợi ý rằng chúng ta không thể được cứu qua việc nghiên cứu Tân Ước. Những người không tin thì không có Đức Thánh Linh; nhưng họ có thể và phải nghe, hiểu và tuân theo Tin lành để được cứu.

(2) cho thấy rằng sự soi dẫn ban đầu của Đức Chúa Trời về Kinh thánh đã bị thiếu sót. Liệu sự soi dẫn của Đức Chúa Trời cho sự giao tiếp của Ngài với loài người theo cách mà loài người cần một loại soi dẫn thứ hai để hiểu được điều đó không?

(3) Nó làm cho Đức Chúa Trời trở thành nguồn gốc của sự chia rẽ. Vì những người tin vào “sự soi sáng” đưa ra những kết luận khác nhau, điều đó khiến Đức Chúa Trời trở thành nguồn gốc của những cách giải nghĩa khác nhau của họ. Kinh Thánh nói rằng Ngài không phải là tác giả của sự nhầm lẫn (1 Cô-rinh-tô 14:33).

Sống một cuộc sống nên thánh là không bắt buộc

Sống một cuộc sống nên thánh thường được coi là một yêu cầu để giải nghĩa tốt Kinh Thánh. Tuy nhiên, trong khi các Cơ đốc nhân được yêu cầu phải sống cuộc sống nên thánh, thì người đó không cần phải là một Cơ đốc nhân trung tín — hoặc, đối với vấn đề đó, thậm chí phải là Cơ đốc nhân — để mà giải nghĩa được Kinh thánh.

Tất nhiên, chúng ta cần phải phân biệt giữa việc hiểu ý nghĩa của Kinh thánh trong bối cảnh ban đầu của nó và việc áp dụng Kinh thánh đó (hoặc áp dụng lời dạy của Kinh thánh, nghĩa là sống theo những gì Kinh thánh dạy và nhận được những lợi ích mà Lời Đức Chúa Trời mang lại). Người ta có thể hiểu Kinh thánh mà không nhận được lợi ích từ những gì được dạy. Anh ta có thể dễ dàng hiểu được ý nghĩa của Kinh Thánh khi nói: “Anh em không được ngoại tình” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:14), nhưng anh ta có thể tiếp tục phạm tội ngoại tình.[10]

Tại sao một đời sống nên thánh thì không yêu cầu trong việc giải nghĩa Kinh Thánh? Tin rằng một đời sống công bình là cần thiết để giải nghĩa Kinh thánh có nghĩa là những người không phải là Cơ đốc nhân hoặc Cơ đốc nhân bất trung không thể thu được lợi ích gì từ việc học Kinh thánh. Họ có thể hiểu được những gì họ cần làm để được cứu. Đức tin đến từ việc nghe “lời của Đấng Christ” (Rô-ma 10:17), và chúng ta được cứu bởi đức tin (Rô-ma 10: 9, 10).

Để có thể lĩnh hội được Kinh Thánh không đòi hỏi một người phải có một đời sống nên thánh, vì Đức Chúa Trời đã nói với nhân loại theo cách chúng ta nói với nhau. Một người không cần phải “tin vào” Shakespeare, hay bất kỳ nhân vật văn học nào khác, để giải nghĩa những gì ông ấy đã viết. Chúng ta có thể đọc một cuốn sách về sự tiến hóa và giải nghĩa nó, mặc dù chúng ta không tin vào sự tiến hóa.

Bản chất ý nghĩa về sự soi dẫn là Đức Chúa Trời đã nói với con người, thông qua con người, sử dụng ngôn ngữ của loài người. Do đó, thông điệp của Kinh Thánh là những từ ngữ có thể được hiểu giống như những từ ngữ có nguồn gốc từ con người được hiểu. Sự khác biệt giữa lời của Kinh Thánh và lời của một văn bản lịch sử không nằm ở sự dễ hiểu của chúng. Đúng hơn, sự khác biệt nằm ở chủ đề, nguồn gốc, khả năng phụ thuộc và tầm quan trọng cuối cùng của mỗi thứ. Chúng ta có thể sử dụng các phương pháp tương tự mà chúng ta đã sử dụng để giải nghĩa văn bản lịch sử khi chúng ta giải nghĩa Kinh thánh. Tại sao? Bởi vì Đức Chúa Trời đã nói với loài người thông qua loài người, sử dụng ngôn ngữ của loài người. Do đó, một người không tin đọc Kinh Thánh với tâm hồn cởi mở sẽ đạt được kết luận giống như một tín đồ sẽ đạt được nếu cả hai chỉ xem xét Kinh Thánh. Tuy nhiên, người không tin Chúa có thể không đánh giá đầy đủ hoặc không nhận ra hết ý nghĩa của Kinh Thánh.

Vậy thì làm thế nào chúng ta nhìn nhận học thuật của những người không tin Chúa mà có liên quan đến Kinh Thánh? Những gì người không tin viết có thể có giá trị, nếu họ nhìn nhận những gì Kinh Thánh nói và ý nghĩa của Kinh Thánh đối với những độc giả đầu tiên.

ĐIỀU GÌ LÀ BẮT BUỘC?

Điều gì là bắt buộc để giải nghĩa Kinh Thánh? Chúng ta sẽ xem xét cả thái độ và kỹ năng.

Cần có thái độ đúng đắn

Chúng ta không thể học bất cứ điều gì nếu không có thái độ đúng đắn về môn học. Một người khó có thể học và áp dụng lẽ thật của Kinh Thánh nếu anh ta thiếu thái độ thích hợp. Những thái độ này là gì? Trong số chín điều được trình bày ở đây, sáu điều đầu là cần thiết để giải nghĩa một đoạn văn trong ngữ cảnh riêng của nó. (Người ta phải có những thái độ tương tự để giải nghĩa một đoạn văn của Shakespeare.) Ba điều cuối cùng là cần thiết nếu Kinh Thánh có tác dụng mong muốn của nó trong đời sống của người đọc.

  1. Háo hức học hỏi.

Chỉ những ai “đói và khát” sự công bình mới được no đủ (Ma-thi-ơ 5: 6). Giống như E-xơ-ra, chúng ta cần đặt lòng mình để “nghiên cứu luật pháp của Chúa và thực hành , cũng như dạy các luật lệ và mạng lệnh của Ngài” (E-xơ-ra 7:10).

  • Kỳ vọng thành công.

Chúng ta nên tin rằng Kinh Thánh có thể hiểu được và hy vọng sẽ hiểu được ( xem Ê-phê-sô 3: 4). Trừ khi chúng ta tin rằng mình có thể giải nghĩa một tác phẩm viết (chẳng hạn như Kinh Thánh), chúng ta sẽ không cần thiết phải đặc nổ lực để làm điều đó.

  • Sự yêu mến Lẽ Thật.

Trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2: 9–12, Phao-lô nói về một số người mà Đức Chúa Trời đã để  cho họ bị “sự lừa dối mạnh mẽ, khiến họ tin điều giả dối”, kết quả là họ sẽ “bị kết án”. Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho những người cá biệt đó sự lừa dối? Phao-lô nói rằng “vì họ đã không nhận-lãnh sự yêu-thương của lẽ thật để được cứu-rỗi.” (VIE1925). Việc thiếu tình yêu lẽ thật có thể bị kết án.

Trên thực tế, bất cứ ai muốn học bất cứ điều gì thì phải yêu sự thật. Hãy tưởng tượng một người tin rằng chì có thể đổi thành vàng: Nếu người đó học một lớp nâng cao về hóa học hoặc kim loại nhưng yêu lý thuyết của mình hơn chân lý được dạy cho người đó, thì người ấy sẽ không học được gì ở lớp đó.

  • Sẵn sàng làm việc.

Chúng ta nên sẵn sàng làm việc siêng năng để hiểu Lời Chúa (xem 2 Ti-mô-thê 2:15; 1 Phi-e-rơ 3:15). Không phải mọi thứ đều dễ hiểu; đôi khi chúng ta phải đào tìm kho báu. Thông thường, mọi người không hiểu Kinh Thánh vì họ chưa cố gắng đủ.

  • không định kiến hoặc in trí trước

Mặc dù hầu như không thể tiếp cận Kinh Thánh mà không có ít nhất một số ý tưởng đã định trước, nhưng chúng ta phải cố gắng hết sức để không thiên vị trong việc học của mình (Công vụ 17:11; Lu-ca 8:15).

Chúng ta cần có một tư duy mở khi đọc Kinh Thánh (hoặc, cho vấn đề đó, khi chúng ta học bất kỳ chủ đề nào). Tư duy khép kín dẫn đến những kết luận thiếu xót. Làm thế nào chúng ta có thể đề phòng việc chỉ nhìn thấy những gì chúng ta muốn thấy khi học Lời Đức Chúa Trời? Một cách luôn luôn là hỏi, sau khi chúng ta đã đi đến kết luận về ý nghĩa của một đoạn văn, “liệu rằng Còn cách nào khác có thể hiểu được điều này không?”

  • Trí tuệ khiêm tốn.

Sự kiêu ngạo có thể đánh lừa người giải nghĩa bằng cách khiến anh ta tìm kiếm những ý tưởng mà chưa ai từng trình bày hoặc giữ chặt những gì anh ta tin tưởng bất kể bằng chứng.

Để tránh kiêu ngạo, chúng ta phải nhớ (1) rằng chúng ta không phải là nguồn gốc của mọi sự khôn ngoan; (2) rằng chúng ta có thể sẽ thay đổi suy nghĩ của mình về việc giải nghĩa nhiều đoạn Kinh Thánh  trong nhiều năm;[11] (3) rằng nếu chúng ta phát hiện ra điều gì đó mà chưa ai tìm thấy, thì điều đó khó có thể là sự thật;

(4) rằng chúng ta sẽ không bao giờ có thể biết tất cả những gì

cần biết về mọi câu hỏi.

  • Tôn trọng Kinh thánh.

Chúng ta phải tôn trọng Kinh Thánh và chấp nhận Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời (1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13; xem thêm 2 Ti-mô-thê 3:16, 17). Nếu không, chúng ta có thể hiểu Kinh thánh, nhưng điều đó sẽ không tạo ra sự khác biệt trong chúng ta.

  • Mong muốn làm theo ý Chúa.

Chúng ta không nghiên cứu (1) đơn giản vì Kinh Thánh là một tác phẩm văn học tuyệt vời, (2) vì tò mò đơn thuần, (3) để chiến thắng lập luận, (4) để tìm lỗi với Kinh thánh, hoặc (5) để biện minh cho bản thân. Đúng hơn, chúng ta học để học và làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Mong muốn của chúng ta là trở thành “người làm theo lời, chứ không chỉ là người nghe” (Gia-cơ 1:22).

9.       Sự phụ thuộc vào Chúa. Theo Gia-cơ 1: 5,[12] chúng ta phải cầu xin Đức Chúa Trời ban cho sự khôn ngoan.

Một số kỹ năng hữu ích

Ngoài những thái độ vừa được liệt kê, chúng ta cần có những kỹ năng nào để giải nghĩa Kinh thánh? Ít nhất bốn điều quan trọng.

  1. Để đọc tốt.[13]

 Quan trọng nhất, chúng ta cần có khả năng đọc và hiểu tốt. Ví dụ, người La Mã bắt đầu bằng một câu (trong KJV, NASB và RSV) dài bảy câu (và dài 127 từ trong NASB). Người đọc phải đến câu 7 để tìm ra bức thư được viết cho ai. Cần phải có kỹ năng đọc tốt để hiểu câu đó.[14] Để làm ví dụ về sự cần thiết phải đọc chính xác, hãy xem Giô-suê 24:15, một phần nói: “Hôm nay hãy chọn cho mình người mà các ngươi sẽ phục sự”. Chúng ta sử dụng câu này để nói rằng chúng ta cần phải lựa chọn giữa việc phụng sự Đức Chúa Trời và phục vụ các vị thần khác; nhưng nếu đọc kỹ câu đó, chúng ta biết rằng Giô-suê đang thách dân chúng chọn những vị thần khác mà họ sẽ phục vụ nếu họ quyết định từ chối phụng sự Đức Chúa Trời. Câu 14 và 15 nói,

“. . . phục vụ Ngài trong sự chân thành và lẽ thật; và cất các thần mà tổ phụ các ngươi đã phục vụ bên kia Sông và trong xứ Ê-díp-tô, và hầu việc Đức Chúa Trời . Nếu các ngươi thấy không đồng ý với việc phụng sự Đức Chúa Trời , hãy chọn cho mình người mà các ngươi sẽ phục vụ ngay hôm nay: cho dù các vị thần mà tổ phụ các ngươi đã phục vụ ở bên kia sông, hay các thần của người A-mô-rít trong vùng đất các ngươi đang sống… ”

Chúng ta cần đọc kỹ đoạn Kinh Thánh .

2.       Để sử dụng lôgic (khả năng lập luận một cách đúng đắn). Chúng ta cần có khả năng suy luận, Để sử dụng lôgic. Có óc tò mò, óc phân tích và tìm kiếm sự hiểu biết một cách hợp lý có thể giúp một người đưa ra kết luận chính xác về ý nghĩa của Kinh Thánh.

Chúng ta cần sử dụng lôgic bởi vì lôgic phụ thuộc vào việc sử dụng ngôn ngữ và đưa ra các lập luận. Mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời không dựa trên cơ sở lôgic thuần túy, nhưng Kinh thánh có sử dụng lôgic. Trong Các Quan Xét 14:18 Sam-sôn sử dụng lôgic để kết luận rằng vợ ông đã tiết lộ bí mật của ông cho người Phi-li-tin. Chúa Giê-su kêu gọi sử dụng lôgic khi Ngài đặt câu hỏi dựa trên các câu chuyện ngụ ngôn của Ngài ( xem Lu-ca 10:36) .[15]

Mặc dù khó định nghĩa, nhưng “lẽ thường” là điều cần thiết. Ví dụ, tuyên bố “thế gian sẽ không thể chứa hết các sách đã chép ” (Giăng 21:25) rõ ràng là một sự cường điệu có chủ ý.[16] Chúng ta có thể chứng minh điều đó không? Không, kết luận vì đó là một vấn đề của lẽ thường.

3.       Biết tiếng Hy Lạp và tiếng Do Thái. Nếu có thể, chúng ta

nên tìm hiểu về các ngôn ngữ mà Kinh thánh ban đầu được viết: tiếng Hy Lạp và tiếng Do Thái. Mặc dù khả năng đọc những ngôn ngữ này không cần thiết để giải nghĩa Kinh thánh chính xác, nhưng những kiến ​​thức đó rất hữu ích.

4.       Để giải nghĩa giữa các nền văn hóa. Chúng ta cần khả năng diễn giải giữa các nền văn hóa: đi vào nền văn hóa khác một cách giàu trí tưởng tượng và có thiện cảm với mục đích tìm hiểu các tài liệu viết về nền văn hóa đó.

Các nhà bình luận về Kinh thánh thường đề cập đến những “khoảng cách” ngăn cách người viết và độc giả đầu tiên với chúng ta – khoảng cách về ngôn ngữ, khoảng cách về thời gian, khoảng cách về địa lý, và khoảng cách về văn hóa và phong tục. Để thu hẹp những khoảng cách đó đòi hỏi khả năng diễn giải giữa các nền văn hóa. Kinh thánh nói với chúng ta từ khắp các nền văn hóa; chúng ta nghe nó từ khắp các nền văn hóa. Lưu ý một số điểm khác biệt giữa các nền văn hóa của thời Kinh Thánh và các nền văn hóa ngày nay:

•        Trong Sách Ru-tơ, một cuộc giao dịch kinh doanh không được hoàn thành bởi hai người ký vào một tờ giấy hoặc thậm chí bằng cách bắt tay, mà bởi một người đưa đôi dép của mình cho người kia (Ru-tơ 4: 7).

•        Trong A-mốt 4: 6, Đức Chúa Trời phán: “ta đã làm cho răng các ngươi nên sạch trong mọi thành các ngươi,” có nghĩa là rằng Đức Chúa Trời đã gây ra nạn đói cho họ. Chúng ta thì muốn có răng sạch ngày hôm nay. Rõ ràng, khi người ta có hàm răng sạch sẽ, nghĩa là họ không có gì để ăn.

•        Việc Chúa Giê-su rửa chân cho các môn đồ của Ngài trong Giăng 13 chỉ có thể được hiểu theo các phong tục thời đó.

Sự cần thiết của việc giải nghĩa giữa các nền văn hóa gợi ý rằng chúng ta nên nghiên cứu các nền văn hóa thời cổ đại để hiểu những gì chúng ta đọc trong Kinh thánh và cố gắng bước vào cuộc sống của con người và sự kiện mà chúng ta đọc theo một cách đồng cảm.

Các công cụ cơ bản của của việc Học Kinh Thánh hữu ích

Các công cụ hữu ích luôn sẵn có để giúp học Kinh Thánh. “Công cụ” là các minh họa thích hợp để sử dụng cho các nguồn tư liệu giúp người đọc Kinh Thánh có thể đưa ra kết luận chính xác về ý nghĩa của một bản văn đối với những độc giả đầu tiên và ý nghĩa của nó đối với người ngày nay. Một người thợ mộc hoặc một người thợ sửa ống nước phải có công cụ để thực hiện công việc của mình; theo cách tương tự, thông dịch viên có một số công cụ nhất định cho phép anh ta thực hiện công việc của mình.

Kinh thánh. Rõ ràng, sách quan trọng nhất để nghiên cứu Kinh Thánh là chính Kinh Thánh.[17] Một người cũng có thể sử dụng Kinh Thánh để nghiên cứu, không chỉ chứa nội dung Kinh Thánh mà còn giúp ích cho việc nghiên cứu khác nhau. Nó có thể có bất kỳ hoặc tất cả những điều sau:

1. Giới thiệu ngắn gọn về mỗi cuốn sách.

2. Các tiêu đề được chèn vào văn bản và / hoặc được tìm thấy ở đầu trang.

3. Ghi chú tham khảo, đề cập đến các đoạn văn khác sử dụng cùng một từ khóa hoặc đề cập đến cùng một chủ đề với đoạn văn đang được đọc.

4. Chú thích cuối trang (hoặc ghi chú bên lề hoặc ghi chú giải nghĩa) có thể cảnh báo người đọc về các biến thể của văn bản và cung cấp thông tin hữu ích khác.

5. Bản đồ.

6. Thánh kinh phù dẫn.

7. Từ điển Kinh thánh.

Khi sử dụng sách nghiên cứu Kinh Thánh, chúng ta phải nhớ rằng văn bản của Kinh Thánh được soi dẫn nhưng sự trợ giúp thì không được soi dẫn. Mặc dù các trợ giúp nghiên cứu có thể được sử dụng đầy đủ, nhưng chúng không được đảm bảo là chính xác. Họ nên được xem xét cẩn thận nhưng không được chấp nhận như thể chúng là Lời của Đức Chúa Trời.

Ngoài phiên bản mà chúng ta thường dùng để nghiên cứu Kinh Thánh, chúng ta nên cố gắng có những phiên bản khác[18] để tham khảo. Các phiên bản khác nhau về giá trị, nhưng việc so sánh chúng sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một đoạn văn. Ví dụ, để biết “tình yêu thương” bao hàm điều gì, như được Phao-lô mô tả trong 1 Cô-rinh-tô 13: 4–7, việc so sánh một số phiên bản khác nhau sẽ làm sáng tỏ.

Các nguồn tài liệu khác cũng có thể hữu ích trong việc hiểu rõ hơn Kinh thánh và thế giới mà chúng được tạo ra. Các bài bình luận thường đặc biệt hữu ích.

Các bài bình luận có ghi chú giải nghĩa về các sách riêng biệt của Kinh Thánh. Mặc dù khuynh hướng tự nhiên của chúng ta có thể ngay lập tức là nhìn vào các sách bình luận khi chúng ta đang cố gắng giải nghĩa Kinh thánh, một cách tốt hơn để nghiên cứu Kinh Thánh là chúng ta nên cố gắng tự mình suy nghĩ qua đoạn văn trước. Cố gắng đạt được một kết luận không bị lệ thuộc trước khi xem xét điều gì từ các nhà bình luận.

Nếu chúng ta thích những gì một bài bình luận nói hơn những kết luận mà chúng ta đã đạt được, chúng ta luôn có thể điều chỉnh suy nghĩ và cách diễn giải của mình. Tuy nhiên, chúng ta sẽ được lợi ích nếu cố gắng đạt được sự hiểu biết của riêng mình.

Các bài bình luận rất khác nhau.

Một số giải kinh, nhấn mạnh ý nghĩa của đoạn văn trong ngữ cảnh riêng của nó; Thực tế hoặc tận tâm, làm sáng tỏ ý nghĩa của văn bản đối với độc giả ngày nay; hoặc tuyên đạo pháp, nhấn mạnh những cách mà người thuyết giáo có thể giảng về đoạn văn. Một số khác là sách  chuyên ngành, được thiết kế cho các học giả, với sự nhấn mạnh về ý nghĩa của đoạn văn trong ngôn ngữ gốc;

Các sách bình luận loại “bình dân”, được thiết kế cho người đọc trung bình; hoặc nữa này nữa kia. Ngoài ra, các bài bình luận có thể theo chủ nghĩa tự do hoặc bảo thủ trong sự định hướng[19] Đôi khi các cuốn sách trình bày ý kiến cá nhân — một số học thuyết hoặc quan điểm nhất định mà tác giả sử dụng mọi cơ hội để truyền đạt.

Vậy một bài bình luận được đánh giá như thế nào?[20] khi bắt đầu sử dụng một bài bình luận hoặc một loạt bài bình luận, chúng ta nên tự làm quen với các tiền giả định và mục đích của tác giả và/ hoặc nguyên loạt bài luận. Một cuốn sách phải được đánh giá bởi những gì nó dự định đạt được; nếu mục tiêu của nó không phù hợp với những gì chúng ta hiểu đoạn văn sẽ dạy, chúng ta không nên sử dụng nó hoặc chỉ sử dụng  “nhẹ ”, suy nghĩ cẩn thận về mọi thứ nó nói. Tiếp theo, vì mục đích chính của chúng ta trong việc giải nghĩa là hiểu đoạn văn trong bối cảnh riêng của nó, chúng ta nên ưu tiên cho những bài bình luận nhấn mạnh đến việc giải kinh. Thứ ba, chúng ta hãy nhớ rằng nhận xét của mọi người về Kinh Thánh có thể hữu ích nhưng không được soi dẫn. Chúng ta nên suy nghĩ chín chắn về những gì chúng ta đọc và không chấp nhận điều gì đó đơn giản chỉ vì chúng ta tìm thấy nó trong một bài bình luận.[21] Coy Roper

Lưu ý từ Tác giả

Phần lớn, hoặc hầu hết, tài liệu trong số này và hai tài liệu sẽ tiếp theo lần đầu tiên được sử dụng trong các lớp học mà tôi đã dạy tại Đại học Heritage Christian, Florence, Alabama, từ năm 1992 đến 2005 — cụ thể là các lớp học trong Giải kinh Thánh, Giới thiệu quan trọng về Cựu ước và Giới thiệu quan trọng về Tân ước. Trong suốt các bài học này, tôi đã viết lại các ghi chú mà tôi đã thực hiện và sử dụng trong các lớp học đó.

Lời Cầu nguyện của tôi là loạt bài học gồm ba phần này sẽ giúp bạn học Kinh Thánh hiệu quả hơn để có thể chia sẻ Lời Đức Chúa Trời với người khác tốt hơn.

          © Bản quyền, 2009 của Truth for Today TẤT CẢ CÁC QUYỀN ĐƯỢC BẢO LƯU


[1] Bernard Ramm, Bản giải nghĩa Kinh thánh Tin lành, phiên bản 3d. ed. (Grand Rapids, Mich: Baker Book House, 1970), 14–16.

[2] Ví dụ, bất kỳ ai cũng có thể dễ dàng hiểu và áp dụng Giăng 14:15.

[3] Ramm, 12–13.

[4] 4William W. Klein, Craig L. Blomberg và Robert L. Hubbard, Jr., Giới thiệu về Giải nghĩa Kinh thánh, phiên bản. và điểm kinh nghiệm. (Nashville: Thomas Nelson Publishers, 2004), 139.

[5] 5 Công bằng mà nói, cả hai nguồn này đều nói rằng không nên dựa vào sự soi sáng của Thánh Linh để thay thế cho nỗ lực siêng năng hoặc sử dụng các phương pháp giải nghĩa thích hợp.

[6] Ramm, 13.

[7]  Đọc Lu-ca 2:26; Công vụ 2:27, 31 (KJV; NIV); 1 Phi-e-rơ 3:10.

[8]  Walter Bauer, Một từ điển tiếng Anh-Hy Lạp của Khối lập phương mới và Văn học Cơ đốc giáo sơ khai khác, ấn bản 3 chiều, phiên bản. và ed. Frederick W. Danker (Chicago: Nhà xuất bản Đại học Chicago, 2000), 279–80; George R. Beasley-Murray, John, tập.36, 2d ed., Word Biblical Com comment (Nashville: Thomas Nelson Publishers, 1999), 48.

[9]   “. . . điều Phao-lô đang nói không phải là những người không tin Chúa không thể hiểu đúng về những điều của Thánh Linh. Họ có thể và làm được, nhưng họ cho rằng sự hiểu biết này của tác giả về ý nghĩa của nó là một ý nghĩa tiêu cực. Họ bác bỏ điều đó là ‘sự ngu ngốc’ ‘(Robert H. Stein, theo Quy tắc: Hướng dẫn Cơ bản để Giải nghĩa Kinh thánh [Grand Rapids, Mich: Baker Books, 1994], 66).

[10] Klein, Blomberg và Hubbard đồng ý: “Chúng tôi không kiêu ngạo khẳng định rằng ai không tin thì không thể hiểu Kinh thánh. Những người không tin, thậm chí cả những người hoài nghi, có thể hiểu được nhiều ý nghĩa của Kinh Thánh . . . . Vì vậy, một học giả có năng lực, dầu không tin vẫn có thể tạo ra một bình luận chuyên môn xuất sắc về một cuốn sách Kinh thánh. . . . Nhưng học giả không tin đó không thể hiểu và miêu tả ý nghĩa thực sự của thông điệp Kinh Thánh. . . ” (Klein, Blomberg và Hubbard, 136).

[11] 11 Anh trai tôi, David Roper, thường nói, khi được hỏi về quan điểm của anh ấy đối với một câu cụ thể hoặc một vấn đề, “Đây là điều tôi tin vào [ví dụ] ngày 20 tháng 7 năm 1975,” rõ ràng là để ngỏ khả năng anh ta có thể nhìn thấy mọi thứ khác thường trong tương lai.

[12] 12Xem thêm Ma-thi-ơ 7: 7–9; 1 Giăng 5:14, 15.

[13] 13 Nghĩa là, chúng ta phải có khả năng đọc thành thạo ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng khi đọc Kinh Thánh.

[14] 14 Các phiên bản của Kinh thánh được đề cập ở đây phản ánh chính xác độ dài của câu tiếng Hy Lạp; các phiên bản khác cố gắng đơn giản hóa tiếng Hy Lạp bằng cách chia câu tiếng Hy Lạp thành nhiều câu tiếng Anh. Ê-phê-sô 1: 3–10 cũng là một câu dài.

[15] 15 Tôn giáo thời Giáo hội là một hệ thống lôgic dựa trên một số “cho được” nhất định, đặc biệt ở chỗ nó dạy rằng nếu một điều là đúng ( như trong Giăng 8:24; 14: 6), một điều khác không thể đúng (xin xem Công vụ 4:12). Ngược lại, Ấn Độ giáo, chẳng hạn, dạy rằng không có cái gì gọi là chân lý độc quyền.

[16] 16 “Cường điệu” là một hình ảnh của lời nói liên quan đến sự phóng đại.

[17]  Xem “Bản dịch nào nên được sử dụng?” trên trang 4 trong “Thông tin bổ sung về các công cụ nghiên cứu Kinh thánh.”

[18]  “Phiên bản” (không phải “diễn giải”) là một bản dịch. (Xem “Nên dùng bản dịch nào?” Ở trang 4 trong phần “Thông tin bổ sung về các công cụ nghiên cứu Kinh thánh.”)

[19] Xem “Hai quan điểm về Kinh thánh được tìm thấy trong các tài liệu viết” ở trang 5 trong “Thông tin bổ sung về các công cụ nghiên cứu Kinh thánh”.

[20] Theo Gordon Fee và Douglas Stuart, câu hỏi quan trọng liên quan đến các bài bình luận là “Bài bình luận này có giúp bạn thực sự hiểu được đoạn kinh thánh nói gì không?” Họ đưa ra bảy tiêu chí để đánh giá các bài bình luận. (Gordon D. Fee và Douglas Stuart, “Đánh giá và sử dụng các bài bình luận,” Cách đọc Kinh thánh cho tất cả giá trị của nó, ấn bản 3 ngày. [Grand Rapids, Mich: Zondervan, 2003], 266–67.)

[21]  được mô tả và khuyến nghị trong “Thông tin bổ sung về các công cụ nghiên cứu Kinh thánh”.

Powered by BetterDocs

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *