NỀN TẢNG VỮNG CHẮC: THẨM QUYỀN CỦA LỜI ĐỨC CHÚA TRỜI

Mục Lục

Tiến Sĩ. Jack Cottrell

Dịch Giả: Đồng T. Quý Hoàng

Lời Giới Thiệu #

Câu hỏi về thẩm quyền Kinh Thánh chắc chắn không hề mới. Từ những thế kỷ đầu tiên của Hội Thánh thì đã có những sự công kích thường xuyên vào tính trung thực của Kinh Thánh, khiến cho việc đề xuất một tín lý căn bản về lời Kinh Thánh là điều cần thiết từ rất lâu. Do đó nội dung trong sách này chẳng hề mới chút nào, hay là có bất cứ sự khám phá mới lạ nào về cách tiếp cận.

Chúng ta dường như đang sống ở một trong những thời kỳ đó, dầu vậy, sự công kích luôn được đổi mới. Thậm chí những vấn đề giống nhau trước đây đã được đối mặt và giải quyết rất nhiều lần, nhưng chúng vẫn được sống lại, đôi khi theo những cách rất tinh vi. Chính vì lý do đó, việc đối mặt với chúng lần nữa là cần thiết và để tuyên bố lại bản chất thẩm quyền của Kinh Thánh cho thời nay.

Cuốn sách này cố gắng nói rõ trường hợp về tính không sai lầm của Kinh Thánh, là điều duy nhất thích hợp để tiếp cận với thẩm quyền của Kinh Thánh. Tuy nhiên nó còn hơn là một cuộc luận chiến. Cũng được bàn luận đến những gợi ý thực tiễn về thẩm quyền của Kinh Thánh cho đức tin và đời sống của môn đồ Đấng Christ.

Phong cách và hình thức phổ thông không nghi ngờ gì sẽ tẻ nhạt đối với các Học Giả khi họ bắt đầu đọc cuốn sách này. Tuy nhiên phong cách và hình thức như vậy là cần thiết đề khiến cho nó gần gũi với nhiều đọc giả nhất có thể.

Bài 1 ĐỨC CHÚA JÊSUS VÀ KINH THÁNH #

Mác 7:9-13; Mathiơ 12:38-42; Luca 24:44-46; Mathiơ 4:1-10

“Miễn sao tôi còn tin vào Đức Chúa Jêsus, thì liệu có còn quan trọng về việc tôi tin gì về Kinh Thánh không?”

Nhiều tín đồ thật thà của Đấng Christ đang hỏi câu hỏi này ngày nay. Một vài người trở nên hoài nghi về tính chất đáng tin cậy hoàn toàn của Kinh Thánh. Một vài người cố gắng né tránh sự tranh luận về Kinh Thánh. Những người khác đơn giản là thờ ơ với những vấn đề tín lý “khô khan” như vậy về bản chất của Kinh Thánh.

Dù lý do là gì, có rất nhiều người muốn phân chia đức tin vào Đức Chúa Jêsus khỏi đức tin vào Kinh Thánh. Chúng ta đã nghe nói, “Đức tin không phải là hướng đến Kinh Thánh nhưng đến Đấng Christ.” Chúng ta tin vào Đấng Christ và đã chấp nhận Ngài là Chúa và Đấng cứu thế của chúng ta, tại sao chúng ta không đơn sơ bước theo Ngài thôi? Việc chúng ta tin gì về Kinh Thánh liệu có còn quan trọng không?

Tuy nhiên, câu hỏi thực sự ở đây là: Nó có quan trọng với Đức Chúa Jêsus không? Đức Chúa Jêsus có thờ ơ với bản chất của Kinh Thánh không? Hay phải chăng điều này là điểm trọng tâm và cốt yếu trong lời dạy của Ngài? Và nếu nó là như vậy, thì Ngài đã dạy gì về Kinh Thánh – nguồn gốc, bản chất, và thẩm quyền của nó? Những câu hỏi quan trọng này phải là điểm khởi đầu trong bài nghiên cứu này về Kinh Thánh.

Quan Điểm Của Đấng Christ Về Kinh Thánh #

Kinh Thánh mà Đức Chúa Jêsus đã sử dụng là Kinh Thánh Cựu Ước của chúng ta. Cách Ngài sử dụng không phải là vô ý tứ hay hiếm khi xảy ra. Cuộc đời và những lời dạy dỗ của Ngài thấm nhuần với Cựu Ước; Ngài thường xuyên nhắc đến nó. Do đó khi chúng ta đọc các Sách Tin Lành, không khó để nhận ra những tín lý của Kinh Thánh Cựu Ước đã được dạy bởi Đức Chúa Jêsus.

Nguồn Gốc Thiêng Liêng Của Kinh Thánh #

Đức Chúa Jêsus thừa nhận tác giả (loài người) của Kinh Thánh Cựu Ước như là Môi-se (Giăng 5:26); Ê-sai (Mathiơ 15:7), và Đavít (Luca 20:42). Nhưng Ngài còn đi xa hơn nữa. Ngài dạy rằng chính Đức Chúa Trời mới là tác giả chính của Kinh Thánh. Thực vậy, Đavít đã viết Thi Thiên 110, nhưng ông viết như vậy bởi Đức Thánh Linh (Mác 12:36). Môi-se ban hành luật pháp (Giăng 7:19), nhưng Đức Chúa Jêsus quy cho những lời của luật pháp là của chính Đức Chúa Trời (Mathiơ 15:3,4, trích Xuất Êdíptô ký 20:12; 21:17). Những lời trong Sáng thế ký 2:24 chính là những lời của Đấng Tạo Hóa (Mathiơ 19:4,5).

Với nguồn gốc thiêng liêng, Kinh Thánh có thể được gọi một cách đúng đắn là “Lời của Đức Chúa Trời”. Đức Chúa Jêsus đã sử dụng chính cách nói này cho một số đoạn Kinh Thánh Cựu Ước cụ thể. Ngài đã buộc tội những người Pha-ri-si về việc thay thế mạng lệnh của Đức Chúa Trời trong luật pháp của Môi-se với những truyền thống của chính họ. Vậy họ mang tội “làm mất hiệu lực lời của Đức Chúa Trời” (Mác 7:13). Nhưng thậm chí không có cách nói cụ thể đó, thì những đoạn Kinh Thánh được trích dẫn trong đoạn trên cũng làm cho nó rõ ràng rằng Đức Chúa Jêsus xem Kinh Thánh Cựu Ước là đến từ Đức Chúa Trời.

Những gì mà Đức Chúa Jêsus đã dạy liên quan đến Cựu Ước thì Ngài cũng hứa về Tân Ước. Vào đêm của bữa ăn cuối cùng, Ngài đã nói với các Sứ Đồ của mình rằng Đức Thánh Linh sẽ giúp đỡ họ khi thời điểm đến để họ trình bày Tin Lành. Đức Thánh Linh sẽ cho họ một trí nhớ không chút sai sót và sự bày tỏ mới (Giăng 14:26). Ngài sẽ dạy họ lẽ thật thiêng liêng, lẽ thật từ chính tâm trí của Đức Chúa Trời (Giăng 16:12-15). Điều này là hợp lý để suy ra rằng sự ban cho này áp dụng cho cả những lời nói và sự ghi chép của họ, sự ghi chép này chính là Tân Ước.

Sự Đáng Tin Cậy Hoàn Hảo Của Kinh Thánh #

Vì Đức Chúa Jêsus xem Kinh Thánh như chính là lời của Đức Chúa Trời, không lấy gì làm ngạc nhiên khi Ngài khẳng định tính đáng tin cậy tuyệt đối của nó. Nếu nó là lời của Đức Chúa Trời, thì nó phải là sự thật: “Lời Cha tức là lẽ thật” (Giăng 17:17).

Sự tuyên bố mạnh mẽ nhất của Đức Chúa Jêsus về sự đáng tin cậy của Kinh Thánh là Giăng 10:35, “Kinh Thánh không thể bỏ được”. Tranh luận với những người Giu-đa về thân phận của chính Ngài, Ngài dùng Thi Thiên 82:6. Ngày xem việc thỉnh cầu đến Kinh Thánh là dấu chấm hết cho sự tranh luận, từ khi Kinh Thánh không thể phá bỏ được: có nghĩa là, Kinh Thánh không thể bị thách thức hay bác bỏ hay từ chối. Kinh Thánh không thể thay đổi và không thể phá hủy được trong lẽ thật của nó. Nó là nền tảng vững chắc.

  • Lịch Sử Không Thể Sai Lầm

Điều quan trọng đáng chú ý rằng Đức Chúa Jêsus thường xuyên khẳng định lịch sử đáng tin cậy của Cựu Ước. Trong lời dạy của Ngài, Ngài đưa ra nhiều dẫn chứng đến những nhân vật và sự kiện lịch sử cụ thể. Nhận định rằng đọc giả của Ngài quen thuộc với những ghi chép này, Ngài chỉ đơn giản đề cập đến họ là sự thật mà không có lần nào gợi ý rằng họ là chuyện huyễn hay không chính xác.

Danh sách của những dẫn chứng như vậy thật sự ấn tượng. Ví dụ, từ thời kỳ luôn bị thử thách trước Abraham, Đức Chúa Jêsus nhắc đến sự tạo dựng của loài người (Mathiơ 19:4,5), Việc giết Abên (Mathiơ 23:35), con tàu của Nô-ê và nước lụt (Mathiơ 24:37-39). Từ thời kỳ các quan xét, Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp được nhắc đến (Mathiơ 8:11); cũng như Lót, sự phá hủy thành Sô-đôm, và ví dụ về vợ của Lót (Luca 28:32). Nhiều dẫn chứng đến thời của Môi-se bao gồm việc treo con rắn bằng đồng lên (Giăng 3:14) và sự ban cho mana (Giăng 6:49). Những sự kiện từ thời các Vua và các tiên tri gồm cả việc ăn bánh trần thiết của Đavít (Mathiơ 12:3,4), chuyến viếng thăm Sôlômôn của nữ hoàng Sêba (Mathiơ 12:42), sự cứu chữa kẻ bị bệnh phung Na-a-man (Luca 4:27), và sự thử thách của Giôna (Mathiơ 12:40).

Những nhân vật Cựu Ước này không chỉ được sử dụng bởi Đức Chúa Jêsus đơn thuần như một người có thể sử dụng chuyện huyễn hay huyền thoại để minh họa những sự thật tuyệt diệu. Hơn thế, sự thật của chúng là thiết yếu với các đại ý và sự tranh luận khác nhau mà Ngài dẫn ra từ chúng. Ví dụ, tính chất lịch sử của sự tạo dựng của A-đam và Ê-va là cơ sở cho lời dạy của Đức Chúa Jêsus về hôn nhân (Mathiơ 19:4-6). Sự kiện Đavít ăn bánh trần thiết là phần cho sự bào chữa của Đức Chúa Jêsus về những hành động của chính Ngài (Mathiơ 12:1-4). Sự ăn năn thực sự của thành Ninive bởi lời giảng dạy của Giôna được trình bày như một chuẩn mực mà bởi đó những người Giuđa không ăn năn sẽ bị đoán xét (Mathiơ 12:41).

Từ những ví dụ này, thì rõ ràng rằng Đức Chúa Jêsus đã phỏng định trước và củng cố sự chính xác của những bản ghi chép lịch sử của Cựu Ước. Cũng vậy, lời hứa của Ngài về trí nhớ không chút sai sót cho các Sứ Đồ của Ngài bảo đảm cho sự đáng tin cậy y như vậy cho Tân Ước (Giăng 14:26).

  • Lời Tiên Tri Không Thể Sai Được

Lời tiên tri là lĩnh vực khác mà Đức Chúa Jêsus đã khẳng định sự đáng tin cậy hoàn toàn của Kinh Thánh. Vì Kinh Thánh không thể bị phá bỏ, không một lời tiên tri nào sẽ không ứng nghiệm. Tất cả những lời tiên tri sẽ được làm trọn (Luca 18:31); thực vậy, chúng phải được làm trọn (Luca 24:44). Một lời tiên tri sẽ không được ban cho nếu như sự làm trọn của nó đã không chắc chắn xảy ra. Hãy xem Mathiơ 26:54; Luca 22:37. Đức Chúa Jêsus đã nói rằng đó là ngu ngốc khi không tin “lời của các đấng tiên tri nói” (Luca 24:25; cũng hãy xem Giăng 5:45-47).

Thẩm Quyền Tuyệt Đối Của Kinh Thánh #

Điểm cuối cùng về quan điểm của Đức Chúa Jêsus về Kinh Thánh đó là Ngài chấp nhận và tán thành thẩm quyền tuyệt đối của nó. Một sự thỉnh cầu tới Kinh Thánh là đủ để kết thúc cuộc tranh luận: “Các ngươi chưa từng nghe” những gì mà viết trong Kinh Thánh ư? (Mathiơ 21:16, 42; Mác 12:26). “Có lời chép rằng” và chỉ thế thôi! (Mathiơ 4:4, 7, 10; Giăng 8:17).

Những vấn đề về đức tin hay tín lý được lập ra bởi việc thỉnh cầu đến Lời đã được viết ra. Ví dụ, Đức Chúa Jêsus đã chứng minh tín lý về sự sống lại của kẻ chết qua việc trích dẫn Xuất Êdíptô 3:6 (Luca 20:37, 38). Ngài đã giải thích bản chất cao quý của Ngài từ Thi Thiên 110:1 (Mathiơ 22:42-45). Ngài đã dạy về nhiệm vụ của chính Ngài từ tất cả các phần của Cựu Ước (Luca 24:25-27, 44-46). Ngài đã nói rằng, những tín lý sai lầm nổi lên khi Kinh Thánh bị hiểu sai (Mathiơ 22:29).

Lời nói cuối cùng này về thẩm quyền của Kinh Thánh áp dụng vào đạo đức hay sự thực hành cũng như tín lý. Đức Chúa Jêsus đã sử dụng Kinh Thánh như là một quy tắc tiêu chuẩn cho sự ăn ở khi đối mặt với cám dỗ (Mathiơ 4:4, 7, 10). Ngài so sánh sự khác nhau giữa hòn đá vững chắc của các mạng lệnh với những truyền thống có thể sai lầm của con người (Mathiơ 15:3). Thậm chí những điều răn nhỏ nhất cũng có thẩm quyền (Mathiơ 5:19; 23:23).

Thỉnh thoảng một vài người quả quyết rằng Đức Chúa Jêsus đã thách thức thẩm quyền của Kinh Thánh ở một vài điểm. Một tác giả nói Cựu Ước “mâu thuẫn hay bị thay đổi bởi Đức Chúa Jêsus” trong Mathiơ 5:21-48. Đây là một lời quả quyết đáng chú ý, đặc biệt vì Đức Chúa Jêsus đã mở đầu sự dạy dỗ của Ngài ở đó bằng việc nói rằng Ngài không đến để phá hủy luật pháp, rằng không một chấm một nét nào sẽ bị bỏ qua cho đến khi ứng nghiệm, và thậm chí điều răn nhỏ nhất là có thẩm quyền (Mathiơ 5:17-19). Ngài đã nói ở một nơi khác rằng “Trời đất qua đi còn dễ hơn một nét chữ trong luật pháp phải bỏ đi” (Luca 16:17).

Đức Chúa Jêsus đang làm gì trong Mathiơ 5:21-48? Điều tương tự mà Ngài đang làm như những lần khác, ấy là, phá hủy những truyền thống sai trái và những sự diễn giải theo Rabi của luật pháp. Hãy xem Mác 7:1-13. Ngài không thách thức chính luật pháp, nhưng cách mà các thầy thông giáo đã dạy dỗ cách áp dụng nó.

Vậy thì quan điểm của Đức Chúa Jêsus về Kinh Thánh là gì? Từ các dữ liệu trên thì phải rõ ràng rằng đối với Ngài, nó là một cuốn sách với nguồn gốc thiêng liêng, sự đáng tin cậy hoàn hảo, và thẩm quyền tuyệt đối.

Quan Điểm Của Chúng Ta Về Đấng Christ #

Khi chúng ta trở thành môn đồ Đấng Christ, chúng ta chấp nhận Đức Chúa Jêsus như là Đấng Cứu Thế của chúng ta. Chúng ta tin Ngài có thể cứu chúng ta từ những hậu quả của tội lỗi. Chúng ta tin lời của Ngài rằng đời sống của Ngài đã phó cho chúng ta như một sự cứu chuộc, vậy nên loại chúng ta ra khỏi tội của chúng ta (Mác 10:45). Chúng ta tin lời của Ngài rằng Ngài đã ban cho chúng ta Đức Thánh Linh để đổi mới tâm linh chúng ta (Giăng 7:37-39). Chúng ta tin lời của Ngài rằng Ngài là sự sống lại và sự sống (Giăng 11:25), và rằng Ngài sẽ trở lại để đưa chúng ta đi cùng Ngài (Giăng 14:3).

Là môn đồ Đấng Christ, chúng ta cũng đầu hàng trước Đức Chúa Jêsus như là Chúa của chúng ta. Chúng ta chấp nhận Ngài như là thẩm quyền cuối cùng trong đời sống của chúng ta (Mathiơ 28:18). Ngài luôn luôn đúng, chúng ta bị buộc làm bất cứ điều gì mà Ngài nói (Luca 6:46-49).

Chắc chắn sự cam kết như vậy với Đức Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế và Chúa đòi hỏi chúng ta chấp nhận lời dạy dỗ của Ngài về mọi đề tài như là lẽ thật và có thẩm quyền. Thực tế, Ngài đã xưng nhận chính là sự hiện thân của lẽ thật (Giăng 14:6; xem Giăng 18:37). Há chúng ta không bị buộc thừa nhận như là lẽ thật trong mọi thứ mà Ngài đã dạy về Kinh Thánh sao?

Các Sự Lựa Chọn #

Xem xét quan điểm đã được ghi chép lại của Đức Chúa Jêsus về Kinh Thánh, những chọn lựa nào dành cho những người không thể hoặc sẽ không chấp nhận nó? Một lựa chọn là đặt nghi vấn về tính chính xác của những bản ghi chép. Một người có thể nói rằng, “Các bản ghi chép tin lành đơn giản là không chính xác. Đức Chúa Jêsus đã không thật sự nói những điều này về Kinh Thánh.”

Tuy nhiên, cách tiếp cận này có một vài ẩn ý rất nghiêm trọng. Nếu những bản ghi chép là sai ở những điểm này, thì làm thế nào mà chúng ta có thể chắc chắn là chúng đúng ở những điểm khác? Nếu như những câu nói của Đức Chúa Jêsus về Kinh Thánh được ghi chép lại không chính xác, thì về những lời dạy dỗ của Ngài về sự cứu rỗi và sự công bình thì sao? Về sự ghi chép về các phép lạ, sự chết và sự sống lại của Ngài thì sao? Quả thật, một người có thể tùy ý chấp nhận những phần nào đó của bản ghi chép và từ chối những cái khác. Nhưng nếu một người chọn lựa cách giải quyết này, thì hãy để người đó biết rõ về những gì mà mình đang làm: người đó lập chính mình làm Chúa, và dựng nên một quan điểm về Đức Chúa Jêsus mà chỉ đơn giản ưng thuận với những sự ưa thích theo ý của người đó.

Nhưng còn có một lựa chọn khác. Một người có thể nói rằng, “Những bản ghi chép là chính xác. Đức Chúa Jêsus thực sự đã dạy quan điểm này về Kinh Thánh. Tuy nhiên, nó là không chính xác.” Vậy một người không đồng ý với Đức Chúa Jêsus có thể giải thích cho bất đồng quan điểm của mình theo cả hai cách này. Thứ nhất, người đó có thể nói là Đức Chúa Jêsus điều tiết chính mình Ngài theo cách nhìn phổ biến của thời bấy giờ, mặc dù chính Ngài không tin vào điều đó. Nếu quả thật là như vậy thì Đức Chúa Jêsus sẽ là một kẻ lừa gạt. Thứ hai, người bất đồng quan điểm có thể nói rằng Đức Chúa Jêsus đã sai lầm. Nếu quả thật như vậy, thì Đức Chúa Jêsus cũng chỉ con người có thể phạm sai lầm và bị lừa gạt khác mà thôi – khó làm Đấng Cứu Thế và Chúa như đã được miêu tả lúc đầu. Dù là trong trường hợp nào, thì liệu rằng những gì mà Đức Chúa Jêsus dạy về Kinh Thánh là không chính xác phải không, làm sao chúng ta có thể tin bất cứ điều gì khác mà Ngài đã nói? Vậy thì thực sự Ngài là ai? Cho dù Ngài có thể là ai, thì Ngài chắc chắn sẽ là một Đấng Cứu Thế bất lực và một vị Chúa không đáng tin cậy. Nhưng chúng ta tin rằng tất cả những gì Ngài nói là lẽ thật và tất cả những gì Ngài đã làm là đúng. Ngài là Đấng Cứu Thế đầy đủ và Chúa đầy quyền lực.

Sự Kiên Định Của Đạo Đấng Christ #

Chúng ta không thể lẩn tránh câu hỏi về bản chất của Kinh Thánh. Chúng ta không thể thờ ơ với nó khi biết về mối quan tâm của Đức Chúa Jêsus đến vấn đề này. Chúng ta không thể bỏ nó ra khỏi xu thế của sự cam kết làm môn đồ Đấng Christ của chúng ta, từ khi quan điểm của chúng ta về Kinh Thánh là không thể thoát khỏi bị trói buộc với quan điểm của chính Đấng Christ.

Sự chọn lựa vững chắc duy nhất còn lại và sự chọn lựa duy nhất đó là kiên định với sự giao phó trọn vẹn cho Đức Chúa Jêsus như là Đấng Cứu Thế và Chúa, là chấp nhận quan điểm của Ngài về Kinh Thánh như là lẽ thật duy nhất.

Bài 2

Mục Đích Của Kinh Thánh

Rôma 1:18-21; Phục truyền luật lệ ký 5:22; Giêrêmi 36:1-8; Hêbơrơ 1:1-2; Êphêsô 3:1-5

Tại sao ngay từ đầu lại có một thứ như Kinh Thánh? Tại sao nó lại ở đây? Mục đích của nó là gì?

Để trả lời những thắc mắc này chúng ta phải đối mặt với một vài hoặc thậm chí là các câu hỏi cơ bản hơn: tại sao lại có một thứ như là vũ trụ, bao gồm cả trái đất? Tại sao chính loài người lại tồn tại? Tại sao chúng ta ở đây? Mục đích của chúng ta là gì?

Để diễn đạt câu hỏi theo những thuật ngữ của Kinh Thánh, thì tại sao Đức Chúa Trời tạo dựng con người? Câu trả lời là Ngài đã mong muốn tạo nên một vật thọ tạo theo ảnh tượng của chính Ngài, người có thể yêu mến và hầu việc Ngài, với người đó Ngài có thể có được mối giao hảo cá nhân mãi mãi. Chính trái đất phải là sân khấu cho mối quan hệ thân thiết này.

Sáng thế ký 3:8 cho chúng ta một manh mối về mục đích này. Theo dấu A-đam và Ê-va bắt đầu phạm lỗi, “Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Ðức Chúa Trời đi ngang qua vườn.” Nhưng bởi vì bây giờ họ đã bị ảnh hưởng bởi sự có tội, nên họ đã “ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Ðức Chúa Trời.” Ngụ ý ở đây là Đức Chúa Trời đã ở cùng với họ theo cách này trước đây, vì họ nhận ra được những dấu hiệu của sự hiện diện của Ngài. Nó cũng chỉ ra rằng họ đã từng chào đón các chuyến viếng thăm của Ngài, sự ẩn trốn của họ giờ đây bị thúc đẩy bởi sự xấu hổ mà tội lỗi mang lại cho chính họ.

Khó cho chúng ta để hình dung được niềm vui sướng mà phải được chia sẻ bởi Đấng Tạo Hóa và vật thọ tạo giống như hình ảnh Ngài trong những thời khắc trò chuyện mặt đối mặt này. Đây không phải là hoạt động duy nhất của A-đam và Ê-va, vì họ đã được ban cho các nhiệm vụ rõ ràng để làm và những thứ khác để tập trung vào (Sáng thế ký 1:28; 2:15). Nhưng chắc chắn đây là sự kiện cao trào trong ngày, khi Đức Chúa Trời trực tiếp đến với họ, và họ chia sẽ đời sống của mình với Ngài trong sự thánh sạch hồn nhiên và vui vẻ.

Khó để tưởng tượng hơn hình thức trực tiếp nào của sự bày tỏ mà hơn cả cách Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính Ngài cho A-đam và Ê-va ở trong vườn. Chúng ta không nên nghĩ rằng Đức Chúa Trời đang hiện ra với họ ở dạng bản chất thuộc linh thuần khiết[1] của Ngài (Xuất Ê-díp-tô ký 33:20). Tuy nhiên, nó là sự hiện thân rõ ràng nhất trong các sự hiện-thân (theophany) của Đức Chúa Trời hay các sự xuất hiện thiêng liêng. Chính Đức Chúa Trời hiện diện, có thể là trong hình hài con người, bước đi và nói chuyện với những người được tạo dựng theo ảnh tượng thuộc linh của chính Ngài. Lúc đó Kinh Thánh không cần thiết phải có.

Tuy nhiên, sự xuất hiện của tội lỗi đã kết thúc sự mật thiết này. Một hệ thống hoàn toàn mới của các tình huống chiếm ưu thế. Tội lỗi phá vỡ mối thông giao giữa Đức Chúa Trời với con người, đưa sự có tội và sự bại hoại vào trong thế gian này, và đặt loài người vào con đường đi đến sự chết và sự chia cắt đời đời với Đức Chúa Trời. Buồn thay nhưng là cần thiết khi Đức Chúa Trời đã rút lại sự hiện diện trực tiếp của Ngài từ trong vòng các vật thọ tạo của Ngài. Hãy xem Ê-sai 59:1-2.

Nhưng Đức Chúa Trời đã nhìn thấy trước được tình huống này của các sự việc, và đã chuẩn bị đưa vào thực hiện một kế hoạch mà sẽ khôi phục lại mối quan hệ hoàn toàn. Được bao gồm trong kế hoạch này là sự viết ra Kinh Thánh.

Nhu Cầu Cho Sự Bày Tỏ #

Nhu cầu trước tiên và cơ bản được tạo ra bởi tội lỗi là nhu cầu cho sự cứu chuộc. Loài người phải được cứu chuộc khỏi tình trạng và các hậu quả của tội lỗi của mình. Loài người phải được giải cứu và được phục hồi. Mặc dù kế hoạch của sự cứu chuộc đã hình thành trong tâm trí của Đức Chúa Trời trước khi sáng thế (Mathiơ 25:34; 1 Phierơ 1:18-20), nhưng nó chỉ có thể được làm trọn trong khuôn khổ của chính lịch sử mà thôi.

Kế hoạch của Đức Chúa Trời bao gồm một chuỗi dài của các sự kiện lịch sử, bắt đầu bằng lời kêu gọi Áp-ra-ham đến thành lập một dân tộc mà sẽ là bối cảnh của toàn bộ các sự kiện cứu chuộc trong tương lai. Những điều này bao gồm sự phát triển của dân Y-sơ-ra-ên trong lòng nước Ê-díp-tô, những sự lao động khổ cực của Sách Xuất Êdíptô ký và những việc lưu lạc trong đồng vắng, và sự ra đời của một dân tộc trong vùng đất Ca-na-an. Trong mười thế kỷ tiếp theo, làm việc qua các quan xét, các vua, và các đấng tiên tri, Đức Chúa Trời tiếp tục lập nên môi trường cho việc làm cuối cùng và quyết định trong chương trình cứu chuộc: sự sống, sự chết và sự sống lại của sự hiện-thân bằng xác thịt của Đấng Christ.

Thêm vào sự cần thiết này cho sự cứu chuộc là điều thứ yếu nhưng lại là sự cần thiết quan trọng cho sự bày tỏ. Mặc dù Đức Chúa Trời không còn hiện diện trực tiếp trên đất nữa, nhưng vẫn cần thiết cho Ngài để giao tiếp với dân sự của Ngài theo một vài cách khác nhau. Các hành động cứu chuộc vĩ đại của Đức Chúa Trời (ví dụ, những điều liên quan đến sự rời đi khỏi xứ Êdíptô, hay sự sống lại của Đức Chúa Jêsus) bày tỏ quyền năng và bổn tánh của Ngài với mức độ nào đó, nhưng mục đích của chúng là sự cứu chuộc, không phải sự bày tỏ. Chính các sự kiện này cần điều gì đó phải được thêm vào, tức là sự bày tỏ.

Tại sao lại có sự cần thiết cho sự bày tỏ? Theo một nghĩa chung chung thì chúng ta có thể nói rằng Đức Chúa Trời đơn giản muốn giữ những đường dây của sự giao tiếp được mở giữa chính Ngài và dân sự của Ngài. Ngài muốn để chúng ta biết rằng Ngài vẫn yêu thương chúng ta mặc cho tội lỗi của chúng ta, rằng Ngài đang làm việc để giải quyết vấn đề đó, và rằng sự cứu rỗi thực sự đang có sẵn cho chúng ta nếu chúng ta nhận lấy nó.

Cũng vậy, nói chung thì sự bày tỏ là cần thiết để Đức Chúa Trời có thể giữ trước chúng ta lẽ thật về; chính Ngài và chính chúng ta. Nó cũng cần thiết để bày tỏ cho chúng ta bản chất của một đời sống tin kính (2 Timôthê 3:16-17).

Dù vậy, nói một cách đặc biệt hơn, thì chúng ta nên nói là sự bày tỏ được cần đến để giải thích sự cứu chuộc mà Đức Chúa Trời đã thực thi trong lịch sử. Sự cứu chuộc thực ra có thể được làm trọn mà không cần có sự bày tỏ, nhưng vậy thì làm thế nào mà chúng ta hiểu được sự cứu chuộc là gì? Làm sao chúng ta biết được làm thế nào để nhận lấy sự cứu chuộc cho chính chúng ta và dự phần vào những ích lợi của nó? Ví dụ, liệu chúng ta có thể hình dung sự đến của Đức Chúa Jêsus như là sự hiện thân của Con của Đức Chúa Trời, chết cho tội lỗi của chúng ta, việc ra khỏi ngôi mộ, và sự trở về với Đức Cha mà không có một lời giải thích nào không?

Rõ ràng rằng không có sự giải thích được bày tỏ của các sự kiện cứu chuộc, thì toàn bộ công việc sẽ là vô ích. Nó sẽ vẫn là một chuyện mầu nhiệm mãi mãi bị che giấu trong Đức Chúa Trời (hãy xem Êphêsô 3:1-11). Tuy nhiên, với sự bày tỏ, chúng ta có thể biết được những gì mà Đức Chúa Trời đã làm để cứu chúng ta, và chúng ta có thể biết được làm thế nào để nhận lấy nó (1 Côrinhtô 15:1-4; 2 Timôthê 3:15).

Nhu Cầu Cho Sự Bày Tỏ Bằng Lời #

Cũng cần thiết cho sự bày tỏ này được ban cho chúng ta dưới dạng lời nói. Dĩ nhiên, một vài sự bày tỏ có thể thực thi mà không cần lời nói, như là sự hiểu biết về Đức Chúa Trời đến với chúng ta qua thiên nhiên (Thi Thiên 19:1-6; Rôma 1:18-21). Bởi vì tội lỗi của chúng ta, tuy nhiên, chúng ta vẫn có khuynh hướng phớt lờ nó hay bóp méo nó (Rôma 1:21-32). Bên cạnh đó, sự bày tỏ chung chung này (như thường được gọi) không nói với chúng ta về sự cứu chuộc. Thực tế, nó không thể làm như vậy, vì sự cứu chuộc chỉ có thể được hiểu qua sự giao tiếp thông tin, tức là, chỉ qua sự bày tỏ bằng lời nói.

Lời nói là dạng tự nhiên nhất của sự giao tiếp đối với những loài thông minh, đặc biệt là khi một người không nhìn thấy được người khác. Qua việc sử dụng lời nói, các ý tưởng và các khái niệm được chuyển đổi từ tâm trí người này qua người khác.

Đây chính xác là những gì được đòi hỏi khi điều gì đó phải được giải thích, đặc biệt là khi nó uyên thâm như kế hoạch của sự cứu rỗi. Các dấu hiệu, các cử chỉ, các hành động tượng trưng (thậm chí “các hành động vĩ đại của Đức Chúa Trời,” chính là các hành động cứu chuộc) không giải thích gì cả. Thực tế, chính chúng là những điều cần phải được giải thích, và sự giải thích là một chức năng được thực hiện qua lời nói.

Chuyện gì xảy ra khi có hành động mà không có sự giải thích? Một là chúng ta không biết về ý nghĩa của nó, hai là chúng ta lập nên các ý kiến chủ quan của chính chúng ta như thể áp đặt ý nghĩa cho nó là như vậy. Hành động càng mạnh mẽ và phức tạp, thì chúng ta càng phó mặc cho sự chủ quan của chính chúng ta.

Edith Schaeffer miêu tả điều này một cách hoàn hảo qua một dịp tình cờ liên quan đến bộ phim “Hàm Cá Mập – Jaws” đang chiếu trên máy bay. Cô ấy đã từ chối dùng tai nghe nghe phát âm thanh của phim, với hy vọng làm một vài công việc với giấy tờ. Tuy nhiên, đôi khi những tiếng kêu la từ những hành khách khác khiến cho cô liếc nhìn vào màn hình, nơi mà cô ấy nhìn – mà không có lời nói nào đi kèm – những cảnh như là mọi người đang chạy trên bãi biển, một người nào đó đang quẫy nước, và một người nào đó trong bệnh viện. Cô ấy bình luận rằng, “Thật là một câu chuyện vớ vẩn mà tôi sẽ nói về bộ phim nếu như tôi chỉ phụ thuộc vào những ấn tượng mà mắt của tôi cho tôi thấy, mà không có kèm lời nào!” Không có “sự giải thích bằng lời”, cô nói, chúng ta thường giải nghĩa sai những gì mà chúng ta nhìn thấy và đi đến một kết luận sai lầm.

Hai điều rõ ràng là: chúng ta cần một sự giao tiếp bằng lời nói từ Đức Chúa Trời, và chúng ta, sau tất cả, là những tạo vật khôn ngoan đã quen với việc sử dụng ngôn ngữ. Xét hai điều này, nói đúng hơn là không thể hiểu được nếu Đức Chúa Trời sẽ chọn không sử dụng lời nói hay cách nói chuyện trong việc bày tỏ chính Ngài, ý muốn của Ngài, và bản chất của sự cứu rỗi của Ngài.

Sự thật là Đức Chúa Trời đã phán (Hêbơrơ 1:1-3). Đây là chứng cứ phong phú của Kinh Thánh. Sự trình bày “Vậy Chúa phán” hay từ tương đương của nó diễn ra gần hai ngàn lần chỉ trong Cựu Ước. “Lời của Chúa” đến qua các đấng tiên tri (xem 1 Các Vua 16:1; Ô-suê 1:1). Đức Chúa Trời đã bảo Giêrêmi rằng, “Nầy, ta đã đặt những lời ta trong miệng ngươi” (Giêrêmi 1:9). Kinh Thánh được gọi là “lời phán của Đức Chúa Trời” (Rôma 3:2). Đức Chúa Jêsus bày tỏ rằng chúng ta phải sống nhờ “mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời.” (Mathiơ 4:4). Những dẫn chứng và ví dụ như vậy có thể được tăng lên rất nhiều.

Tại sao lại quan trọng để nhấn mạnh điểm này? Bởi vì một trong những quan điểm chung nổi bật về sự bày tỏ ngày nay là Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài qua “các việc làm vĩ đại” của Ngài, nhưng không bao giờ qua lời nói hay những lời tuyên bố. Nhiều Hội Thánh loài người tự do giữ quan điểm này. Ý tưởng của họ không đơn giản chỉ là Đức Chúa Trời không có phán, mà còn là Ngài không thể phán trong ngôn ngữ của chúng ta.

Quan điểm này không được căn cứ trên Kinh Thánh hay bằng chứng của bất cứ thứ nào, nhưng chỉ trên một sự phỏng định trước không thể chứng minh được về bản chất của Đức Chúa Trời và mối quan hệ của Ngài với lịch sử. Nó cho rằng sự khác nhau giữa Đức Chúa Trời và loài người quá lớn đến nỗi ngôn ngữ trong mối quan hệ, trói buộc với truyền thống của chúng ta không thể chứa đựng hay diễn đạt những khái niệm thiêng liêng. Ý tưởng rằng Đức Chúa Trời đối với con người cũng như là con người đối với lũ chuột hay côn trùng. Thậm chí Einstein không thể giải thích được thuyết tương đối cho loài kiến. Thì cũng vậy, Đức Chúa Trời không thể rút gọn suy nghĩ của Ngài xuống mức ngôn ngữ loài người, theo như những sự suy đoán của các Hội Thánh loài người này.

Sự chống đối này với sự bày tỏ bằng lời nói là sai lầm. Ít nhất, hai hướng lập luận khiến điều này rõ ràng.

Trước tiên, quả thật là Đức Chúa Trời khác với loài người. Nhưng chính sự khác biệt này cho phép Đức Chúa Trời nói với chúng ta mặc cho những khác biệt của chúng ta. Chúng ta không thể bàn luận các khái niệm triết học với côn trùng bởi vì chúng ta bị hạn chế, có giới hạn. Nhưng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời biết mọi sự, toàn năng, vô hạn. Hãy để Chúng ta không nên cố gắng gán những giới hạn của chúng ta lên Ngài.

Thứ hai, sự bày tỏ bằng lời nói là thích hợp và có hiệu quả bởi vì chúng ta được tạo từ ảnh tượng của Đức Chúa Trời (Sáng thế ký 1:26, 27) và vì vậy thích nghi một cách tự nhiên để giao tiếp với Ngài. Ví như, máy thu của chúng ta đã được điều chỉnh sẵn trong tầm phủ sóng của Đức Chúa Trời rồi. Ngài tạo chúng ta cho chính mục đích của việc gần gũi và giao tiếp với Ngài.

Vậy Đức Chúa Trời có thể nói chuyện với chúng ta, bày tỏ những điều mà chúng ta cần biết về sự cứu chuộc của chúng ta; và chúng ta là những người mang ảnh tượng của Ngài có thể hiểu được những lời nói của Ngài.

Nhu Cầu Cho Sự Ghi Chép Sự Bày Tỏ #

Kế hoạch cứu chuộc của Đức Chúa Trời gồm có một đòi hỏi xa hơn nữa liên quan đến sự bày tỏ; nó phải là ở dạng ghi chép. Dĩ nhiên, không phải mọi lời của sự bày tỏ đều được ghi lại, nhưng hầu hết đều được chép lại. Chính Đức Chúa Trời lập gương mẫu bằng cách viết xuống mười điều răn trên các bảng bằng đá với chính “ngón tay” của Ngài (Xuất Êdíptô ký 31:18), thậm chí là sau khi Ngài đã nói chúng rõ ràng (Phục truyền luật lệ ký 5:22). Môi-se đã viết xuống phần còn lại của luật pháp theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời (Xuất Êdíptô ký 24:4; 34:27).

Khi Đức Chúa Trời sai các đấng tiên tri đi, Ngài sai họ không chỉ để rao giảng mà còn để viết nữa. Ngài nói với Giêrêmi rằng, “Hãy chép mọi lời ta đã phán cùng ngươi vào trong sách” (Giêrêmi 30:2; xem 36:2). Liên quan đến sách tin lành của ông, Luca đã được soi dẫn bởi Đức Thánh Linh để nói rằng, “tôi cũng tưởng nên theo thứ tự viết mà tỏ ra cho ông” (Luca 1:3). Khi Chúa đang chuẩn bị để Giăng nhận lấy sự bày tỏ của Ngài, Ngài đã ra lệnh cho ông rằng, “Điều ngươi thấy, hãy chép vào một quyển sách” (Khải Huyền 1:11, 19).

Tại sao lại phù hợp và cần thiết cho sự bày tỏ được viết xuống? Có một vài cách lý giải. Thứ nhất, điều này đưa nó vào dạng lâu bền để nó sẵn có cho các thế hệ đời sau cũng như những người ngay lập tức nhận lấy nó. Các việc làm cứu chuộc là các sự kiện xảy ra một lần; chúng phải được ghi chép lại và được giải thích cho mọi thời đại. Chính bản thân sự bày tỏ, từ khi nó được ban cho những người cụ thể trong các trường hợp lịch sử cụ thể, phải được đưa vào dạng mà sẵn có để dùng được lâu dài. Cựu Ước đã được chép xuống vẫn còn tồn tại, bởi sự thiết kế của Đức Chúa Trời, có lợi cho các môn đồ Đấng Christ (Rôma 4:22-25; 1 Côrinhtô 10:11); và tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ, được bảo tồn dưới dạng văn bản, vẫn đem đến cho mọi người đức tin và sự sống đời đời (Giăng 20:30, 31).

Lý do thứ hai cho việc bảo tồn sự bày tỏ bằng văn bản là bởi vì cách đó mà nó trở thành một tiêu chuẩn khách quan, có thể sử dụng được cho tất cả theo cùng một hình thức và cùng một cách. Sự bày tỏ được viết xuống làm mất tác dụng của tất cả sự thỉnh cầu đến sự trải nghiệm chủ quan: những tiếng nói từ bên trong, “những sự bày tỏ” cá nhân, những quan điểm trực giác, các sự hiện thấy, và những sự cảm nhận. Tất cả các hiện tượng như vậy mang tính cá nhân cao và vốn rất mơ hồ. Nguồn lẽ thật chắc chắn duy nhất là lời khách quan của Kinh Thánh. Điều này được bảo đảm bởi cách mà Đấng Christ và các tác giả Tân Ước thường xuyên thỉnh cầu các lời của Cựu Ước rằng: “Có lời được chép rằng…có lời được chép rằng… có lời được chép rằng.” (Ví dụ, xem Mathiơ 4:10; Rôma 1:17).

Vẫn có lý do khác mà tại sao sự bày tỏ của Đức Chúa Trời lại được đưa vào dạng viết đó là điều này làm cho nó một sự kết thúc chắc chắn mà phù hợp với thẩm quyền tuyệt đối của nó. Khi một luật pháp hay một sự đoán xét hay một lời tiên tri được viết xuống, điều đó khiến cho nó là cuối cùng, và không thay đổi và vững chắc. Nó nên được làm như vậy, nó sẽ làm như vậy, nó phải được làm như vậy. Đức Chúa Trời đã viết mười điều răn vào bảng đá tượng trưng cho tính chất không thay đổi này. Cũng hãy xem Phục truyền luật lệ ký 27:2-3,8: Giô-suê 8:32. Ngài ra lệnh cho các sự phán xét của Ngài được viết xuống như là một chứng cứ đời đời và cảnh báo về sự công bình của Ngài (Xuất Êdíptô ký 17:14; Ê-sai 30:8). Khi đã được viết xuống, lời của Ngài phải không được thay đổi (Khải Huyền 22:18, 19). Nó là dứt khoát và tuyệt đối, cho đến tận một chấm và nét nhỏ nhất (Mathiơ 5:17, 18).

Chúng ta phải không được quên rằng mục đích ưu tiên của Đức Chúa Trời là sự cứu chuộc: Ngài đang làm việc để phục hồi chúng ta lại với mối thông công riêng tư với chính Ngài. Dù vậy, một phần cần thiết của kế hoạch cứu chuộc của Ngài là sự bày tỏ bằng lời nói được làm sẵn có ở dạng viết. Điều này đã được ban cho. Đó là Kinh Thánh. “Hãy tìm trong sách Ðức Giê-hô-va và đọc lấy” (Ê-sai 34:16).

Bài 3

Sự Hà Hơi Của Kinh Thánh

1 Phierơ 1:10-12; 2 Phierơ 1:19-21; 2 Timôthê 3:14-17; Giăng 14:26; 16:12-15

Kinh Thánh là sự giao tiếp của Đức Chúa Trời với loài người. Sự giao tiếp cơ bản liên quan đến các tư tưởng. Nó là sự truyền đạt của một ý tưởng hay khái niệm từ tâm trí của một người sang tâm trí của người khác. Vậy Kinh Thánh là cách của Đức Chúa Trời để truyền đạt các khái niệm nào đó từ tâm trí của Ngài đến tâm trí chúng ta.

Sự giao tiếp thường xuyên được hoàn tất bằng cách các dấu hiệu như là hình ảnh, cử chỉ hay lời nói. Vì lời nói có tính linh hoạt và độ chính xác tuyệt vời nhất, nên hầu hết các sự giao tiếp đều có dạng này. Điều này bao gồm cả Kinh Thánh.

Sự giao tiếp tốt là điều không dễ dàng. Nếu như một người có một ý tưởng mà người đó muốn nói với người nào đó, người đó phải thật cẩn thận để chọn lựa chỉ những ngôn từ thích hợp, những lời mà miêu tả rõ ràng nhất ý tưởng trong tâm trí của mình. Những lời này cũng phải là những lời mà mình muốn người nghe có thể hiểu được, những lời mà có ý nghĩa tương tự đối với người nghe cũng như là với người nói. Dĩ nhiên, điều này không có vấn đề gì với một Đức Chúa Trời đầy khôn ngoan.

Tuy nhiên, có một nhân tố khác nữa mà có thể làm phức tạp quá trình giao tiếp một cách đáng kể. Chuyện gì xảy ra nếu như người nói mong muốn truyền thông điệp của mình đi, bằng bên thứ ba? Làm thế nào mà người đó có thể chắc chắn người nói thay mình sẽ nhớ và trình bày thông điệp của mình theo đúng nguyên văn của nó? Vấn đề này được miêu tả rõ bằng trò chơi tham gia được gọi là “tam sao thất bổn”. Với những người chơi ngồi thành một vòng tròn, một người thì thầm một câu ngắn vào người kế bên mình, kế đến người đó sẽ thì thầm nói với người kế bên như mình đã được nghe, và tiếp tục như vậy. Người cuối cùng nghe câu nói, sẽ nói nó lớn tiếng, và nó hầu như khác biệt rất nhiều với phiên bản gốc. Nó trở nên lẫn lộn một cách vô vọng trong quá trình chuyển đổi.

Vì Đức Chúa Trời đã chọn để giao tiếp với chúng ta qua những người phát ngôn hay các đấng tiên tri. Ngài đã phải đối diện với vấn đề này. Khi Đức Chúa Trời bày tỏ thông điệp của Ngài đến các đấng tiên tri, Ngài biết những từ thích hợp nào sẽ được sử dụng. Nhưng làm sao mà Ngài chắc chắn được các đấng tiên tri sẽ truyền thông điệp đó đi như là họ đã nhận được? Đây là lúc mà sự hà hơi xuất hiện. Sự hà hơi là thuật ngữ được sử dụng để chỉ đến sự giám sát siêu nhiên đặc biệt được thực hiện bởi Đức Chúa Trời trên những người truyền tin của Ngài để đảm bảo rằng họ nói lời nhắn của Ngài một cách chính xác. Vậy những người đã viết Kinh Thánh được hà hơi hay được giám sát; vì vậy chúng ta có thể yên tâm đảm bảo rằng nó là những gì mà Đức Chúa Trời định cho các tác giả để nói. Đây là lý do tại sao mà sự hà hơi lại rất quan trọng. Bởi vì có sự hà hơi, mà chúng ta biết rằng khi chúng ta đang đọc Kinh Thánh thì tức là chúng ta đang đọc chính Lời của Đức Chúa Trời.

Sự Thật Về Sự Hà Hơi #

Kinh Thánh dạy rõ ràng rằng nó được hà hơi. Dù cho là chính từ hà hơi lại hiếm khi xuất hiện, nhưng sự thật là chính Đức Chúa Trời đang nói qua các tác giả Kinh Thánh vẫn thường được khẳng định.

Mathiơ 1:22 lập nên kiểu mẫu quen thuộc này. Chỉ đến lời tiên tri trong Ê-sai 7:14, nó nói rằng các lời thực sự được phán ra bởi Chúa, nhưng được nói qua đấng tiên tri như là công cụ của Chúa. Cũng hãy xem Mathiơ 2:15; Hêbơrơ 4:7; Luca 1:70 nói rằng Đức Chúa Trời “phán bởi miệng của các đấng tiên tri thánh của Ngài từ xa xưa.” Cũng hãy xem Công vụ 3:18; 4:25.

Đức Thánh Linh xuất hiện đóng vai trò chính trong sự hình thành của Kinh Thánh qua các đấng tiên tri và các Sứ Đồ. Nêhêmi 9:30 sử dụng cùng công thức xuất hiện sau này trong Tân Ước rằng: “cậy Thần linh qua các tiên tri của Chúa.” Đavít quy cho công của Đức Thánh Linh cho thông điệp mà ông nói rằng: “Thần của Ðức Giê-hô-va đã cậy miệng ta mà phán, Và lời của Ngài ở nơi lưỡi miệng ta” (2 Samuên 23:2). Kinh Thánh Tân Ước khẳng định điều này: “lời Đức Thánh Linh đã nhờ miệng vua Đa-vít mà nói tiên tri trong Kinh Thánh về tên Giu-đa” (Công vụ 1:16).

Phaolô nói rằng, “Đức Thánh Linh đã phán phải lắm, khi Ngài dùng đấng tiên tri Ê-sai mà phán cùng tổ phụ các ngươi” về sự cứng lòng của dân Giuđa (Công vụ 28:25). Cả Đavít và Giăng đều “được Đức Thánh Linh cảm hóa” khi họ viết (Mathiơ 22:43; Khải Huyền 1:10). Phierơ nói rằng đó là “Đức Thánh Linh của Đấng Christ” đang làm việc trong các đấng tiên tri, Đấng chịu trách nhiệm cho đa số các lời tiên tri về Đức Chúa Jêsus (1 Phierơ 1:10, 11).

Sự trưng dẫn ấn tượng nhất về vai trò của Đức Thánh Linh trong sự hà hơi là 2 Phierơ 1:20, 21, nói rằng, “Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong Kinh Thánh lấy ý riêng giải nghĩa được. Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời.” Nghĩa là, các đấng tiên tri không đưa ra các sự giải nghĩa của chính họ về các công việc của Đức Chúa Trời. “Lời tiên tri” (câu 19) không chỉ là kết quả của sự nghiên cứu của con người; nó không phải là sản phẩm tư duy của các tác giả. Thay vào đó, như họ đã nói, chúng được nói ra bởi Đức Thánh Linh. Đây chính là nghĩa đen của từ “cảm động” trong câu 21.

Chúng ta cũng phải nhớ rằng Đức Chúa Jêsus đã hứa với các Sứ Đồ rằng Đức Thánh Linh sẽ dẫn dắt họ trong việc bày tỏ lẽ thật (Giăng 14:26; 16:12-15). Vậy Phierơ nói rằng họ đã giảng tin lành “bởi Đức Thánh Linh từ trên trời sai xuống (1 Phierơ 1:12; xem Êphêsô 3:5). Phaolô biết rằng Đức Thánh Linh đang chỉ dẫn ông trong việc viết của mình (1 Côrinhtô 7:40; 1 Timôthê 4:1).

Lời khẳng định kinh điển của sự hà hơi của Kinh Thánh là 2 Timôthê 3:16, “Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn.” Các từ “bởi Đức Chúa Trời soi dẫn” được dịch ra từ một từ Hy Lạp duy nhất, theopneustos, có nghĩa đen là “được hà hơi bởi Đức Chúa Trời,” hay “Đức Chúa Trời đã hà hơi.” Nguồn gốc thiêng liêng của lời được chép không thể nào được chứng thực một cách rõ hơn nữa.

Phạm Vi Của Sự Hà Hơi #

Giờ thì sự thật về sự hà hơi đã được giải thích, một vài câu hỏi khác phải được đưa ra. Một câu có liên quan tới phạm vi của sự hà hơi. Chính xác là điều gì được hà hơi? Chúng ta trả lời trước tiên rằng các người truyền tin của Đức Chúa Trời được hà hơi. Sức mạnh siêu nhiên được sử dụng trên chính họ. 2 Phierơ 1:21 nói rằng các đấng tiên tri được cảm động bởi Đức Thánh Linh. Theo nghĩa này, thì sự hà hơi là tác động siêu nhiên lên các người được chọn, khiến cho họ có thể truyền lời nhắn của Đức Chúa Trời chính xác như Ngài đã muốn nó được hoàn thành.

Nhưng chúng ta phải đi sâu hơn. Sự hà hơi không chỉ dành cho những người truyền tin. Chính thông điệp của họ cũng được hà hơi; theo Kinh Thánh thì nó được soi dẫn bởi Đức Chúa Trời (2 Timôthê 3:16). Theo nghĩa này, thì sự hà hơi là một đặc tính được truyền vào sự ghi chép như là một kết quả của sự tác động trên tác giả. (Điều này là quan trọng để lưu ý đến, bởi vì một vài nhà phê bình Kinh Thánh muốn nói rằng các tác giả đã được hà hơi, nhưng điều này không có khiến cho sự ghi chép của họ trở nên đặc biệt. Dù vậy, để nói được điều này thì một người phải từ chối Kinh Thánh.)

Một sự giới hạn nên được lưu ý. Sự hà hơi chỉ áp dụng cho văn bản gốc của các sách của Kinh Thánh, như được viết trên các nguyên bản viết tay mà đến trực tiếp từ chính tay của các tác giả. Những cái này được gọi là “bản thảo viết tay.”

Một điểm quan trọng khác liên quan đến phạm vi của sự hà hơi đó là toàn bộ Kinh Thánh đều được hà hơi. Mọi phần của nó đều được viết ra dưới sự chỉ dẫn thánh của Đức Thánh Linh. Vậy sự hà hơi là “trọn vẹn” hay toàn bộ.

Điều này có nghĩa là Tân Ước cũng như Cựu Ước đều được hà hơi. Phaolô nói rằng cả Kinh Thánh được Đức Chúa Trời soi dẫn (2 Timôthê 3:16). Từ Kinh Thánh không chỉ được giới hạn dành cho Cựu Ước. Trong 1 Timôthê 5:18, Phaolô nêu ra hai trích dẫn. Một từ Phục truyền luật lệ ký 25:4; hai là từ Mathiơ 10:10 (và Luca 10:7). Ông nói rằng cả hai đều là Kinh Thánh. Phierơ viết về các lá thư của Phaolô và phần còn lại của Kinh Thánh (2 Phierơ 3:15, 16), vậy ông đang đặt sự ghi chép của Phaolô vào trong danh sách của Kinh Thánh. Các đấng tiên tri và các Sứ Đồ được coi như giống nhau như là những người phát ngôn của Đức Chúa Trời (1 Phierơ 1:10-12; 2 Phierơ 3:2).

Để nói rằng toàn bộ Kinh Thánh được hà hơi cũng có nghĩa là mọi loại ghi chép thuộc Kinh Thánh đều mang đặc tính của sự hà hơi. Điều này áp dụng cho các phần mang tính chất lịch sử cũng như tín lý và giảng dạy. Một vài người cố gắng tạo một sự phân biệt ở đây và giới hạn tác động thiêng liêng chỉ tới phần sau. Tuy nhiên không có căn cứ khách quan nào cho sự giới hạn này. Đức Chúa Jêsus đã quở trách những người không tin vào tất cả những gì mà các đấng tiên tri nói (Luca 24:25). Chính Ngài cũng trích dẫn với sự thoải mái và tự tin như vậy với cả phần lịch sử và nội dung thần học của Cựu Ước. (Xem bài 1). Phaolô làm chứng rằng ông tin mọi thứ được viết trong luật pháp và các đấng tiên tri (Công vụ 24:14).

Một điểm cuối liên quan đến phạm vi của sự hà hơi đó là các sự ảnh hưởng thiêng liêng không chỉ dành cho các ý tưởng được truyền đạt mà còn cho chính các từ ngữ được truyền nữa. Không có sự bao gồm này, thì toàn bộ mục đích của sự hà hơi đều thất bại, vì chìa khóa cho sự truyền đạt chính xác các tư tưởng là sự chọn lựa của các từ ngữ rõ ràng và thích hợp. Như Clark Pinnock đã nói rằng, “Nếu sự hà hơi không liên quan gì với từ ngữ, thì nó sẽ không còn quan trọng nữa.”

Phao-lô miêu tả tầm quan trọng của từng từ ngữ của Kinh Thánh khi ông nhấn mạnh dạng số ít của từ “dòng dõi” trong Sáng thế ký 22:18 (Galati 3:16). Chính Đức Chúa Jêsus nói rằng mọi từ đều quan trọng (Mathiơ 4:4), và thậm chí các chữ và các phần của chữ có thể được xem là có thẩm quyền (Mathiơ 5:18). Thậm chí nếu lời tuyên bố sau là quá cường điệu cho sự nhấn mạnh, thì nó dùng để nhấn mạnh sự thật là sự quan tâm của Đức Chúa Trời tới sự chính xác của Kinh Thánh là bao gồm mọi thứ.

Cách thức của sự hà hơi #

Một câu hỏi mà thường xuyên nảy sinh trong khái niệm này là cách thức của sự hà hơi: chính xác là làm thế nào mà Đức Thánh Linh tác động lên các tác giả của Kinh Thánh? Kinh Thánh cho rất ít thông tin về điểm này. Chúng ta phải nhớ rằng mục đích của Đức Chúa Trời trong sự hà hơi là để làm cho chắc chắn rằng những người phát ngôn của Ngài truyền đạt chính xác lời nhắn mà Ngài mong muốn. Bởi vì sự truyền đạt liên quan đến nhiều dạng khác nhau của các lời nhắn, hết thảy từ các lời bày tỏ mới cho đến dữ liệu lịch sử được cá nhân chứng kiến, hành động thiêng liêng không nghi ngờ gì sẽ mạnh mẽ hơn tại thời điểm này so với lúc khác.

Liên quan đến tài liệu lịch sử có sẵn một cách thông dụng  hay các cảm nhận và trải nghiệm cá nhân, Đức Thánh Linh cần thực hiện chỉ một loại của sự giám sát chung chung. Ví dụ, Luca nói rằng ông đã làm một cuộc nghiên cứu lịch sử lớn trước khi viết sách tin lành của ông (Luca 1:1-4). Đức Thánh Linh chỉ cần bảo đảm rằng Ngài đã tiết lộ tất cả các sự kiện được cần đến cho sách tin lành cụ thể này và đảm bảo rằng ông đã truyền đạt chúng một cách chính xác. Điều tương tự cũng áp dụng cho sách Công Vụ Các Sứ Đồ, ngoại trừ là Luca đã thật sự có mặt trong đa số các sự kiện mà ông miêu tả trong sách. Xem một đoạn dài bắt đầu từ Công vụ 20:5. Trong những trường hợp như vậy, Đức Thánh Linh chỉ đơn giản gợi lại ký ức của ông và đảm bảo độ chính xác của nó.

Dù vậy, trong các trường hợp khác, sự tham gia tích cực hơn bởi Đức Thánh Linh là cần thiết. Ví dụ, các đấng tiên tri thường được ban khả năng để nói ra những lời tiên tri mà họ đã không hiểu được (1 Phierơ 1:10, 11). Như Đức Chúa Trời đã nói với Môi-se rằng, “Ta… sẽ cùng miệng ngươi, và dạy người phải nói điều chi” (Xuất Êdíptô ký 4:12; xem Mathiơ 10:19-20).

Các nhà phê bình Kinh Thánh thường xuyên buộc tội các người tin Kinh Thánh về việc dạy rằng Kinh Thánh là sản phẩm của “sự sai khiến một cách máy móc,” và rằng các tác giả chỉ là những cổ máy mà Đức Thánh Linh sử dụng như các máy ghi âm. Các nhà phê bình chế giễu một quan điểm như vậy và bóp méo khái niệm về sự hà hơi.

Một sự giải thích như vậy không chỉ là sự sai lầm; mà nó còn rất không công bằng và vô trách nhiệm. Không có nhiều người tin Kinh Thánh có “một thuyết sai khiến” như vậy về sự hà hơi. Thậm chí trong những trường hợp mà các tác giả Kinh Thánh phụ thuộc nhất vào Đức Thánh Linh, thì họ không ở trạng thái bị động, vô ý thức. Các tà giáo, cổ xưa và hiện đại, có rất nhiều nhà tiên tri tôn giáo hay pháp sư người mà phát ngôn cho “thần” trong một trạng thái hôn mê hay tình trạng bị chiếm hữu. Tuy nhiên không có tí dấu vết nào của dạng này liên quan đến các tác giả Kinh Thánh. Họ có ý thức về việc làm của họ, nhân cách tự nhiên trọn vẹn của họ vẫn hiện hữu; họ nói và viết theo ngôn từ và phong cách văn chương của mình.

J.W. McGarvey đưa ra điểm này:

“Đó là gần với sự thật để so sánh toàn bộ công việc của Đức Thánh Linh với việc cưỡi một con ngựa đã được huấn luyện kỹ. Bạn kéo dây cương qua bên trái hay bên phải khi bạn thấy rằng con ngựa cần được chỉ dẫn; bạn kiểm tra nó khi nó chạy quá nhanh, hay thúc nó tiến lên khi nó chạy quá chậm; nhưng nó thường xuyên ở trên đường và giữ dáng đi được mong muốn và tốc độ theo ý thích của chính nó; tay bạn vẫn nắm dây cương, và sự thúc ép trên hàm thiếc ngựa được cảm nhận thường xuyên, để bạn có thể kiểm soát các bước di chuyển của con ngựa khi nó đang hầu như chạy theo ý muốn của nó. Thực ra, con ngựa đang chạy theo chính ý muốn của nó mọi lúc, dầu vậy nó chưa bao giờ không có sự kiểm soát của người cưỡi.”

Chúng ta không nên quan tâm đến nếu như chúng ta không thể miêu tả được một cách chi tiết cách thức của sự hà hơi. Sau tất cả, mặt quan trọng của nó không phải là bản chất của quá trình, nhưng mà là bản chất của sản phẩm. Dù Đức Thánh Linh sử dụng hình thức của sự giám sát nào, thì chúng ta được đảm bảo rằng nó đem đến lời nhắn mà Đức Chúa Trời mong muốn. Đó mới là điều quan trọng.

Kết quả của sự hà hơi #

Kết quả của sự hà hơi là gì? Kinh Thánh được hà hơi là dạng sách gì? Nó là Lời của chính Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nắm quyền kiểm soát hoàn toàn của quá trình hình thành nó; những gì được viết xuống là những gì mà Ngài muốn được viết xuống; vậy hoàn toàn thích hợp để gọi nó là Lời của Đức Chúa Trời.

Phaolô biết sự khác biệt giữa lời của con người và lời của Đức Chúa Trời. Ông đã nói với người Têsalônica rằng, “Bởi vậy, chúng tôi tạ ơn Đức Chúa Trời không thôi về sự anh em tiếp nhận lời của Đức Chúa Trời mà chúng tôi đã truyền cho, không coi như lời của loài người, bèn coi như lời của Đức Chúa Trời, vì thật là lời Đức Chúa Trời, cũng hành động trong anh em có lòng tin” (1 Têsalônica 2:13). Vậy Phaolô biết thông điệp của chính ông là lời của Đức Chúa Trời, cũng như ông biết Cựu Ước cũng là “lời sấm truyền” hay lời của Đức Chúa Trời (Rôma 3:2). Giêrêmi biết các sự ghi chép của ông là lời của Đức Chúa Trời (Giêrêmi 36:2). Như chúng ta đã nhìn thấy, Đức Chúa Jêsus chỉ đến Cựu Ước là lời của Đức Chúa Trời (Mathiơ 15:6).

Một vài người phản đối việc gọi Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời, nói rằng chỉ có mình Đức Chúa Jêsus mới xứng đáng cho danh hiệu này. Chắc chắn Đức Chúa Jêsus được gọi là Ngôi Lời của Đức Chúa Trời (Giăng 1:1; Khải Huyền 19:13). Nhưng chính trong Tân Ước, sự diễn đạt “lời của Đức Chúa Trời” được sử dụng thường xuyên hơn nhiều cho lời nhắn được nói hay viết ra hơn là cho Đức Chúa Jêsus. Một vài ví dụ để xem xét như Công vụ 4:31; 6:2, 7; 8:14; 11:1; 13:5, 7, 44, 46; 17:13; 18:11.

Để chỉ đến Kinh Thánh như là lời của Đức Chúa Trời không hề tước đi vinh hiển của Đức Chúa Jêsus như là Ngôi Lời hóa thân, hằng sống. Cũng giống vậy, để gọi Đức Chúa Jêsus là lời của Đức Chúa Trời không khiến cho Kinh Thánh chỉ là lời ở mức thứ hai, nhưng theo các nghĩa khác. Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời theo nghĩa là các lời của nó có nguồn gốc từ chính trong tâm trí của Đức Chúa Trời. Như J. I. Packer nói rằng, “khi chúng ta nghe hay đọc Kinh Thánh, thì chúng tác động đến tâm trí của chúng ta (dù chúng ta có nhận ra hay không) là lời nói của chính Đức Chúa Trời.”

Một điểm xa hơn phải được đưa ra. Vì Kinh Thánh là sự hà hơi của Đức Chúa Trời và vì vậy nó chính là lời của Đức Chúa Trời, làm sao mà chúng ta có thể chống lại kết luận rằng nó là hoàn toàn chính xác, là lẽ thật, và không có sai lầm? Làm sao mà chúng ta có thể từ chối tính không thể sai lầm của Kinh Thánh? Đây là chủ đề của chương tiếp theo.

Bài 4

Tính Chất Không Sai Lầm Của Kinh Thánh

Giăng 10:30-39; 17:14-19; 20:30-31

Một trong những vấn đề cốt yếu và được tranh cãi nhiều nhất mà Hội Thánh ngày nay đang đối diện là bản chất của Kinh Thánh. Trọng tâm của cuộc bàn luận là câu hỏi về tính chất không sai lầm. Có phải mọi điều mà Kinh Thánh tuyên bố là không sai lầm? Qua việc xem xét những gì mà chúng ta nhìn thấy cho đến giờ trong bài học này, thì câu trả lời phải là “đúng”. Đây là quan điểm duy nhất phù hợp với lời dạy của Kinh Thánh và sự cam kết của môn đồ Đấng Christ.

Tính Chất Không Sai Lầm: Lời dạy của Kinh Thánh #

Cụm từ không sai lầm có nghĩa là gì? Nó có nghĩa là “không có sai sót, nhầm lẫn, sự mâu thuẫn, hay sự lừa dối.” Nó có nghĩa là “sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, chính xác, không thể sai được.” Để nói rằng Kinh Thánh là không thể sai lầm được có nghĩa là nó tuyệt đối là sự thật và đáng tin cậy trong mọi điều mà nó khẳng định, nó hoàn toàn không có sai sót.

Tính không thể sai lầm không chỉ là một lý thuyết về Kinh Thánh hay về một khái niệm triết học xa lạ với Kinh Thánh, như một vài nhà phê bình nói. Tín lý về tính không thể sai lầm của Kinh Thánh được ăn sâu một cách chắc chắn vào sự dạy dỗ của chính Kinh Thánh, nơi mà nó được ngụ ý và khẳng định.

Lời tuyên bố rằng Kinh Thánh dạy dỗ không sai lầm còn hơn là một sự suy luận đơn thuần. Nó thật ra là một tam đoạn luận, là một dạng tranh luận mà trong đó kết luận là nhất thiết chính xác nếu như cả hai tiền đề đều đúng, như trong ví dụ cơ bản sau: “Tất cả loài người đều không bất tử (tiền đề chính); Socrates là một con người (tiền đề phụ); vì vậy Socrates cũng không bất tử (kết luận tất yếu).

Trong cuộc tranh luận liên quan đến tính không thể sai lầm, tiền đề chính là “Mọi lời của Đức Chúa Trời là thật (không thể sai lầm).” Điều này có thể được suy ra một các chính xác từ chính bản chất của Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời không thể nói dối (Tít 1:2). Nhưng nó cũng được khẳng định một cách đặc biệt. Đức Chúa Jêsus đã nói với Đức Cha rằng, “Lời Cha tức là lẽ thật” (Giăng 17:17). Lời của Ngài được gọi là “lời của lẽ thật” (2 Côrinhtô 6:7; Côlôse 1:5; 2 Timôthê 2:15; Giacơ 1:18).

Tiền đề phụ của sự tranh luận là “Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời.” Tiền đề này cũng được lập ra bởi cả sự suy luận và sự khẳng định trực tiếp. Nó là sự suy luận hợp lý và cần thiết từ sự thật về sự hà hơi. Tất cả Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời hà hơi (2 Timôthê 3:16), có nghĩa là chính Đức Chúa Trời là căn nguyên và nguồn gốc của nó. Nó là Lời của Ngài, Lời của Đức Chúa Trời. Dù vậy, để thêm vào sự suy luận này là sự khẳng định trực tiếp. Kinh Thánh được gọi là “Lời của Đức Chúa Trời” trong Mathiơ 15:6 (xem Mác 7:13), Rôma 9:6; và Thi Thiên 119:105. Thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa, Kinh Thánh được gọi là “lời phán của Đức Chúa Trời” (tức là, những lời mà Đức Chúa Trời đã nói) trong Rôma 3:2, nơi mà thuật ngữ chỉ đến toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước, và trong Hêbơrơ 5:12, nơi nó bao gồm cả sự bày tỏ Tân Ước nữa.

Vì cả hai tiền đề chính và phụ đều đúng, nên kết luận theo sau hiển nhiên hợp lý. Mọi lời của Đức Chúa Trời là lẽ thật (không thể sai lầm được); Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời; vậy Kinh Thánh là không thể sai lầm được. Điều này chỉ có thể bị từ chối bởi việc chối bỏ một hoặc cả hai tiền đề. Thậm chí nếu một người khước từ sự tranh luận vững chắc này, thì vẫn có điểm khác mà phải đối mặt. Đó là Kinh Thánh không thể sai lầm không chỉ là kết luận tất yếu của một tam đoạn luận ấn tượng; mà nó cũng được dạy trực tiếp trong Lời của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Jêsus đặc biệt tuyên bố rằng, “Kinh Thánh không thể bỏ được” (Giăng 10:35). Bất cứ điều gì được viết trong Kinh Thánh đều là lẽ thật tuyệt đối; Kinh Thánh có thẩm quyền không thể phá bỏ được. Câu nói này của Đức Chúa Jêsus là nền tảng vững chắc cho tín lý không thể sai lầm của Kinh Thánh.

Chứng cứ mà Kinh Thánh dạy về tính không thể sai lầm có thể được tổng hợp lại như sau:

A. Tiền đề chính: “Mọi lời của Đức Chúa Trời là lẽ thật (không thể sai lầm được).”

1. Suy luận ra từ bản chất của Đức Chúa Trời

2. Sự khẳng định trực tiếp của Kinh Thánh

B. Tiền đề phụ: “Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời.”

1. Suy luận ra từ sự thật về sự hà hơi

2. Sự khẳng định trực tiếp của Kinh Thánh

C. Kết luận: “Kinh Thánh là lẽ thật (không thể sai lầm được).”

1. Điều tất yếu hợp lý từ A và B

2. Sự khẳng định trực tiếp từ Kinh Thánh

Chúng ta không nên ngạc nhiên về kết luận này, vì chính mục đích của sự hà hơi bảo đảm cho tính chính xác của sự truyền đạt mà Đức Chúa Trời dành cho con người qua những người phát ngôn của Ngài. Đây chính là mục đích và là lý do căn bản của sự hà hơi; đây là lý do tại sao mà Đức Chúa Trời hà hơi các tác giả ngay từ ban đầu.

Tại sao tính không thể sai lầm của Kinh Thánh là một điểm cốt yếu như vậy? Nếu Kinh Thánh không quan trọng gì hơn các sách khác, thì nó sẽ không thành vấn đề. Nhu cầu cho sự chính xác trong bất cứ sách nào đều có liên quan trực tiếp đến sự quan trọng của sách đó. Những tấm thiệp du lịch có thể có các lỗi sai về sự thật, và ít người tin vào nó. Nếu một tấm bản đồ chỉ đường đi là sai, thì nó có thể là một điều bất tiện nhưng không phải là chí tử. Nói cách khác, các sự nhầm lẫn trong các sự liên lạc quân đội và trong các mệnh lệnh quyết định có thể trả giá rất đắt theo phương diện về mạng sống và sự tự do.

Nhưng lời nhắn quan trọng nhất hơn tất cả chính là lời nhắn mà Đức Chúa Trời đang nói với chúng ta qua Kinh Thánh. Nó là một vấn đề về sống và chết, thực ra, là sự sống đời đời và sự chết đời đời. Những điều này “đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống” (Giăng 20:31). Đây là một lời nhắn quan trọng đến nỗi Đức Chúa Trời đã không tin tưởng giao nó cho những trí nhớ và sự hiểu biết có thể sai lầm. Ngài đã giám sát sự truyền đạt của nó để nó đến với chúng ta mà không có sai sót.

Tính Chất không sai lầm: những sự khước từ thời Nay #

Mặc cho sự dạy dỗ vững chắc của Kinh Thánh về tính chất không sai lầm, nhưng nó vẫn có rất nhiều kẻ thù, thậm chí là ở giữa những người mà có một đức tin chung vào sự đáng tin cậy của Kinh Thánh. Sách của Harold Linsell, Cuộc chiến cho Kinh Thánh, đã gây sự chú ý đến sự thật này cho phong trào cải chánh bảo thủ nói chung. Thậm chí giữa những người cống hiến vào sự phục hồi của đạo Đấng Christ theo Tân Ước, đang gia tăng số người dường như nghi ngờ hay từ chối rằng Kinh Thánh là không có sai sót.

Như mong đợi, sự từ chối là rõ ràng hơn giữa những nhóm tự do hơn. Ralph Wilburn là một nhà thần học cho hội Các môn đồ của Đấng Christ. Trong cuốn tái thiết thần học, ông nói rằng Hội các môn đồ bây giờ xem Kinh Thánh như là “nhân chứng lịch sử” hơn là một cuốn sách không thể sai lầm được.

Cũng trong các Hội Thánh của Đấng Christ (thường xuyên được xem là rất bảo thủ), thì có những ý kiến chống nghịch lại tính không thể sai lầm này. Một ví dụ là bài viết của Leroy Garrett, “Sự hà hơi của Kinh Thánh” trong Đánh Giá Sự phục hưng vào tháng 10, 1975. Trong khi từ chối bất cứ “sai sót thực tế” hay “các sai sót vật chất,” thì ông Garrett cho phép Kinh Thánh có những sự sai sót.

Nhiều tín đồ Đấng Christ và nhiều Hội Thánh có mặt trong nhóm mà J. D. Murch gọi là “người có quan điểm ôn hòa.” Họ tìm cách tránh cả chủ nghĩa tự do của các môn đồ liên minh với Ralph Wilburn, và các hành động cực đoan của các Hội Thánh liên minh với Leroy Garrett. Ở nhóm này cũng vậy, một vài tác giả xem thường tín lý tính không thể sai lầm, gọi nó là một tín lý không thích hợp hay không quan trọng. Ví dụ, H. E. Johnson viết cho biên tập viên của Tiêu chuẩn môn đồ Đấng Christ rằng thuyết về tính không thể sai lầm không được dạy dỗ trong Kinh Thánh và nên được bỏ đi.

Tính Chất không sai lầm: có giới hạn hay không giới hạn #

Nhiều người nghĩ rằng họ tìm thấy được những lỗi sai trong Kinh Thánh, tuy nhiên lại không muốn loại bỏ tính không thể sai lầm hoàn toàn. Họ thích chấp nhận những gì được gọi là “tính không thể sai lầm có giới hạn” hay “tính không thể sai lầm cục bộ”. Daniel Fuller là một người trình bày nổi tiếng về quan điểm này. Ông giải thích nó trong một bài viết “Bản chất của tính không thể sai lầm của Kinh Thánh,” trong Journal of the American Scientific Affiliation (tháng 6, 1972). Ở đây ông nói rằng tính không thể sai lầm chỉ áp dụng trên những điều mà rơi vào chủ đích của các tác giả, đó là “để trình bày về những việc đã xảy ra và ý nghĩa của các việc làm cứu chuộc của Đức Chúa Trời trong lịch sử để loài người có thể được hiểu rõ về sự cứu rỗi” (trang 47). Ông nói rằng, đây là những lẽ thật được bày tỏ, chúng được hà hơi bằng lời nói và không thể sai lầm được.

Tuy nhiên, Fuller nói rằng Kinh Thánh chứa đựng những câu nói ngẫu nhiên về “những vấn đề không được bày tỏ” như là địa chất học, thực vật học và địa lý học. Trong khi Đức Thánh Linh khiến cho các tác giả có thể sử dụng tốt nhất tài liệu như vậy, thì Ngài đã không quan tâm đến tính không thể sai lầm trong lĩnh vực này, theo ý kiến của Fuller.

Dạng giống như vậy của “tính không thể sai lầm cục bộ” này cũng được tán thành bởi nhiều người khác. William Robinson bênh vực khái niệm về “sự không thể sai lầm với sự giới hạn” trong Tín lý Kinh Thánh về Hội Thánh. Leroy Garrett nói rằng ông chấp nhận tính không thể sai lầm “trong những điều mang tính cốt yếu cho mục đích chính của Kinh Thánh.” H. E. Johnson chấp nhận ý tưởng về tính không thể sai lầm có giới hạn, nói rằng “sự không thể sai lầm của Kinh Thánh chỉ dành cho Tin lành của Đức Chúa Jêsus Christ.”

Một vài người cảm thấy không thoải mái với thuật ngữ không thể sai lầm đề nghị chúng ta sử dụng thuật ngữ khác, như là sự đáng tin cậy. Một tác giả nói rằng ông chấp nhận Kinh Thánh như là “chính xác, đáng tin cậy và là sự thật,” nhưng không nghĩ rằng tín lý về tính không thể sai lầm là hữu dụng hay thích hợp. Đây là một sự phân biệt sai lầm giữa các thuật ngữ. Bất cứ thứ gì mà chính xác, đáng tin cậy và là sự thật đều là không thể sai lầm được. Nếu nó sai ở bất cứ điểm nào hay với một mức độ nào đi nữa, thì nó là không chính xác hay không đáng tin cậy. Khi một người nói Kinh Thánh là đáng tin cậy và là sự thật, ngoại trừ những nơi mà có lỗi sai xảy ra, thì người đó thật sự đang xác nhận tính không thể sai lầm mang tính cục bộ hay có giới hạn.

Dù hình thức của nó là gì, tín lý về tính không thể sai lầm mang tính cục bộ là không thể chấp nhận được. Điều này là đúng với ba lý do.

Thứ nhất, tuyệt đối không có cơ sở Kinh Thánh nào cho một sự phân biệt giữa những gì được hà hơi và không thể sai lầm với những gì không được hà hơi và có khả năng bị sai sót. Đó là thích hợp để phân biệt giữa những gì được bày tỏ và những gì không được bày tỏ. Trong mục sau cùng là dữ liệu lịch sử không được khám phá qua sự nghiên cứu hay được biết bởi sự trải nghiệm cá nhân. Nhưng nó là sai khi nói rằng các vấn đề không được bày tỏ như vậy là không được hà hơi và vì vậy có thể có sai sót. Đức Chúa Jêsus đặc biệt hứa rằng Đức Thánh Linh sẽ chỉ dẫn tâm trí của các Sứ Đồ (Giăng 14:26). Khi họ viết, các Sứ Đồ được hà hơi để gợi nhớ lại và ghi chép chính xác những gì mà Đức Chúa Trời muốn họ ghi chép lại.

Phạm vi của tính không thể sai lầm của Kinh Thánh là bình đẳng với phạm vi của sự hà hơi. (Xem chương 3). Mặc dù nó chỉ liên quan đến đoạn trích của các bản viết tay hay là các văn bản gốc, nó đều chỉ đến mọi phần của chúng, lịch sử cũng như là đạo lý, lời nói cũng như là ý tưởng. Khi Đức Chúa Jêsus nói chúng ta nên tin “tất cả những gì mà các đấng tiên tri đã nói” (Luca 24:25), và khi Phaolô nói rằng ông tin vào “mọi điều” trong luật pháp và các đấng tiên tri (Công vụ 24:14), không có trường hợp ngoại lệ nào cả.

Thứ hai, nếu chúng ta nghĩ rằng Kinh Thánh không đúng hoàn toàn, thì chúng ta có thể chưa bao giờ chắc chắn về những điểm nào là sự thật và những điểm nào là sai. Sự phân biệt độc đoán giữa các vấn đề được bày tỏ hay không được bày tỏ đặc biệt làm cho bối rối. Ý tưởng rằng các vấn đề không được bày tỏ bao gồm những điều mà chúng ta có thể phân tích và kiểm tra qua việc nghiên cứu lịch sử hay khoa học; những điều này có thể chứng minh là đúng hoặc sai. Nhưng các vấn đề được bày tỏ, những điều mà chính bản chất của chúng không thể bị kiểm tra, và được cho là không thể sai lầm được!

Đây là một thủ tục rất là rối loạn. Nếu một tác phẩm được chứng minh chứa đựng những lỗi sai trong những phạm vi mà có thể được kiểm tra, thì tại sao chúng ta nên cho rằng phần còn lại của nó không có sai sót? Thực tế thì khuynh hướng sẽ là ngược lại.

Lý do cuối cùng mà tính không thể sai lầm mang tính cục bộ là không thể chấp nhận được là nó không khả thi để bênh vực. Những người giới hạn tính không thể sai lầm thường cho phép nó trong vấn đề về “đức tin và thực hành” hay các phần thuộc đạo lý và thuộc sự bày tỏ của Kinh Thánh. Nhưng chúng ta phải nhớ rằng tính không thể sai lầm chính nó là một tín lý của Kinh Thánh: Kinh Thánh dạy về tính không thể sai lầm của chính nó. Nếu như lỗi sai được tìm thấy trong bất cứ phần nào của Kinh Thánh, vậy thì sự dạy dỗ này là sai lầm lớn nhất trong tất cả – và về phạm vị đạo lý, thì nó chính là phần mà được cho là không có lỗi sai nào! Nếu như chúng ta không thể tin tín lý của Kinh Thánh, thì làm sao chúng ta có thể tin vào bất cứ tín lý nào của nó?

Các sự lựa chọn dường như là hoàn toàn không thể sai lầm hoặc không có tính không thể sai lầm. Kinh Thánh là không thể sai lầm trong mọi điều mà nó khẳng định, hoặc không có sự bảo đảm nào cho tính không thể sai lầm trong bất cứ điều gì mà nó nói. Một luận điểm duy nhất phù hợp với lời dạy của Kinh Thánh đó là Kinh Thánh hoàn toàn không có lỗi sai nào.

Bài 5

Các sự phản đối về tính không thể sai lầm được

Thi Thiên 19:7-11; Mathiơ 5:17,18; 22:23-33; Công vụ 24:14

Kinh Thánh là không thể sai lầm được, theo như chính lời dạy dỗ của nó. Đây là niềm tin của những người tin theo Kinh Thánh, suy nghĩ rất sâu sắc. Nhiều người sẽ muốn chấp nhận nó, nhưng lại thấy chính mình họ bị bối rối bởi những sự phản đối mà thường xuyên nảy sinh để chống lại nó.

Trong chương này, chúng ta sẽ cố gắng trả lời một vài sự phản đối phổ biến nhất. Mục đích của chúng ta là phải trình bày được sự tin chắc của chúng ta vào Kinh Thánh là không sai lầm.

Tính không thể sai lầm là một khái niệm mới #

Một sự phản đối mà thường xuyên xuất hiện mặc cho sự phong phú của dữ liệu sẵn có trái nghịch với sự phản đối này, đó là tính không thể sai lầm là một khái niệm mới. Đôi khi nó được liên kết thuyết căn bản (tin tuyệt đối vào Kinh Thánh) đầu thế kỷ 20, ngụ ý rằng chỉ có một vài người với một “tâm trí căn bản” sẽ tin nó. Thông thường nó truy nguồn gốc vài khía cạnh của tính chất Tin Lành truyền thống thế kỷ 17. Câu sau đây là một điển hình: “Khái niệm về tính không thể sai lầm của Kinh Thánh là một khái niệm cũ của chủ nghĩa Tin Lành, tìm thấy được sự bày tỏ đầu tiên của nó trong Kinh Điển (canon) của Hội Nghị tôn giáo của Dort (1618-19).”

Tính không thể sai lầm không phải là một quan điểm mới, và nó cũng không mới vào năm 1618. Thực tế, nó là một quan điểm chủ đạo được duy trì của Hội Thánh từ thế kỷ đầu tiên, qua thời kỳ Cải Chánh, cho đến sự trỗi dậy của chủ nghĩa duy lý và lời phê bình tiêu cực trong thế kỷ thứ 18. Cuốn sách này có thể tràn đầy với những sự trích dẫn của ảnh hưởng này, nhưng không gian giới hạn chúng ta chỉ với một vài ví dụ thôi. (1)

Clement of Roma, có lẽ viết vào đầu năm 95 SCN, đã nói rằng, “Bạn đã đọc Kinh Thánh, là lẽ thật và được hà hơi bởi Đức Thánh Linh. Bạn không biết bất cứ điều gì trái ngược với sự công bình hay lẽ thật mà được viết trong chúng.” Irenaeus vào cuối thế kỷ thứ hai đã nói rằng, “Thực ra Kinh Thánh là hoàn hảo, vì nó được phán ra bởi Lời của Đức Chúa Trời và Đức Thánh Linh của Ngài.” Augustine vào đầu thế kỷ thứ 5 đã viết rằng, “Vì tôi thú nhận … rằng tôi đã học chịu phục sự tôn trọng và tôn kính này chỉ dành cho các sách Kinh Điển của Kinh Thánh: chỉ với những sách này thì tôi mới chắc chắn tin rằng các tác giả hoàn toàn không mắc lỗi nào.”

Martin Luther đã ca ngợi câu này, nói rằng, “Thánh Augustine, trong một lá thư đến Thánh Jerome, đã viết xuống một chân lý cao quý – rằng chỉ có Kinh Thánh mới được xem là không thể sai lầm được.” Luther bày tỏ ý kiến này rất nhiều lần. “Vì Lời của Đức Chúa Trời là hoàn hảo;… chính nó là lẽ thật. Trong nó không hề có sự giả dối.” “Kinh Thánh … chưa bao giờ sai.” “Lời của Đức Chúa Trời không thể sai.” Luther đã nói như vậy.

Cũng vậy John Calvin đã chỉ đến Kinh Thánh như là “bản ghi chép chắc chắn và không thể sai lầm,” “chuẩn mực không hề sai lệch,” “quy luật chắc chắn và không sai trái,” “sự sáng không lu mờ,” và “lời không thể sai được của Đức Chúa Trời.” Ông nói rằng nó “miễn nhiễm với vết bẩn hay khuyết điểm.”

Những sự trưng dẫn từ Luther và Calvin là đặc biệt quan trọng bởi vì bây giờ có rất nhiều người có nhận thức sai rằng không có ai trong số những nhà lãnh đạo này tin rằng Kinh Thánh là không thể sai lầm được. Ví dụ, J. D. Smart đã nói rằng, “Đồng thời nó là quan trọng vì lời cảm nghĩ của Luther và Calvin đều không dính dán đến tính không thể sai lầm được.” Đây rõ ràng là một cách đọc sai của những người cải chánh.

Một sự biến đổi của mong muốn tuyệt vọng này để có một trong những người hùng đồng ý với mình là được nhìn thấy trong một vài người mà liên quan đến phong trào hiện tại để phục hưng lại đạo Đấng Christ theo Tân Ước. Vì Alexander Campbell là một nhà lãnh đạo của phong trào đó, nên vài người cố gắng bày tỏ rằng ông đã không tin vào tính không thể sai lầm được. Tuy nhiên, sự nỗ lực là vô ích.

Campbell chấp nhận sự khác biệt giữa lẽ thật được bày tỏ và những sự kiện không được bày tỏ của Kinh Thánh, như ông đã giải thích trong cuộc thảo luận của ông với Robert Owen. Ông nói rằng, sự bày tỏ là “Sự truyền đạt thiêng liêng liên quan đến những điều tâm linh và đời đời.” Nhưng thêm vào đó, “có hàng ngàn sự kiện lịch sử được kể đến trong Kinh Thánh.” Những điều này bao gồm “những sự kiện đo vẽ địa chất và lịch sử và các sự kiện ngẫu nhiên; … những chuyện tường thuật, những chú ý về địa lý và tiểu sử, v.v.” Campbell đã phân biệt “thông tin bình thường” như vậy với “những sự truyền đạt thiêng liêng.” Tuy nhiên, ông đã tuyên bố rằng cả hai đều được hà hơi là vì vậy không thể sai lầm được:

Tuy nhiên, những người mà được thuê để thực hiện những lời truyền đạt này được chỉ dẫn một cách siêu nhiên để khiến họ thành những nhân chứng không thể sai lầm được trong tất cả các sự kiện mà họ chứng thực, cũng như là tất cả những sự truyền đạt về các việc siêu nhiên.

Trong câu này, “tất cả các sự kiện mà họ chứng thực” chỉ đến các dữ liệu mang tính lịch sử, không được bày tỏ của Kinh Thánh.

Cũng chính điểm như vậy được đưa ra trong một bài báo vào năm 1846 Millennial Harbinger. Ở đây, Campbell đã viết về sự hà hơi của các lẽ thật được bày tỏ và về “sự giúp đỡ siêu nhiên cho các thánh đồ, những người đã viết các phần lịch sử của Kinh Thánh.” Ông đã nói rằng, họ đã được ban cho “một sự giám sát của Đức Thánh Linh của sự khôn ngoan và sự hiểu biết như là được loại trừ khỏi khả năng mắc sai lầm trong các chủ đề của sự việc mà họ đã ghi chép.” Vậy ông đã nhận ra “sự hà hơi trong nội dung ban đầu và được chuyển hóa,” điều mà “đã loại bỏ sự chọn lựa của sự sai lầm hay những từ hay câu không thích hợp.”

Vậy, rõ ràng rằng ý tưởng về một Kinh Thánh không thể sai lầm được không phải là một “quan điểm mới” trong thời kỳ của chúng ta. Nó cũng không phải là một “quan điểm mới” khi Hội Nghị Tôn Giáo của Dort nhận ra nó vào năm 1618 hay 1619. Nó là quan điểm được giữ bởi các môn đồ Đấng Christ qua các thế kỷ từ khi đạo Đấng Christ bắt đầu.

Tính không thể sai lầm bác bỏ phần con người của Kinh Thánh #

Sự phản biện phổ biến khác đó là nó bác bỏ sự kiện rằng Kinh Thánh là một sản phẩm của các tác giả loài người. Vì sự bày tỏ thánh được đưa ra qua “các bình bằng đất,” như một nhà phê bình khẳng định rằng, nó “thường xuyên có dấu vết của những sự thiếu sót của con người.” Để chối bỏ sự hiện hữu của các lỗi sai thì giống với thuyết Docetism, là thuyết mà chối bỏ tính chất con người của Đấng Christ. Như một tác giả nói rằng, “Sự thật rằng Kinh Thánh, dù được hà hơi bởi Đức Chúa Trời, đã đến với chúng ta dưới hình thức ngôn ngữ loài người dễ bị sai sót từ một nhân chứng loài người dễ bị sai lầm.”

Chắc chắn rằng Kinh Thánh có một khía cạnh của con người. Các tác giả loài người của nó là yếu đuối, nhu nhược và bị giới hạn; một cách tự nhiên, họ dễ dàng mắc phải sự nhầm lẫn, sự dối trá, tội lỗi, sự không hoàn hảo. Tuy nhiên, sự ngụy biện hoàn toàn vô lý của sự chống trả này với tính không thể sai lầm là sự rối trí giữa sự khả thi và sự cần thiết. Nó cho rằng dù thế nào đi nữa thì một cách tự nhiên con người phải nhất thiết phạm sai lầm, rằng tính con người đòi hỏi sự không hoàn hảo, cả về đạo đức (tội lỗi) hay về trí tuệ (sai lầm).

Đây là một giả định sai rõ ràng. Tính con người chính nó không có bao hàm sự không hoàn hảo. A-đam và Ê-va khi được tạo dựng ban đầu, có hạn chế nhưng không có thiếu sót nào; và tội lỗi của họ là không phải không tránh được. Chính Đức Chúa Jêsus đã có một bản chất con người thực sự, nhưng điều này không làm cho Ngài dính líu với tội lỗi hay sai lầm nào.

Chúng ta có thể thừa nhận khả năng phạm sai lầm về phía của con người có thể sai mà không chấp nhận tính tất yếu của nó. Thực tế, khả năng mắc sai lầm chính là lý do cho sự hà hơi. Nếu như các sai phạm không có thể xảy ra, thì sự hà hơi sẽ không được cần đến. Nhưng nếu các sai lầm là không thể tránh khỏi được, thì sự hà hơi sẽ là vô ích. Chính mục đích của sự giám sát của Đức Thánh Linh đã giữ cho con người có thể mắc sai lầm tránh khỏi việc như vậy.

Một điểm khác cần phải được chú ý đến. Cũng chính những người “có thể mắc sai lầm”, mà đã ghi chép về lịch sử, cũng đã viết lời truyền được bày tỏ về sự cứu rỗi. Vậy, đó là mâu thuẫn khi vừa đề xuất tính con người liên quan đến tính có thể mắc sai lầm và vừa giữ một thuyết về tính không thể sai lầm bị giới hạn cùng một lúc. Nếu như tính con người phải làm hư hỏng lịch sử, thì mặc cho sự hà hơi, thì nó vẫn phải làm bại hoại đạo lý luôn. Nhưng giống như vậy, nếu như Đức Thánh Linh có thể bảo vệ đạo lý khỏi sự sai lạc mặc cho tính con người của các tác giả, thì Ngài cũng có thể bảo vệ lịch sử nữa.

“Tính không thể sai lầm là không thích hợp, vì các văn bản viết tay đã không được bảo tồn” #

Sự phản biện phổ biến khác về tính không thể sai lầm được căn cứ trên sự kiện rằng chỉ có các tài liệu mới thực sự thích hợp – các văn bản gốc hay các văn bản viết tay – đã không còn tồn tại nữa. Trong quá trình làm ra vô số những bản copy của các sách trong Kinh Thánh, các người chép lại đã gây ra rất nhiều lỗi. Vì vậy, như một nhà phê bình nói là, chỉ các văn bản mà chúng ta có ngày nay có sai sót. Để chắc chắn, không có lỗi sai nào là nghiêm trọng liên quan đến cả về lịch sử hay đạo lý. Tất cả chúng đều là những lỗi nhỏ. Tuy nhiên, chúng có mặt trong toàn bộ Kinh Thánh mà chúng ta sử dụng, và nhà phê bình nói điều này “khơi dậy một câu hỏi về sự thích đáng cho cuộc tranh luận từng có được một văn bản gốc không thể sai được.”

Đúng là các văn bản viết tay đã biến mất. (Điều này chắc chắn là do ý định của Đức Chúa Trời, vì chúng chắc chắn sẽ bị thần tượng hóa nếu như chúng vẫn còn tồn tại.) Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta phải giữ sự không chắc chắn về những gì mà chúng nói. Có rất nhiều bản copy được làm ra mà qua việc so sánh chúng, chúng ta có thể xác định rõ được nội dung của văn bản gốc. Không tính những sự khác nhau bình thường như là những sự khác nhau trong cách viết chính tả và trật tự từ, nó đánh giá được rằng chúng ta có thể chắc chắn được 99,9% của văn bản Tân Ước gốc, và 0,1% còn lại không có gì cốt yếu cả.

Vậy văn bản được dựng lại là gần như hoàn hảo. Khi chúng ta đọc nó, cho tất cả các mục đích thực tiễn thì chúng ta đang đọc những gì có trong các nguyên bản.

Nếu chúng ta tiếp tục hoài nghi về những bản copy không hoàn mỹ của chúng ta, vậy thì tại sao lại quá quan tâm đến việc là các văn bản gốc có tính không thể sai lầm hay không làm gì? Nếu như có những lỗi sai trong Kinh Thánh mà chúng ta sử dụng, thì nó có làm nên khác biệt gì khi trong các bản gốc có hay không có lỗi sai?

Chúng ta hãy xem xét các chọn lựa. Trong Quyển Sách mà bạn phụ thuộc vào để chỉ dẫn bạn đến với sự sống đời đời, thì bạn muốn có một bản copy gần như hoàn hảo của một bản gốc với không có lỗi nào trong nó, hay một bản copy gần như hoàn hảo của một bản gốc với những lỗi sai? Có bất cứ ai cũng thật sự có thể nói sự khác nhau là không phù hợp không? Đặc điểm không sai lầm của bản gốc làm cho các bản copy có giá trị, thậm chí nếu các bản copy là không hoàn hảo.

Giả sử như bạn phải đi một quãng đường dài băng qua một hoang mạc nguy hiểm. Nó là một chuyến đi nguy hiểm, nhưng bằng cách đi theo bản đồ và các sự chỉ dẫn một cách cẩn thận, bạn có thể làm được. Tấm bản đồ và các chỉ dẫn được chuẩn bị bởi một người đã băng qua hoang mạc nhiều lần và thuộc nó nằm lòng. Sự khó khăn duy nhất đó là bản gốc của những hướng dẫn của ông đã bị mất. Dù vậy, nó đã được sao chép lại rất nhiều lần đến nỗi một sự phục dựng lại đáng tin cậy được thực hiện.

Trong khi bạn đang cân nhắc là có nên tin vào những văn bản “chỉ là sao chép” này hay không, thì người khác đứng bên cạnh với với bạn rằng, “Nhìn này, tôi biết hoang mạc này. Tôi đã băng qua nó một lần cách đây 20 năm về trước. Hãy để chính tôi vẽ cho anh một tấm bản đồ và viết ra những hướng dẫn cho anh.”

Nếu như đây là sự chọn lựa của bạn, thì bạn sẽ không do dự gì mà chọn cái đầu tiên.

Điều tương tự cũng giống như vậy về Kinh Thánh: các bản sao chép gần như hoàn hảo của các văn bản gốc không thể sai lầm được ưa thích hơn nhiều thậm chí là so với những bản copy hoàn hảo của các nguyên bản có thể mắc sai lầm. Bản chất và đặc điểm của các nguyên bản quyết định giá trị của các bản sao chép.

Ở đây có một điểm quan trọng khác. Thậm chí vậy, thì vẫn có những sự khác nhau trong các bản sao chép đang tồn tại của chúng ta mà để lại cho chúng ta sự không chắc chắn về một vài nơi trong văn bản, chúng ta biết những nơi này là ở đâu. Bởi một thủ thuật khách quan (sự phê bình văn chương), những nơi không chắc chắn được nhận ra. Vậy chúng ta biết được những nơi nào không có sự nghi ngờ về văn bản gốc, và chúng ta biết chúng ta có thể tin tưởng những gì mà nó nói bởi vì nó là những lời không thể sai lầm được của Đức Chúa Trời. Nhưng thậm chí nếu như chúng ta có những bản sao chép hoàn hảo của một văn bản có thể sai lầm, thì chúng ta vẫn sẽ không biết chúng ta có thể tin tưởng vào phần nào và chúng ta không thể tin phần nào.

“Tính không thể sai lầm được làm trệch hướng đức tin khỏi Đấng Christ” #

Cuối cùng, nó đã bị chống đối rằng “đạo lý về tính không thể sai lầm hướng sự chú ý của chúng ta khỏi sự tập trung tối đa của đức tin – Đức Chúa Jêsus Christ.” Tuy nhiên, khi xem xét những gì mà chúng ta đã nhìn thấy về quan điểm đối với Kinh Thánh của chính Đức Chúa Jêsus rồi, thì dường như là chính điều ngược lại mới đúng. Việc chối bỏ tính không thể sai lầm là đang nghi ngờ thẩm quyền của Đấng Christ và khiến cho đức tin của chúng ta không có sự tập trung nào cả.

Lý do căn bản cho việc chấp nhận tính không thể sai lầm được của Kinh Thánh đó là Đức Chúa Jêsus đã dạy nó. Đức tin của chúng ta trong Đấng Christ và sự suy phục của chúng ta cho quyền lực của Ngài đòi hỏi rằng chúng ta tin lời của Ngài về mọi khía cạnh, bao gồm cả chính Kinh Thánh nữa. Đức Chúa Jêsus, Đấng mà chúng ta giao phó tấm lòng và tâm trí của chúng ta cho, là cùng một Đức Chúa Jêsus, Đấng mà nói rằng, “Kinh Thánh không thể bỏ được.” Đây cũng phải là sự xưng nhận của chúng ta.

Các ghi chú cuối

1. Để thêm chi tiết về đề tài này, bao gồm các trích dẫn nữa và dữ liệu thư mục cho tất cả những gì được chỉ đến, xem Jack Cottrell, “Historical and Contemporary Perspectives on Inerrancy,” trong Restoration Forum VI (Joplin: College Press, 1988), trang 71-91.

Bài 6

Các lý do để tin vào Kinh Thánh

Ê-sai 41:21-26; 44:24-45:7; Luca 3:1,2

Cho đến bây giờ thì chúng ta đang cố gắng trình bày cách nhìn của chính Kinh Thánh về chính nó. Chúng ta phác thảo được các đạo lý Kinh Thánh về sự bày tỏ, sự hà hơi, và tính không thể sai lầm. Chúng ta không hỏi là liệu rằng nó có đúng hay không, nhưng ít hay nhiều chúng ta thừa nhận rằng nếu như Kinh Thánh dạy nó, thì nó phải là lẽ thật.

Đến lúc để tạm dừng và đặt vấn đề với giả định này. Tại sao chúng ta tin vào điều gì đó chỉ bởi vì nó được dạy bởi Kinh Thánh? Chúng ta có thể nói rằng chúng ta tin nó bởi vì Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời, và vì vậy, nó là lẽ thật và không thể sai lầm được. Nhưng tại sao chúng ta tin nó là lời của Đức Chúa Trời? Nó tuyên bố nó là lời của Đức Chúa Trời, và vì vậy nó là lẽ thật và không thể sai lầm được; nhưng bất cứ tác phẩm hay bất cứ người nào cũng có thể tuyên bố như vậy. Chỉ tuyên bố thôi thì không khiến nó thành lẽ thật được. Phải có những lý do để chấp nhận lời tuyên bố này.

Chúng ta phải cẩn thận để không tranh luận trong một vòng tròn. Không đủ để nói rằng, “Tôi tin Kinh Thánh bởi vì nó là lời của Đức Chúa Trời, và tôi tin nó là lời của Đức Chúa Trời bởi vì nó nói như vậy.” Chúng ta phải có khả năng trình bày những lý do đặc biệt cho việc tin rằng Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời. Đó là mục đích của chương này.

Sự hiệp nhất của Kinh Thánh #

Chúng ta đã quá quen thuộc với việc nhìn thấy và sử dụng Kinh Thánh như là một quyển sách duy nhất mà chúng ta cứ cho là nó vốn là hiệp nhất. Chúng ta hỏi rằng, “tại sao nó không nên được thừa nhận như là một tập sách?” “Nó chỉ là một cuốn sách thôi, phải không?” Vâng, đúng vậy; nhưng câu trả lời đó là không rõ ràng và không quan trọng như là nó có thể được xem lúc đầu.

Điều mà khiến cho sự hiệp nhất của Kinh Thánh lại quá đặc biệt đó là tính rất đa dạng của nó. Sau tất cả, có 66 sách riêng rẻ, được viết trong một khoảng thời gian khoảng 500 năm. Gần 40 tác giả, và được viết bằng ba ngôn ngữ. Một sự khác biệt lớn của bài viết được lôi vào, như là lịch sử, luật pháp, thơ ca, tiên tri, tiểu sử, và các lá thư.

Mặc cho tính đa dạng của 66 phần này, chúng thực sự phù hợp với nhau thành chỉ một quyển sách được hiệp nhất duy nhất. Mặc dù có rất nhiều khía cạnh của sự hiệp nhất này có thể được nhắc đến, nhưng chúng ta sẽ tập trung vào vấn đề chính: chủ đề về sự hiệp nhất của Kinh Thánh.

Trong các trang sách của Kinh Thánh, một chủ đề chính duy nhất được trình bày: câu chuyện về sự cứu chuộc, về một chiến dịch cứu chuộc vĩ đại đã được lên kế hoạch. Mặc cho tính đa dạng của các phần riêng rẻ của nó, Kinh Thánh chỉ kể về một câu chuyện này. Chỉ có một cốt truyện duy nhất đang diễn ra; mỗi phân đoạn có nhiệm vụ của nó trong việc bày tỏ về cốt truyện này. Có một phần mở đầu, một phần thân, và một phần kết.

Đôi khi sự hiệp nhất này được gọi là cơ quan, bởi vì câu chuyện phát triển giống như một cơ thể sống, giống như một cái cây đang trưởng thành. Các rễ được nhìn thấy trong Sáng thế ký; phần còn lại của Cựu Ước là thân. Các sách tin lành, phần chỉ đến đời sống và công việc của Đấng Christ, là hoa. Sách Công vụ và các thư tín miêu tả về trái, tức là Hội Thánh. Mùa gặt được miêu tả trong sách Khải Huyền.

Câu hỏi phải được đưa ra đó là: qua việc xem xét tính rất đa dạng của Kinh Thánh, làm sao mà chúng ta có thể giải thích được sự hiệp nhất đáng chú ý này? Điều gì có thể tạo ra nó? Nó là một chân lý được chấp nhận về tư tưởng có lý mà mọi tác động phải có đủ động cơ. Không chỉ bất cứ động cơ nào sẽ làm được; mà động cơ phải đủ để sinh ra sự ảnh hưởng được nhìn thấy.

Điều gì là đủ để giải thích cho sự hiệp nhất của Kinh Thánh? Chúng ta phải loại bỏ sự tình cờ; rõ ràng rằng là một mục đích hay kế hoạch khôn ngoan có liên quan đến. Một trí tuệ loài người có thể đứng sau kế hoạch này không? Khoảng cách dài của thời gian bác bỏ điều này. Sự hiệp nhất đòi hỏi một trí tuệ duy nhất đằng sau toàn bộ Kinh Thánh, và không có con người nào có thể giám sát một quá trình dài 1500 năm như cái này.

Cũng phải được chỉ ra rằng câu chuyện thú vị này không chỉ đơn giản là một phần của tác phẩm văn học. Nó không chỉ ở trên giấy; nó thực sự xảy ra trong lịch sử. Câu chuyện bày tỏ không chỉ ở trên các trang giấy của một quyển sách, nhưng còn trong cuộc sống và các sự kiện thực sự trong lịch sử. Điều này cho một chiều sâu thậm chí nhiều hơn cho sự hiệp nhất của Kinh Thánh. Nó không chỉ đòi hỏi một tác giả người có thể viết ra được một cuốn sách như vậy, mà còn là một nhà chỉ đạo, người thực sự có thể đem những điều này xảy ra trong lịch sử, người có thể thực hiện một kế hoạch duy nhất kéo dài hàng ngàn năm.

Điều gì có khả năng giải thích được nó hoàn toàn? Câu trả lời thỏa đáng duy nhất là cả kế hoạch và quyển sách đều có nguồn gốc thánh. Chỉ có Đức Chúa Trời toàn năng và biết hết mọi sự, Đấng vượt qua cả lịch sử, và đối với Ngài thì một ngàn năm chỉ như một ngày, mới có thể viết câu chuyện này trên các trang giấy của lịch sử và sau đó làm cho một sự thu góp các tác phẩm khác nhau như vậy để kể nó như là một câu chuyện. Đây là một lý do mà tại sao chúng ta tin vào chứng cứ của chính Kinh Thánh về nguồn gốc của nó, rằng nó thực sự là Lời của Đức Chúa Trời.

Các lời tiên tri được làm trọn #

Một lý do khác cho việc tại sao chúng ta tin Kinh Thánh là đến từ Đức Chúa Trời đó là mô hình của các lời tiên tri được làm trọn đã dệt nên trong tấm vải của nó. Các tác giả của nó ghi chép rất nhiều các lời tiên tri về các sự kiện mà sau đó đã thực sự xảy ra. Những lời tiên tri có kết quả như vậy là bằng chứng cho sự hiểu biết siêu nhiên và sức mạnh siêu nhiên đang hoạt động, vì chỉ có Đức Chúa Trời mới có sự hiểu biết về tương lai không thể sai lầm được.

Chính Đức Chúa Trời muốn những lời tuyên bố của Ngài đứng hay ngã bởi sự thử thách của lời tiên tri đã được làm trọn, và Ngài thách thử bất cứ ai được xem là “các vị thần” có thể làm được điều giống như vậy.

Ðức Giê-hô-va phán: Hãy trình đơn các ngươi; Vua của Gia-cốp phán: Hãy bày tỏ lẽ mạnh các ngươi. 22 Phải, hãy thuật lại đi! Hãy rao cho chúng ta điều sẽ xảy đến! Hãy tỏ ra những điều đã có lúc trước, cho chúng ta để ý nghiệm sự cuối cùng nó là thế nào, hay là bảo cho chúng ta biết những sự hầu đến. 23 Hãy rao những việc sẽ xảy đến sau nầy, cho chúng ta biết các ngươi là thần, cũng hãy xuống phước hoặc xuống họa đi, hầu cho chúng ta cùng nhau xem thấy và lấy làm lạ (Ê-sai 41:21-23; xem câu 26).

Đây là một lý do mà tại sao Kinh Thánh chứa đựng rất nhiều lời tiên tri. Chúng đã được phán ra để sự làm trọn của chúng có thể hình thành nên nguồn gốc thiêng liêng của thông điệp Kinh Thánh. Như Đức Chúa Jêsus nói rằng, “Hiện bây giờ, ta nói điều nầy cùng các ngươi trước việc chưa xảy đến; để khi việc xảy đến rồi, các ngươi sẽ tin ta là Đấng đó” (Giăng 13:19).

Trong số lượng lớn các lời tiên tri được làm trọn của Kinh Thánh, sẽ chỉ có một vài lời được nói đến ở đây. Một trong những lời nói tiên tri ấn tượng nhất là lời tiên tri của Êxêchiên về sự sụp đổ của thành Tirơ (Êxêchiên 26). Lời tiên tri, được viết vào thế kỷ thứ 6 TCN, và được làm trọn hoàn toàn dưới bàn tay của quân đội Hy Lạp của Alexander vào cuối thế kỷ thứ 4 TCN.

Một lời tiên tri khác là lời tiên tri của Ê-sai rằng Đức Chúa Trời sẽ sử dụng một nhà cầm quyền tên là Cyrus (Siru) để xây dựng lại thành Giêrusalem đã bị sụp đổ (Ê-sai 44:28-45:7). Hai thế kỷ sau, Cyrus, vua của Persia (Pherơsơ), đã gửi những người Giuđa về quê hương khỏi việc bị bắt đi đày ở Babylon của họ, và chỉ thị đặc biệt cho họ xây dựng lại đền thờ ở Giêrusalem (Êxơra 1:1-3).

Về Đức Chúa Jêsus, nó đã tiên đoán chính xác rằng Ngài sẽ sanh ra ở thành Bết-lê-hem (Mica 5:2). Trong Thi Thiên 22:11-21, Đavít cho biết một sự miêu tả rất ấn tượng về việc bị đóng đinh của Đức Chúa Jêsus đến nỗi nó giống như là một sự tường trình của người chứng kiến tận mắt. Nhưng ông, cũng như Mica, đã viết điều đó hàng thế kỷ trước Đấng Christ!

Có hàng trăm những lời tiên tri theo nghĩa đen khác như vậy được tiên tri ở trong Kinh Thánh. Chúng không phải là những sự suy đoán mơ hồ, chung chung, thời hạn ngắn. Chúng rõ ràng về mục đích, tỉ mỉ về chi tiết, và trong khoảng thời gian dài.

Lại thực hiện từ nguyên tắc của động cơ thỏa đáng, chúng ta kết luận rằng động cơ hay nguồn gốc khả thi duy nhất của dữ liệu tiên tri được thêu dệt với nhau là chính Đức Chúa Trời. Điều này khẳng định niềm tin của chúng ta rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời.

Sự chính xác đầy ấn tượng của Kinh Thánh #

Nếu như Kinh Thánh là Lời không thể sai lầm của Đức Chúa Trời, thì chúng ta sẽ mong là nó đúng trong mọi nơi mà chúng ta có thể kiểm chứng được. Không có gì ít phù hợp hơn là những lời tuyên bố mà nó đưa ra dành cho chính mình.

Thực tế, khi chúng ta đưa Kinh Thánh vào để kiểm chứng, thì kết quả là gì? Chúng ta thấy rằng nó là một sự chính xác đầy ấn tượng và chặt chẽ trong mọi cách.

Tính kiên định nội bộ #

Một cách mà trong đó Kinh Thánh chứng minh được tính chính xác của nó đó là nó không hề mâu thuẫn với chính nó. Nó rất kiên định về mặt nội bộ. Điều này khá ngạc nhiên, khi xem xét về tính rất đa dạng đã được bàn luận ở trên.

Sử thử thách lớn nhất về dạng này của tính chính xác nằm trong rất nhiều những sự miêu tả tượng tự về các sự kiện giống nhau, như là trong các sách tin lành. Bởi vì những tài liệu này không được đưa ra từ viễn cảnh như nhau, lúc đầu nó dường như là có tồn tại các sự mâu thuẫn. Tuy nhiên việc nghiên cứu cẩn thận cho thấy rằng đây không phải là vấn đề. Từ chính những thế kỷ cơ đốc nhân ban đầu, các học giả đã soạn thảo “các sự hòa hợp” của các sách tin lành, bày tỏ việc các nhà truyền giáo ưng thuận với nhau như thế nào.

Tính chính xác về mặt lịch sử #

Kinh Thánh hoàn toàn thuộc lịch sử. Nó đưa ra vô số những lời ám chỉ đến các sự kiện và các nhân vật lịch sử. Những điều này được miêu tả như những việc đã thực sự xảy ra và những người đã thực sự sống. Qua dữ liệu phong phú được khám phá bởi việc nghiên cứu về lịch sử và khảo cổ học, chúng ta có thể đánh giá được tính chính xác về mặt lịch sử của Kinh Thánh. Trong mọi trường hợp nơi mà nó tuyên bố, đều có thể được kiểm chứng như thế, nên Kinh Thánh chứng minh là có tính chính xác và đáng tin cậy.

Trong thế kỷ thứ 19, khi các nhà phê bình tiêu cực của Kinh Thánh đang trong cao trào của nó, thì việc làm phổ biến là phải gạt bỏ đi số lượng lớn các dữ liệu mang tính lịch sử của Kinh Thánh như là huyền thoại hay truyện cổ tích hay điều hư cấu. Ví dụ, các nhà phê bình chối bỏ những người như là Abraham hay là đất nước Hittite chưa bao giờ tồn tại. Họ khẳng định mạnh mẽ rằng Môi-se đã không thể viết năm quyển đầu của kinh Cựu Ước bởi vì lúc đó không có ai biết viết cả! Họ tuyên bố rằng sách Công vụ các Sứ Đồ là một chuyện tường thuật hư cấu được viết bởi một tác giả vô danh trong giữa thế kỷ thứ hai.

Tuy nhiên, gây bối rối nhiều cho các nhà phê bình, một dòng suối nhỏ đều đặn của các khám phá khảo cổ học đã cuốn trôi những công kích không có căn cứ như vậy, và để lại cho các tài liệu Kinh Thánh đứng vững một cách đáng tin cậy và có thật và vững chắc. Các phong tục và tập quán của thời đại Abraham, như đã được miêu tả trong Kinh Thánh, đã được khẳng định bởi những sự khám phá như vậy. Đế chế Hittite vĩ đại, rõ ràng là không được biết đến ngoại trừ trong Kinh Thánh, lại đột ngột được khám phá bởi nhà khảo cổ Winckler vào năm 1906. Những sự ngẫu nhiên như vậy có thể tăng lên nhiều lần.

Tính chính xác của Kinh Thánh được chứng minh bởi sự điều tra nghiên cứu như vậy không phải là từ chính Kinh Thánh chứng minh rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, nó chắc chắn là một trong những trụ cột cần thiết nâng đỡ cho lời tuyên bố này, vì tính chính xác hoàn toàn duy nhất là kiên định với nguồn gốc thiêng liêng. Nếu nó là Lời của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ mong muốn là nó không có lỗi sai trong những lĩnh vực mở ra cho sự nghiên cứu của chúng ta. Nếu chúng ta không thể tin cậy nó trong những lĩnh vực này, thì làm sao mà chúng ta có thể tin cậy những vấn đề khác mà chúng ta không thể kiểm chứng được?

Trong chương này, chúng ta đã khảo sát một cách ngắn gọn ba nguyên nhân mà tại sao chúng ta chấp nhận những lời tuyên bố của Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời và vì vậy chúng là thật và không thể sai lầm được. Vẫn có những nguyên do khác, một nguyên lý của chúng sẽ được trình bày trong chương tiếp theo.

Bài 7

Sự Sống Lại Của Đức Chúa Jêsus Và Những Ẩn Ý Của Nó

Giăng 2:13-22; Công vụ 13:30-39; Rôma 1:1-4

Lý do thuyết phục nhất và mạnh mẽ nhất cho việc tin rằng Kinh Thánh là Lời không thể sai lầm của Đức Chúa Trời đó là, Đức Chúa Jêsus đã nói như vậy, như chúng ta đã nhìn thấy trong chương 1. Nhưng bây giờ chúng ta phải hỏi chính mình, tại sao chúng ta lại chấp nhận thẩm quyền của lời nói của Đức Chúa Jêsus? Làm thế nào mà chúng ta có thể lập được thẩm quyền của Ngài mà tránh sự tranh luận vòng vo? Không thỏa đáng để nói rằng, “Chúng ta tin Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời bởi vì Đức Chúa Jêsus, chính là Con của Đức Chúa Trời, nói như vậy, và chúng ta tin Đức Chúa Jêsus là Con của Đức Chúa Trời bởi vì Kinh Thánh nói như vậy.”

Câu trả lời được tìm thấy trong sự kiện mà Đức Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết. Bằng việc sử dụng các phương pháp phổ biến khác của việc nghiên cứu lịch sử, chúng ta có thể chứng minh được sự kiện đó. Sự sống lại lần lượt chứng minh được thẩm quyền của Đức Chúa Jêsus và vì vậy cho cả tính chân thật về các lời tuyên bố của Ngài.

Đây không phải là sự lý giải vòng vo, bởi vì chúng ta không giả định trước bất cứ điều gì một cách cụ thể về bản chất của các bản ghi chép Kinh Thánh. Chúng ta tiếp cận với chúng như thể chúng chỉ là các tài liệu gốc đang trình bày những lời tuyên bố nào đó. Chúng ta kiểm chứng những bản ghi chép này như là chúng ta làm với bất cứ tài liệu nào khác để quyết định xem liệu rằng những lời tuyên bố của nó có thật hay không.

Khi chúng ta tiếp cận Kinh Thánh trên cơ sở này, điều đầu tiên làm cho chúng ta ấn tượng đó là sự đáng tin cậy trên toàn bộ các bản ghi chép. (Xem điểm cuối cùng trong chương 6). Chúng không chỉ có “chiếc nhẫn của sự thật,” như J.B. Philip nói, mà chúng còn thường xuyên được kiểm chứng bởi các sự khám phá của khảo cổ học mới. Điều này đặc biệt đúng về các bản ghi chép Tân Ước.

Dù cho sự quan tâm chính của chúng ta là ở trong lời khẳng định rằng Đức Chúa Jêsus đã sống dậy từ kẻ chết. Liên quan đến lời tuyên bố này, chúng ta hỏi hai câu hỏi: (1) Điều gì chứng minh cho sự sống lại? (2) Sự sống lại chứng minh điều gì?

Điều Gì Chứng Minh Sự Sống Lại? #

Để chứng minh vấn đề về sự sống lại, chúng ta chỉ cần đánh giá các bản ghi chép Tin Lành theo cùng cách mà chúng ta chứng minh bất cứ tài liệu cổ xưa nào khác. Thực tế, điều duy nhất mà chúng ta cần để giả định trước là nguyên lý được chấp nhận toàn cầu của nguyên nhân hợp lý. Đây là quy tắc đơn giản và rõ ràng rằng mỗi kết quả có một nguyên nhân đủ để làm cho nó trở thành hiện thực. Liên quan đến sự sống lại của Đấng Christ, sự tranh luận đơn giản là điều này: nguyên nhân duy nhất đầy đủ để cho các kết quả cụ thể được thừa nhận là sự sống lại của Đức Chúa Jêsus.

Chúng ta có thể xem xét trước về sự việc không thể tranh cãi được của chứng cứ của các môn đồ về ngôi mộ trống. Kết quả đòi hỏi một sự giải thích đơn giản là lời chứng của họ rằng ngôi mộ trống không. Điều gì có thể khiến cho họ nói ra một báo cáo như vậy? Sau tất cả những lời giải thích khả thi đã được xem xét, thì nguyên lý của nguyên nhân hợp lý đưa chúng ta đến kết luận rằng những lời báo cáo về ngôi mộ trống chỉ có thể được giải thích bằng sự sống lại thật sự.

Dĩ nhiên, nhiều sự giải thích khác được cho là thỏa đáng đã được đưa ra, nhưng khi kiểm chứng thì chúng không thỏa đáng và mâu thuẫn với tất cả tài liệu hiện có. Ví dụ, nó đã được gợi ý rằng các môn đồ chỉ nói dối về việc ngôi mộ trống. Nhưng điều này là trái ngược với phẩm chất đạo đức tốt và các lời dạy dỗ của họ. Nó cũng trái ngược với sự sẵn lòng của họ để chịu đựng sự bắt bớ và cái chết trong việc bảo vệ cho lời kể của họ. Bên cạnh đó, cho dù sự gợi ý có thật hay không, thì cũng có thể dễ dàng được kiểm chứng bởi những phe trung lập hay thậm chí là phe thù địch. Vì vậy gợi ý này là không thỏa đáng.

Một vài người nói rằng các môn đồ đi nhầm mộ: ngôi mộ trống mà họ nhìn thấy không phải là ngôi mộ mà Đức Chúa Jêsus thật sự được chôn. Nhưng cách giải thích này cũng phớt lờ sự thật. Các bản ghi chép bày tỏ rằng các môn đồ biết ngôi mộ nằm ở đâu. Cũng vậy, nhiều người liên quan loại bỏ khả năng rằng tất cả đều là sai lầm – thậm chí là chủ của ngôi mộ! Bên cạnh đó, các nhà cầm quyền sẽ nhanh chóng chấn chỉnh lại một sai lầm như vậy.

Những người khác nói rằng ngôi mộ thật sự là trống không, nhưng chỉ bởi vì Đức Chúa Jêsus vẫn còn sống khi Ngài được đặt vào đó. Ngài đã tỉnh lại, đi ra khỏi ngôi mộ, và đã chết sau đó – họ đã nói như vậy.

Một giả thuyết như vậy là không thỏa đáng bởi vì nó mâu thuẫn với tất cả tài liệu có sẵn liên quan đến sự chết và sự chôn của Đức Chúa Jêsus. Các bản ghi chép cho thấy rằng Ngài đã rất yếu ớt vì không được ngủ, bị đánh đập, và bị đóng định. Hông của Ngài đã bị đâm, và nó chảy ra máu và nước; điều mà chỉ đến cái chết (Giăng 19:34). Một thầy đội người Rôma đầy kinh nghiệm đã chứng kiến và chứng thực cái chết (Mác 15:39, 44, 45). Sự chôn bao gồm việc bị buộc chặt lại trong hàng trăm cân mộc dược (Giăng 19:39, 40). Một hòn đá lớn đã che ngôi mộ, và một đội lính canh đứng trước lối ra (Mathiơ 27:66). Giờ thì câu hỏi là, một người trong tình trạng như vậy và dưới những điều kiện như vậy, thậm chí nếu như Ngài vẫn còn sống trong lúc chôn cất đi nữa, thì có thể thoát khỏi ngôi mộ không? Thậm chí nếu như Ngài đã thoát ra được rồi, thì liệu Ngài có thể tác động hay chi phối tâm lý nhất định đến các môn đồ của Ngài để làm cho họ có được sự sốt sắng mà về sau này họ sẽ có không?

Những người khác cố gắng giải thích các lời kể về ngôi mộ trống bởi việc nói rằng xác của Đức Chúa Jêsus đã bị trộm. Nhưng điều này có vẻ như không chắc chắn sẽ xảy ra. Các kẻ thù của Ngài không có khuynh hướng trộm nó. Cũng vậy, nếu như họ làm như vậy, thì nó sẽ là lợi thế cho họ để phơi bày xác Ngài ra sau này để bác bỏ các lời tuyên bố của các môn đồ. Mặc khác, những người bạn của Đức Chúa Jêsus thiếu cả ý muốn và cơ hội để trộm xác. Một đội lính canh gác đã chắn đường họ. Sự kiện mà khăn liệm được giữ nguyên vẹn một cách cẩn thận (Giăng 20:4-7) là mâu thuẫn với một tên trộm vội vàng.

Cuối cùng chỉ có một trường hợp mà thỏa đáng để giải thích cho các lời kể về ngôi mộ trống, ấy là, sự sống lại thực sự của Đức Chúa Jêsus.

Cùng với những lời kể về ngôi mộ trống là sự kiện khác mà đòi hỏi một lời giải thích, đó là, chứng cứ của các môn đồ về các sự xuất hiện của Đức Chúa Jêsus sau sự chết và sự chôn của Ngài. Điều gì có thể khiến cho họ nói là họ đã nhìn thấy Chúa đã sống lại nếu như thực sự họ đã không thấy? Lại nữa, một vài giả định được đưa ra, nhưng chỉ có một cái duy nhất phù hợp với nguyên lý của động cơ đầy đủ là sự thật của chính sự sống lại.

Ví dụ, một vài người tuyên bố rằng những lời kể về các sự xuất hiện của Chúa là kết quả của “việc làm trọn mong ước”: khao khát mãnh liệt của các môn đồ để gặp Chúa đã sống lại khiến cho họ có những sự ảo giác. Tuy nhiên, tình trạng tâm lý của họ thì ngược lại với những gì cần thiết cho một việc như vậy. Họ đã không mong đợi sự sống lại, và họ còn cách rất xa sự lạc quan. Thực tế, họ đã từ bỏ hy vọng. Họ chứa đầy sự hoài nghi, buồn chán, và mất hết can đảm. Họ đã khó để bị mắc lừa: họ đã không nhận ra Đấng Christ trong lần xuất hiện đầu tiên, và những lời kể ban đầu bị từ chối như là không có thật. Hãy xem Mác 16:9-14; Luca 24:11-31; Giăng 20:1-2, 11-31; 21:4-23.

Các tình huống, số lần, và sự khác nhau của các lần xuất hiện cũng loại bỏ ý tưởng về những sự ảo giác. Đức Chúa Jêsus thường xuất hiện trước nhiều người một lúc. Cũng vậy, các sự xuất hiện không phải là “những cái nhìn lướt thoáng qua, nhưng là những sự gặp gỡ kéo dài” (Orr). Một sự giải thích như vậy cũng làm cho ngôi mộ trống, không thể giải thích được.

Một vài người cho rằng Đấng Christ đã không thật sự sống lại từ thân thể đã chết, nhưng Ngài đã sống và xuất hiện với các môn đồ của Ngài trong một dạng thần bí. Tức là, đó không phải là thân thể thực sự của Ngài mà họ nhìn thấy, mà đúng hơn là một dạng của sự hiện hình. Lại nữa, điều này không phù hợp với các tài liệu sẵn có. Thân thể mà các môn đồ nhìn thấy có thể chạm được (Luca 24:36-43). Đấng Christ đã sống lại đã ăn thức ăn trước mặt họ để chứng minh rằng Ngài không phải chỉ là một sự hiện hình. Cũng phải được nhớ rằng, ngôi mộ vẫn còn trống.

Đôi khi nó được cho rằng các môn đồ nói dối về các sự xuất hiện. Điều này có phù hợp với nhân cách và lời dạy dỗ chung của họ hay không? Điều này có tương ứng với sự sốt sắng sau này của họ và lòng sẵn sàng đối mặt với việc tử vì đạo hay không? Liệu rằng họ có mạo hiểm mạng sống của mình cho một điều dối trá không? Bên cạnh đó, ngôi mộ vẫn còn trống.

Sau tất cả những điều đã được xem xét, những lời kể về sự xuất hiện sau sự sống lại của Đức Chúa Jêsus có thể được giải thích thỏa đáng bằng chính sự sống lại.

Hiện tượng phi thường của ngôi mộ trống và các sự xuất hiện sau khi sống lại của Đức Chúa Jêsus từ lâu được xem như là hai phương pháp chính để chứng minh cho sự sống lại. Nhưng có những cái khác nữa. Ví dụ, sự hình thành và sự phát triển nhanh chóng của Hội Thánh thách đố tất cả những lời giải thích tách biệt khỏi sự sống lại của Đức Chúa Jêsus. Các môn đồ của Ngài không có tâm trí sau cái chết của Ngài để phát động một phong trào táo bạo như vậy với lòng sốt sắng và sự tự tin cần thiết để chinh phục một đế chế. Chỉ có sự sống lại của Ngài mới có thể cho họ một sức đẩy để xây dựng một vương quốc tầm cỡ và khả năng chịu đựng như vậy.

Sự kiện khác không thể giải thích được tách biệt khỏi sự sống lại của Đức Chúa Jêsus, đó chính là đức tin của các Sứ Đồ, đặc biệt trái ngược với tâm trạng ban đầu của họ về sự sống lại. Đã cho họ sự không tin và nỗi tuyệt vọng, thì điều gì ngoài sự sống lại ra có thể đã thay đổi họ trong chốc lát trở thành những người của đức tin và sự can đảm? Điều này cũng tương tự đúng với sự cải đạo của Sau-lơ người Tạt Sơ trở thành Sứ Đồ Phaolô.

Vì vậy chúng ta không còn có chọn lựa nào khác cả. Chúng ta phải chấp nhận sự thật về sự sống lại, bởi vì nó là nguyên nhân duy nhất thỏa đáng cho vô số các sự kiện không thể tranh cãi được.

Sự Sống Lại Chứng Minh Điều Gì? #

Cho là có sự kiện về sự sống lại, thì câu hỏi tiếp theo của chúng ta là đây: nó chứng minh điều gì? Câu trả lời đó là nó hình thành nên thẩm quyền thiêng liêng và sự đáng tin cậy của Đức Chúa Jêsus. Ngài đã xưng lời của Ngài nói chính là lời của Đức Chúa Trời (Giăng 7:16), và Ngài nói trước về sự kiện đã được hứa về chính sự sống lại của  Ngài như là bằng chứng kết luận về các lời tuyên bố của Ngài (Giăng 2:18-22; Mathiơ 12:38-40; 16:4).

Sự sống lại bày tỏ rằng Đức Chúa Jêsus chính là người mà Ngài đã xưng nhận, ấy là, Con của Đức Chúa Trời (Rôma 1:1-4). Vì vậy nó lập nên lẽ thật về mọi điều mà Ngài đã từng nói. Bởi vì sự đáng tin cậy đã được chứng minh của Kinh Thánh trong việc ghi chép các dữ liệu lịch sử, chúng ta không có lý do gì để nghi ngờ rằng Đức Chúa Jêsus thực sự đã nói những điều mà trong các sách tin lành chép Ngài nói. Vì vậy chúng ta chấp nhận chúng như là lẽ thật. Điều này bao gồm tất cả những lời dạy dỗ của Ngài về bản chất của Kinh Thánh: “Kinh Thánh không thể bỏ được” (Giăng 10:35), và phần còn lại.

Vậy không có gì lấy làm ngạc nhiên cho chúng ta khi Đức Chúa Jêsus đã sống lại từ kẻ chết, các môn đồ của Ngài đã nhớ rằng Ngài đã hứa rằng, “môn đồ gẫm Ngài có nói lời đó, thì tin Kinh Thánh và lời Đức Chúa Jêsus đã phán” (Giăng 2:22). Đây chính xác là những gì chúng ta nên làm.

Trong hai chương cuối này, chúng ta chỉ giải thích ngắn gọn những lý do cơ bản cho việc tại sao chúng ta chấp nhận Kinh Thánh như là Lời không thể sai lầm được của Đức Chúa Trời. Cùng với nhau, chúng hình thành nên một nền tảng vững chắc cho sự tin cậy của chúng ta vào mọi lời dạy dỗ của nó và cho sự suy phục của chúng ta về thẩm quyền của nó.

Bài 8

Đối Mặt Với Những Nan Đề Trong Kinh Thánh

Thi Thiên 119:41-48, 89, 129, 130; Rôma 1:18-28

Chúng ta cho rằng Kinh Thánh tuyên bố và chứng minh rằng nó là Lời không thể sai lầm của Đức Chúa Trời. Nếu điều này là thật, và nếu như trường hợp của nó là quá rõ ràng, thì tại sao mọi người lại không nhận ra nó ngay lập tức và thừa nhận thẩm quyền của nó?

Một lý do là trong văn bản hiện nay của Kinh Thánh có những thứ gọi là “những nan đề” hay những đoạn khó hiểu” hay “những sự không thống nhất được đưa ra.” Đó là, có những hiện tượng cụ thể mà ban đầu dường như là trái ngược với lời tuyên bố rằng Kinh Thánh là không thể sai lầm được. Những người chối bỏ thẩm quyền Kinh Thánh thường xuyên nói đến những hiện tượng này, và những người tin đôi khi đánh mất sự phòng thủ và làm cho đức tin của họ bị lung lay một cách nguy kịch khi đối mặt với chúng.

Mục đích của chúng ta trong chương này là trình bày những nguyên tắc hướng dẫn cụ thể cho việc xử lý những sự chống đối với niềm tin vào Kinh Thánh như là Lời không thể sai lầm được của Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể bàn luận mọi sự chống nghịch mà có thể được sinh ra, nhưng chúng ta có thể đưa ra những nguyên lý mà người tin có thể học và ứng dụng khi cần đến.

1. Trường hợp khẳng định mạnh mẽ thiên về phía niềm tin đưa bất cứ nan đề nào vào sự phòng thủ và tạo ra giả định là nó có một giải pháp. #

Giả sử rằng một trong những người bạn rất thân thiết của bạn bị bắt. Bạn đã biết người đó nhiều năm như là một người có đức tin về đạo Đấng Christ sâu sắc và nhân cách đạo đức tốt. Nhưng anh ta bị kết tội trộm cắp. Bạn nói là “Khoan, đợi đã.” “Tôi biết bạn của tôi. Anh ta sẽ không làm điều này. Phải có điều gì nhầm lẫn rồi. Phải có lời giải thích nào khác thôi.”

Đây chính xác là câu trả lời của chúng ta bất cứ khi nào mà chúng ta nghe một lời chống nghịch với Kinh Thánh. “Khoan đã. Tôi biết cuốn sách này. Các dấu vết về nguồn gốc thiêng liêng của nó ở trên các trang giấy của nó rõ ràng. Nó có một sự ghi chép phi thường về tính chính xác. Những lời kết tội nhằm lật đổ nó trước đây, và chúng bị chứng minh là sai lầm. Điều này là trường hợp như vậy. Lời chống nghịch phải được căn cứ trên sự hiểu lầm nào đó. Chúng ta hãy xét xem chúng ta có thể giải quyết nó như thế nào.”

Nhiều người nhanh chóng buộc tội và lên án Kinh Thánh ở những giả thiết nhỏ nhất của lỗi sai. Tuy nhiên, điều này là không thích hợp với toàn bộ bản chất của nó. Chúng ta phải gạt bỏ sự nghi ngờ về Kinh Thánh, và cho rằng có thể giải quyết được.

2. Có nhiều điều được gọi là nan đề, thật ra chúng là một sự quan sát hời hợt. Một sự giải thích hợp lý thông thường luôn có sẵn dành cho bất cứ ai chịu khó nhọc tìm nó. #

Chúng ta phải không chỉ thỏa lòng dựa trên giả định rằng các nan đề có thể được giải quyết; chúng ta phải kiểm chứng vấn đề để thấy liệu rằng một giải pháp có thể thực sự được tìm thấy hay không. Khi điều này được thực hiện, nan đề thường chứng tỏ là hời hợt và lời giải thích khá là đơn giản.

Trong một trường trung học địa phương một năm, lớp tôn kính người lớn tuổi đang học những triết lý khác nhau của cuộc sống. Đức tin môn đồ Đấng Christ thường xuyên bị nói đến một cách gièm pha bởi giáo viên và các học sinh khác. Một môn đồ Đấng Christ trong lớp học đã than phiền, và giáo viên đã nói rằng, “nếu như em muốn, em có thể mời ai đó vào để bênh vực cho Kinh Thánh.”

Học sinh đã đến gặp người hầu việc Chúa của mình, người đó là một người bạn tốt của tôi, và yêu cầu anh đến thăm lớp học. Người hầu việc Chúa trẻ tuổi khá e ngại về các nan đề mà mình có thể phải gặp, nhưng anh đã đồng ý. Anh đối diện lớp học với sự bối rối, và ngay khi một người hoài nghi trẻ tuổi thông minh bắt đầu tấn công. “Đây là một câu hỏi mà anh không thể trả lời được, anh giảng đạo,” cậu ta nói một cách rất tự tin. “Cain lấy được vợ của mình ở đâu?” Từ lúc đó, người bạn giảng đạo của tôi biết rằng mình không có gì để sợ hãi cả.

Đây là một ví dụ tốt về bản chất hời hợt của đa số các nan đề của Kinh Thánh luôn luôn tồn tại. Một người có thể biết rằng A-đam và Ê-va có hai người con trai tên là Cain và Abên (và người thứ ba sau này tên là Sết), và cho rằng hai người đó chỉ là những người con duy nhất và từ đó suy ra hai người con đó là những người duy nhất trên thế gian lúc bấy giờ. Vậy khi vợ của Cain được nhắc đến (Sáng thế ký 4:17), thì người đó nhanh chóng kết luận rằng đây phải là một câu chuyện giả mạo. Dù vậy, câu trả lời đơn giản và có sẵn rồi. Sáng thế ký 5:4 đặc biệt nói rằng A-đam và Ê-va có những người con khác, bao gồm cả những người con gái. Họ chỉ là không được nêu tên lên trong mạch văn thôi.

Một ví dụ khác là sự khác nhau giữa Mathiơ 3:17 và Luca 3:22. Mỗi câu đều đang kể về những gì mà Đức Chúa Trời đã nói từ trên trời vào lúc Đức Chúa Jêsus chịu phép báp têm. Mathiơ viết nó ở dạng ngôi thứ ba: “Đây là Con yêu dấu của Ta”; Luca thì đặt nó ở ngôi thứ hai: “Ngươi là Con yêu dấu của Ta.” Đây là một sự không thống nhất phải không? Không, không phải khi chúng ta hiểu rằng các tác giả thường ghi chép lại những lời nói hay các sự kiện trong cuộc nói chuyện, tổng hợp, hay chú giải gián tiếp. Trong trường hợp này, Mathiơ dường như đang kể về cách trò chuyện gián tiếp, trong khi Luca đưa ra lời trích dẫn trực tiếp.

Sự khác nhau giữa Mathiơ 20:30 và Mác 10:46, 47 thường xuyên được đem ra. Mathiơ nói rằng Đức Chúa Jêsus đã cứu chữa cho hai người mù ở thành Giêricô; Mác thì nói rằng Ngài đã cứu một người mù tên là Batimê. Vậy là có hai người hay một người? Không nghi ngờ gì là có hai người, nhưng Batimê mà người dẫn đầu và là người nói chính. Vậy ông là người mà Mác tập trung vào. (Chú ý rằng Mác không có nói là “một và chỉ một người mù duy nhất.”) Điều này cũng áp dụng cho Mác 16:5 và Luca 24:4.

Rất nhiều, rất nhiều nan đề có thể được giải quyết chỉ theo cách này. Những lời giải thích hợp lý sẵn có nếu như người đó muốn tìm kiếm chúng.

3. Hầu như nếu không phải tất cả những nan đề đều liên quan đến sự hiểu biết sai lầm hay không đầy đủ về cả chính Kinh Thánh và về thế giới xung quanh chúng ta. #

Đôi khi trong việc chuẩn bị cho việc nhấn mạnh điểm này, tôi cho các độc giả của tôi biết về sự kiện sau: tôi đã cưới ba chị em gái, chưa ly hôn với bất cứ ai, và tất cả vẫn còn đang sống. Nhiều người từ chối tin vào nó, thà gọi tôi là một kẻ nói dối, là nhân từ hơn so với việc gọi tôi là một kẻ có nhiều vợ!

Câu nói là đúng, và không có việc lấy nhiều vợ nào xảy ra. Một người chị em là vợ của tôi; tôi đã tiến hành nghi lễ kết hôn cho hai người khác. Nó chỉ đơn thuần là sự hiểu biết sai lầm mà dẫn đến việc kết tội cho lỗi sai hay sự hiểu nhầm.

Đây là những gì thường xảy ra liên quan đến Kinh Thánh. Chúng ta phải nhớ điều này, dù là Kinh Thánh là không thể sai lầm, nhưng chúng ta thì không như vậy. Sự giải nghĩa của chúng ta thường bị sai sót.

Đôi khi, chính một sự hiểu biết sai lầm về Kinh Thánh dẫn đến các điều rắc rối. Ví dụ, đó là chuyện bình thường ngày nay cho các nhà phê bình nhạo báng các lời giải thích cho sự thăng thiên của Đức Chúa Jêsus. Họ nói rằng một câu chuyện như vậy chứng tỏ rằng các tác giả Kinh Thánh dựa vào ý tưởng sai lầm về một vũ trụ có ba lớp với “thiên đàng” là tầng cao nhất. Đức Chúa Jêsus được hình dung như là đang bay vút lên cao, lên cao cho đến khi Ngài đến được tầng đó.

Dĩ nhiên, đây là một sự hiểu sai về nguyên văn. Đức Chúa Jêsus đã thăng thiên, nhưng là vào trong một đám mây (Công vụ 1:9). Một sự hiểu biết về lịch sử Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta suy ra được rằng đây không phải là đám mây bình thường, nhưng hơn thế nó chính là sự hiện diện của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua hình dạng của một đám mây (xem Xuất Êdíptô ký 40:34-38; Mathiơ 17:5). Sau khi Đức Chúa Jêsus được đưa vào trong đám mây, cả Ngài và nó đều chắc chắn biến mất.

Một vài người nhìn thấy nan đề trong các lời tường thuật về lời rao giảng của Giăng Báptít. Theo như bản Kinh Thánh King James, trong Mathiơ, ông tuyên bố rằng ông không xứng được cầm giày của Đức Chúa Jêsus (3:11); trong Luca thì ông nói rằng ông không xứng để cởi chúng ra (3:16). Có phải một trong hai sách tin lành sai không? Không. Trong lời rao giảng của ông, Giăng hầu như chắc chắn chỉ đến rất nhiều lần về sự không xứng đáng của ông liên quan đến giày của Đức Chúa Jêsus, đôi khi nói điều này và có khi lại nói điều kia.

Cho ví dụ khác, một vài người gặp khó khăn bởi sự mâu thuẫn rõ ràng giữa 2 Samuên 24:1 và 1 Sử ký 21:1. Samuên nói rằng Chúa thúc đẩy vua Đavít làm một cuộc điều tra dân số trong dân Ysơraên; Sử ký thì nói rằng Satan đã xúi giục ông làm như vậy.

Đây không phải là một sự mâu thuẫn rành rành sao? Không, không phải khi mà chúng ta hiểu mối liên hệ giữa các việc làm của Satan và quyền tể trị không bắt buộc của Đức Chúa Trời. Trong Gióp 1:12-19 và 1 Các Vua 22:19-23, chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời cho phép Satan cám dỗ hay thử thách các tôi tớ của Ngài, dù là phải luôn luôn ở trong các giới hạn (xem 1 Côrinhtô 10:13). Điều này không nghi ngờ gì là cách giải quyết cho sự không thống nhất rõ ràng.

Chúng ta cũng nên chú ý rằng thỉnh thoảng các điều trở ngại cũng sinh ra từ sự hiểu biết không đầy đủ hay sai lầm của chính thế gian. Một vài nhà khoa học vẫn tin rằng thuyết tiến hóa giải thích được nguồn gốc của loài người, vì vậy họ tuyên bố rằng sự giải thích về sự tạo dựng của Kinh Thánh là sai lầm. Tuy nhiên, đa số các nhà khoa học khác – cả những người tin và không tin – đều kết luận rằng khái niệm về sự tiến hóa không được chứng minh bằng chứng cứ.

Chúng ta phải chống lại sự cám dỗ quy cho tính không thể sai lầm cho các lời tuyên bố được đưa ra với danh nghĩa của khoa học. Một cảnh báo phổ biến là sự kiện vào năm 1861, viện khoa học hàn lâm Pháp ban bố một danh sách của năm mươi “lẽ thật” mang tính khoa học mà bác bỏ Kinh Thánh. Mỗi cái trong số năm mươi “lẽ thật” đã được chứng minh là sai từ đó!

Xem xét điều kiện hạn chế của chúng ta và khả năng có thể sai lầm của chúng ta, bất cứ khi nào chúng ta đối diện với một lỗi sai được đưa ra trong Kinh Thánh, chúng ta nên trước tiên đặt nghi vấn về sự hiểu biết của chính chúng ta.

4. Sự bất lực của con người để giải quyết các vấn đề cụ thể không có nghĩa là họ không có cách giải quyết. #

Có những thời điểm khi mà chúng ta có thể phải thừa nhận rằng chúng ta không thể tìm được một lời giải thích phù hợp cho một sự không thống nhất được đưa ra trong Kinh Thánh. Trong những tình huống như vậy, đó là hoàn toàn chính đáng để chuẩn bị quan điểm và sự tin cậy là có một hướng giải quyết, và nó có thể bước ra ánh sáng trong tương lai. Điều này áp dụng cho các vấn đề cụ thể liên quan đa số đến Cựu Ước.

Tại sao chúng ta không nên cảm thấy bị đe dọa bởi sự bất lực của chúng ta để giải quyết các điều khó khăn nào đó? Bởi vì trong quá khứ, hết lần này đến lần khác, các khám phá mới trong các lĩnh vực như là lịch sử hay ngôn ngữ học đã đưa ra được các hướng giải quyết cho các vấn đề như vậy. Các lỗi sai giả định đã được bày tỏ là những sự thật: cuối cùng thì Kinh Thánh là chính xác!

Ví dụ, các nhà phê bình cùng lúc đặt nghi vấn về lời tuyên bố trong 1 Các Vua 9:26, rằng Sôlômôn đã có một đoàn tàu (hải cảng) ở Ê-xi-ôn-Ghê-be. Không có cơ sở hợp lý nào cho một nơi như vậy là rõ ràng. Nhưng sau đó các nhà khảo cổ học đã khám phá ra một công trình nấu đồng khổng lồ trong khu vực, vậy chứng minh nhu cầu cho một hải cảng và công nhận lời tuyên bố của Kinh Thánh.

Mô hình kiên định về các khám phá tương tự cho chúng ta sự tin chắc rằng các cách giải quyết cho các nan đề tiếp tục vẫn còn hiện hữu, thậm chí là chúng ta không thể tìm thấy chúng bây giờ.

5. Dù cho tín đồ Đấng Christ có những nan đề, người không tin có nhiều nan đề hơn và lớn hơn. #

Không có quan điểm thế gian nào mà thoát khỏi hoàn toàn các sự khó khăn và các nan đề không giải quyết được. Ví dụ, người không tin có thể chối bỏ lời dạy dỗ của Kinh Thánh rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên vũ trụ. Nhưng sau đó người đó bị để lại với các vấn đề của việc giải thích cho nguồn gốc của mọi vật. Khi Đức Chúa Trời bị loại bỏ, sự chọn lựa duy nhất còn lại là sự tình cờ. Ý tưởng rằng sự tình cờ có thể là nguyên nhân cho vũ trụ hiện nay khó tin hơn nhiều so với sự tạo dựng.

Dù vậy, khó khăn lớn nhất của những người không tin là làm thế nào để giải thích được bằng chứng của Đức Chúa Jêsus cho sự không thể sai lầm được của Kinh Thánh nếu như thực sự Kinh Thánh không thể tin được. Các lời của Đức Chúa Jêsus – Kinh Thánh không thể bỏ được – tiếp tục làm kẻ phá hoại cho mọi sự chối bỏ, hòn đá vấp ngã cho mọi thuyết trái nghịch. Dù vậy, đối với những người tin, chúng giữ lại nền tảng vững chắc cho sự tin cậy của họ vào Lời không thể sai lầm được của Đức Chúa Trời.

Bài 9

Sự Đầy Đủ Của Kinh Thánh

Phục truyền luật lệ ký 4:1-2; Mác 7:1-13; Thi Thiên 119:103-105, 127, 128

Đa số chúng ta đều nhìn thấy các sự sao chép lại của một vài bản mục lục Sears Roebuck lúc đầu. Một trong những điều ấn tượng nhất về chúng chính là sự hoàn thiện của chúng. Một vài nhà xuất bản hầu như tính cả mọi thứ cần thiết cho đời sống hằng ngày, bao gồm thuốc, xe hơi, và thậm chí là nhà cửa! Liên quan đến các nhu cầu vật chất, thì chúng đầy đủ.

Kinh Thánh mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta cũng hoàn toàn đầy đủ như vậy để đáp ứng các nhu cầu thuộc linh của chúng ta. Nó là quan trọng để chúng ta hiểu điều này. Nó sẽ khiến cho chúng ta muốn nghiên cứu về Kinh Thánh nhiều hơn. Nó cũng sẽ giữ cho chúng ta tránh việc tìm kiếm những câu trả lời ở một nơi nào khác cho các vấn đề thuộc linh của chúng ta. Vậy trong chương này, chủ đề của chúng ta là sự đầy đủ của Kinh Thánh.

Chỉ Mình Kinh Thánh thôi #

Một trong những khẩu hiệu quan trọng nhất của phong trào tin lành cải chánh là Sola Scriptura, hay “chỉ mình Kinh Thánh thôi!” Trong các vấn đề thuộc linh, Kinh Thánh là hoàn toàn đầy đủ để trả lời mọi câu hỏi và đáp ứng mọi nhu cầu. Như Martin Luther đã nói rằng, “Tất cả những gì mà Đức Chúa Trời đã làm, đặc biệt là tất cả những gì liên quan đến sự cứu rỗi của chúng ta, được viết xuống và chú giải một cách rõ ràng trong Kinh Thánh”; “tất cả những gì mà chúng ta phải tin, luôn luôn, rất dư dật, là trong Kinh Thánh.”

Những người khác đã tuyên bố rằng Kinh Thánh là “quy luật hoàn toàn đầy đủ của đức tin và thực hành.” Điều này có nghĩa đầu tiên là nó đầy đủ như là một nguồn của lẽ thật (“quy luật về đức tin”). Phaolô nói rằng tất cả Kinh Thánh là “có ích cho sự dạy dỗ” (2 Timôthê 3:16). Đức Chúa Jêsus đã hứa rằng Đức Thánh Linh sẽ chỉ dẫn các Sứ Đồ vào trong “mọi lẽ thật” (Giăng 16:13), hay tất cả các lẽ thật cần thiết cho đời sống và sự cứu rỗi của chúng ta. Những điều khác cũng có thể được bao gồm, nhưng đức tin có thể dựa chắc chắn trên những gì ở đó (Giăng 20:31).

Như là một “quy luật đầy đủ của việc làm”, Kinh Thánh là “có ích cho…. việc bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành” (2 Timôthê 3:16,17). Nó soi sáng vào mọi vấn đề; nó chỉ dẫn chúng ta trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Các nguyên lý của nó áp dụng cho mọi quyết định; nó đưa ra kiểu mẫu hoàn hảo cho Hội Thánh. Kinh Thánh thật sự là “ngọn đèn cho chân tôi, Ánh sáng cho đường lối tôi” (Thi Thiên 119:105).

Sola Scriptura có nghĩa là chỉ mình Kinh Thánh là nguồn thích hợp của lẽ thật và sự hiểu biết đạo đức, nhưng nó còn có nghĩa hơn nữa. Nó có nghĩa là chỉ mình Kinh Thánh là nguồn có thẩm quyền của lẽ thật và sự hiểu biết. Bởi vì bản chất độc nhất của nó như là Lời của Đức Chúa Trời đã được hà hơi và không thể sai lầm được, Kinh Thánh là quy tắc tiêu chuẩn duy nhất, thẩm quyền lớn nhất và cuối cùng cho đức tin và đời sống.

Các Tiêu Chuẩn Sai Về Thẩm Quyền #

Một mối đe dọa không dứt cho Hội Thánh là khuynh hướng bổ sung hay thậm chí là thay thế Kinh Thánh bằng các quy tắc tiêu chuẩn sai lầm. Chúng ta có thể chống lại khuynh hướng này bằng cách cảnh giác về các đối thủ lâu dài của Kinh Thánh và bằng việc phòng thủ sự ngờ vực tất cả những nỗ lực để nâng cao chúng lên một vị trí của thẩm quyền.

Truyền thống #

Một trong những thách thức dai dẳng nhất của thẩm quyền Kinh Thánh là truyền thống con người. Một truyền thống thường xuyên bắt đầu một cách vô thức đủ như là một sự giải thích cụ thể hay cách áp dụng của Kinh Thánh. Tuy nhiên, trải qua nhiều năm, sự giải nghĩa này của con người được nâng lên dần dần thành quan trọng cho đến khi nó được xem như là có thẩm quyền không phụ thuộc và Kinh Thánh và sát cạnh nó.

Vào thời điểm mà Đức Chúa Jêsus đến thế gian, người Giuđa đã tích lũy một khối lượng lớn các truyền thống mà họ mù quáng làm theo và dạy dỗ như thể nó chính là Lời của Đức Chúa Trời. Thực tế (như thường xuyên xảy ra), nó thậm chí còn trở nên quan trọng và ràng buộc hơn cả Kinh Thánh.

Một ngày nọ, những người Pha-ri-si phê phán Đức Chúa Jêsus bởi vì Ngài và các môn đồ của Ngài không thường rửa tay trước khi ăn, như là “lời truyền khẩu của người xưa” đã đòi hỏi. Giành lại thế thượng phong, Đức Chúa Jêsus đã chỉ ra rằng những người Pha-ri-si đã thực sự quan tâm đến những truyền thống của họ hơn là Kinh Thánh như thế nào. Ngài nói rằng, “Các ngươi bỏ điều răn của Đức Chúa Trời, mà giữ lời truyền khẩu của loài người!” (Mác 7:1-13).

Vào thế kỷ thứ 16, Hội Thánh Công Giáo La Mã đã tích lũy một khối lượng lớn tương tự của các truyền thống, bao gồm tín lý chính thức rằng những điều như vậy như là những lời tuyên bố của các hội đồng và các giáo hoàng có thẩm quyền ngang bằng với Kinh Thánh. Phong trào Cải Chánh của Sola Scripture đã trực tiếp chống nghịch lại cách sử dụng sai lầm này của truyền thống.

Vấn đề vẫn tồn tại với chúng ta ngày nay. Hội Thánh Công Giáo theo thường lệ vẫn đặt các truyền thống của họ sát cạnh Kinh Thánh. Nhiều giáo phái tin lành mà chê bai việc làm này đã cho phép các tín điều do con người tạo nên của chính họ để chiếm lấy thẩm quyền của Kinh Thánh. Và thậm chí giữa những người của chúng ta, những người mà không có tín điều, thì các hình thức thờ phượng và buổi lễ có cách để trở thành không thể chạm được, như thể chúng được lập ra bởi chính Đức Chúa Trời.

Ví dụ, tại sao buổi lễ giữa tuần phải luôn luôn là vào thứ tư? Mọi buổi giảng phải kết thúc bằng một bài thánh ca mời gọi phải không? Chỉ có một cách để làm “lời xưng nhận tốt” phải không? Buổi lễ thờ phượng vào ngày chủ nhật phải là trước buổi trưa phải không? Tiệc thánh phải luôn luôn làm trước bài giảng sao?

Các việc làm truyền thống dĩ nhiên không nhất thiết là sai. Những gì sai và những gì phải được tránh là đề cao các cách áp dụng loài người có thể sai lầm về các nguyên tắc thuộc Kinh Thánh lên mức độ như chính Kinh Thánh. Chỉ mình Kinh Thánh có thẩm quyền ràng buộc.

Sự trải nghiệm hay ý kiến cá nhân #

Một trong những phương sách thành công nhất của Satan là thuyết phục một người rằng các kinh nghiệm chủ quan của chính mình hay các sự đoán xét và các ý kiến của chính mình là quan trọng  và có thẩm quyền hơn Lời của chính Đức Chúa Trời. Satan có thể thuyết phục Ê-va rằng bà biết nhiều về lẽ thật và đạo lý như Đức Chúa Trời (Sáng thế ký 3:1-6). Hắn vẫn tiếp tục thuyết phục người cả tin rằng tiếng nói của Đức Chúa Trời là không đầy đủ, rằng họ cũng phải nghe và lưu ý đến tiếng nói của sự lý giải hay lương tâm, hay các tiếng nói kỳ bí của loài nào đó ở trong lòng.

Vào thế kỷ thứ 16, những nhà cải cách phải đấu tranh không chỉ chống lại Hội Thánh Công Giáo, nhưng còn với toàn bộ sự phân loại của các người theo phép lạ, những người theo thuyết duy linh, và người theo chủ nghĩa duy lý. Đây là những người đã đánh giá Kinh Thánh theo những trải nghiệm thần bí của chính họ, “những bày tỏ” mới, hay các ý kiến mang tính duy lý. Từ khi họ áp dụng rằng Kinh Thánh là một sự chỉ dẫn chưa đầy đủ, thì đề tài Sola Scripture cũng trực tiếp chống nghịch lại chúng.

Việc quy thẩm quyền hoàn toàn cho sự trải nghiệm cá nhân làm nảy sinh nhiều nhóm tôn giáo mà vẫn còn phát triển ngày nay. Một niềm tin theo phái Quaker cơ bản đó là Đức Chúa Trời tiếp tục ban cho các sự bày tỏ mới qua một “sự sáng trong lòng” thần bí mà nó hiện hữu trong mỗi người. Giáo phái Mặc Môn được căn cứ trên một cuộc viếng thăm của thiên sứ được bày tỏ cho Joseph Smith. Ellen G. White, người sáng lập ra Seventh- Day Adventism (Giáo phái giáng lâm ngày thứ bảy), có rất nhiều giấc mơ khẳng định các tín lý của bà. Một bày tỏ “của thiên sứ” cho vợ của Herbert W. Armstrong đã thuyết phục ông rằng hệ thống tôn giáo của ông là đúng đắn, kết quả là Hội Thánh Toàn Cầu của Đức Chúa Trời. Phái Ngũ Tuần và các giáo phái có sức thu hút quần chúng hiện đại giải nghĩa các sự trải nghiệm cụ thể như là “các bày tỏ mới” từ Đức Chúa Trời.

Một thách thức ít thần bí hơn nhưng lại phổ biến hơn cho thẩm quyền độc nhất của Kinh Thánh là điều gì đó mà có thể được gọi là “Tôi nghĩ.” Điều này xảy ra khi một người vừa phớt lờ hay thách thức các lời dạy dỗ của Lời của Đức Chúa Trời về một đề tài cụ thể và vừa nói rằng, “Giờ thì tôi nghĩ là…” Ví dụ, các lời đoán xét thường xuyên được tuyên bố về các vấn đề xã hội và đạo đức mà không có sự nhận thức thích hợp về những gì mà Kinh Thánh nói về chúng. Như một người đã nói rằng, “Tôi nghĩ rằng đồng tính là không sao cả, vì đó là cách mà Đức Chúa Trời đã tạo nên những người này.” (Xem Sáng thế ký 1:27, 31; Rôma 1:21-32.) Một người vợ của người rao giảng đã từng nói, “Tôi nghĩ hình phạt tử hình là sai bởi vì nó không có thực thi được sự công bằng.” Bà ta đưa ra lời đoán xét của mình về những sự việc của Kinh Thánh (xem Sáng thế ký 9:5, 6; Xuất Êdíptô ký 21:12; Rôma 13:1-4). Một lớp trường chủ nhật đang bàn luận liệu rằng người nữ có nên dạy người nam hay không. 1 Timôthê 2:12-15 được đọc lên, và một người đã nói rằng, “Tôi biết đó là những gì Kinh Thánh nói, nhưng tôi nghĩ là dù thế nào thì nó cũng không sao.”

Yếu tố phổ biến trong tất cả các ví dụ này là ý tưởng rằng Kinh Thánh không phải là một sự chỉ dẫn đầy đủ, và rằng nó phải được bổ sung bởi điều gì đó từ chính chúng ta. Vậy các sự trải nghiệm chủ quan và việc thi hành của lý trí chiếm lấy quyền cao hơn thẩm quyền của Kinh Thánh.

Tuy nhiên, đạo Đấng Christ kiên định yêu cầu chúng ta loại bỏ mọi quy tắc tiêu chuẩn sai trái và các chuẩn mực sai trái về thẩm quyền, và giao phó chính chúng ta cho một mình Kinh Thánh thôi. Chỉ có Kinh Thánh là được Đức Chúa Trời soi dẫn và là Lời không thể sai lầm được, và nó thực sự là một quy luật đầy đủ của đức tin và việc làm.

Các sự giúp đỡ để hiểu được #

Nhận biết được sự đầy đủ của Kinh Thánh như là quy tắc tiêu chuẩn duy nhất cho đức tin và đời sống không có nghĩa là chúng ta loại bỏ và phớt lờ hoàn toàn việc sử dụng lý trí của con người, các truyền thống, và các sự giải nghĩa. Ngược lại, chúng ta nên tiếp tục sử dụng chúng thậm chí còn nhiều hơn nữa, nhưng chỉ như là những sự giúp đỡ để hiểu được Kinh Thánh và áp dụng nó cho đời sống của chúng ta, không phải như là các quy tắc tiêu chuẩn mang tính thẩm quyền.

Trong thời thơ ấu ban đầu của tôi, gia đình của tôi đã tham gia một Hội Thánh mà các lớp học ngày chủ nhật không sử dụng bất cứ thứ gì khác ngoài Kinh Thánh như là một tài liệu nghiên cứu. Dĩ nhiên, không có gì sai với điều này, không có sách nào tốt hơn để nghiên cứu. Tuy nhiên, Hội Thánh này kết luận rằng việc nghiên cứu từ những nguồn khác ngoài Kinh Thánh là sai. Chỉ có Lời của Đức Chúa Trời, không phải lời của con người, mới là sự chỉ dẫn của chúng ta. (Thực tế là việc các thầy giảng cho lớp ngày chủ nhật đã giải thích Kinh Thánh bằng những lời nói loài người của chính họ đã dường như không làm cho họ thấy khó chịu.)

Vấn đề của Hội Thánh này đó là nó không nhìn thấy được sự khác nhau giữa một quy tắc tiêu chuẩn và một sự giúp đỡ để hiểu biết. Các sách, các bài bình luận, các bài giảng, bài học, và các ý kiến được nêu ra và các lời giải nghĩa về tất cả các loại có thể giúp chúng ta hiểu ý nghĩa về Kinh Thánh, thậm chí chỉ một mình Kinh Thánh là thẩm quyền cuối cùng. Chúng ta không sử dụng những thứ như vậy để đoán xét Kinh Thánh; Kinh Thánh phải luôn luôn đoán xét chúng.

Thực ra, Kinh Thánh là một khu mỏ chất đầy những kho báu tuyệt đẹp mà chúng ta lấy ra, sử dụng như là những công cụ cho lý trí của chính chúng ta và bông trái của việc nghiên cứu và thành quả lao động của người khác. Khi mà chúng ta lấy những báu vật này thành của chúng ta, thì chúng ta sẽ thấy là chúng thỏa mãn cho mọi nhu cầu của chúng ta.

10

Sự Hiểu Biết Về Kinh Thánh

Nêhêmi 8:1-12; Mathiơ 13:14, 15, 18-23

Trong một dịp khác mà Đức Chúa Jêsus đang giảng dạy, “Ngài gọi đoàn dân đến, mà phán rằng: Hãy nghe, và hiểu” (Mathiơ 15:10). Lời răn bảo này áp dụng cho tất cả những gì mà Đức Chúa Trời đã nói: “Hãy đọc, và hiểu.”

Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời, và nó là quy tắc tiêu chuẩn và sự phán xét có thẩm quyền với đời sống của chúng ta, cho dù chúng ta có nhận biết nó hay không. Nhưng nó sẽ chỉ dẫn chúng ta một cách chính xác chỉ khi chúng ta hiểu được những gì mà nó nói. Chính Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta Kinh Thánh; nó là trách nhiệm của chúng ta để đọc và nghiên cứu nó cho đến khi chúng ta hiểu được nó.

Trong chương này, chúng ta sẽ nhấn mạnh sự thật là Kinh Thánh có thể hiểu được. Chúng ta sẽ bàn luận về các nguồn giúp đỡ có sẵn khác nhau cho những người theo đuổi việc nghiên cứu như vậy. Cuối cùng, chúng ta sẽ liệt kê một vài quy tắc cơ bản cho việc giải nghĩa Kinh Thánh một cách chính xác.

Sự Rõ Ràng Của Kinh Thánh #

Đôi khi một vài người sẽ đặt nghi vấn là liệu rằng nó thực sự khả thi để hiểu được Kinh Thánh hay không. Sự nghi ngờ này thường xuyên sinh ra từ sự thật rằng có quá nhiều cách giải nghĩa khác nhau, quá nhiều các sự bất đồng về ý nghĩa của Kinh Thánh. “Nếu thậm chí các nhà học giả giỏi nhất còn không thể nhất trí với những gì Kinh Thánh nói, thì làm sao tôi có thể hiểu được nó?” là lời kêu than.

Lại có khi sự nghi ngờ này có một nền tảng mang tính triết học hơn. Nó cho rằng luôn luôn sẽ có một khoảng cách giữa sự hiểu biết Kinh Thánh của chúng ta và những gì mà Đức Chúa Trời thực sự muốn nói, đơn giản bởi vì ngôn ngữ loài người không thể diễn đạt các ý tưởng thánh hay bởi vì sự hiểu biết của chúng ta luôn luôn bị bóp méo bởi các thành kiến cá nhân. Bất cứ người nào đưa ra một vấn đề về một lời giải nghĩa cụ thể thì sau đó bị buộc tội là “gây ra sự chia rẽ” với “giáo điều hội” hay “cách giải nghĩa theo môn phái” của người đó.

Vào thế kỷ thứ 16, Hội Thánh Công Giáo đã quyết định rằng Kinh Thánh quá khó hiểu để được giải nghĩa một cách chính xác bởi người thế tục tầm thường. Kể từ đó, nó đã giới hạn việc giải nghĩa và thậm chí là việc đọc Kinh Thánh với các giáo sĩ. Chống nghịch lại ý tưởng này, các nhà Cải Cách nhấn mạnh sự rõ ràng của Kinh Thánh. Cho dù một vài phần là khó để hiểu hơn những phần khác, nhưng các lời phán của Kinh Thánh về sự cứu rỗi là rõ ràng và dễ gần với tất cả mọi người.

Chúng ta khẳng định sự rõ ràng của Kinh Thánh bởi vì chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời có thể giao tiếp với con người. Khi Đức Chúa Trời nói với chúng ta (Hêbơrơ 1:1, 2), Ngài chắc chắn mong muốn được hiểu. Chắc chắn là Đức Chúa Trời tối cao và biết hết mọi sự có đủ khả năng để nói chuyện để Ngài có thể được hiểu. Ê-sai 55:11 nói rằng Ngài không có nói vô ích: “thì lời nói của ta cũng vậy, đã ra từ miệng ta, thì chẳng trở về luống nhưng, mà chắc sẽ làm trọn điều ta muốn, thuận lợi công việc ta đã sai khiến nó.”

Ngôn ngữ loài người không phải là chướng ngại cho Đức Chúa Trời. Chúng ta được tạo ra theo hình tượng của Ngài (Sáng thế ký 1:26, 27); quá trình tư duy của chúng ta không hề xa lạ với Ngài. Những lời nói và lời phán của Kinh Thánh thực sự đại diện cho những gì có trong tâm trí của Đức Chúa Trời, và tâm trí của chúng ta có thể thấu hiểu được ý nghĩa thực sự của chúng.

Thậm chí tâm trí của một tội nhân cũng có thể hiểu được lời truyền cơ bản của tin lành. Tội nhân có thể có đức tin trong Đức Chúa Jêsus qua các việc đọc hay giảng về Lời. Đây là đúng bởi sự sáng tạo của Đức Chúa Trời: “Nhưng các việc này đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống” (Giăng 20:31). “Như vậy, đức tin đến bởi sự người ta nghe, mà người ta nghe, là khi lời của Đấng Christ được rao giảng” (Rôma 10:17).

Dĩ nhiên điều này không có nghĩa là việc nghiên cứu về Lời là không cần thiết. Lời giống như là một khu mỏ của các viên đá quý. Những viên ngọc cụ thể của lẽ thật là rõ ràng và trong suốt trên bề mặt, những cái khác nằm ở tầng sâu hơn. Những cái này có thể đạt tới được, nhưng sự nỗ lực chân thành và chăm chỉ được đòi hỏi. Sự rõ ràng của Kinh Thánh bảo đảm cho chúng ta rằng nỗ lực như vậy sẽ không phải là vô ích đâu.

Các Nguồn Để Giúp Cho Sự Hiểu Biết #

Mang ảnh tượng của Đức Chúa Trời có nghĩa là chúng ta có khả năng vận dụng trí óc vốn có để hiểu Lời của Đức Chúa Trời. Tuy vậy, Đức Chúa Trời không mong muốn chúng ta rút lui như các thầy tu vào các phòng nhỏ riêng tư của chúng ta và nghiên cứu trong sự cô lập mà không có bất cứ sự giúp đỡ nào cả. Có những nguồn có sẵn, cả của loài người và thiêng liêng, để giúp chúng ta.

Về mức độ loài người thì Đức Chúa Trời đã ban cho các thầy giáo. Như hoạn quan Êthiôpi lúc đang đọc Ê-sai, thì Đức Chúa Trời đã gửi Philíp đến để làm thầy của ông. Philíp đã hỏi rằng, “Ông hiểu lời mình đọc đó chăng? Hoạn quan trả lời rằng: Nếu chẳng ai dạy cho tôi, thể nào tôi hiểu được?” (Công vụ 8:30, 31).

Bởi vì nhu cầu cho sự chỉ dẫn này được chia sẻ cho tất cả, nên Đức Chúa Trời đã lập nên chức vụ hay vai trò của thầy giáo (hay mục sư – giáo sư). Xem Rôma 12:7; 1 Côrinhtô 12:28, 29; Êphêsô 4:11-16. Điều này dường như là trách nhiệm đặc biệt của các trưởng lão (1 Timôthê 3:2; Tít 1:9-11; Êphêsô 4:11). Nói chung, những người mạnh mẽ và thành nhân về đức tin nên dạy những người trẻ tuổi hơn và yếu đuối hơn cho đến khi chính họ có khả năng dạy dỗ người khác (Hơbơrơ 5:11-14; 2 Timôthê 2:2).

Để phớt lờ sự khác nhau này giữa thầy giáo và người được dạy dỗ không chỉ là trái ngược với kế hoạch được lập ra của Đức Chúa Trời, mà nó còn làm chậm trễ hay thậm chí là cản trở một sự hiểu biết chính xác về Kinh Thánh. Nhiều nhóm nghiên cứu Kinh Thánh nhỏ hoạt động mà không có một thầy giáo đủ khả năng, mỗi người đọc một câu và nói “nó có ý nghĩa gì với tôi.” Mặc cho các ý định tốt và các cảm giác thỏa mãn, thì việc học hỏi tiếp thu ít ỏi xảy ra khi học như vậy.

Để hiểu được Kinh Thánh phải làm theo hai bước. Trước bất cứ điều gì, chúng ta phải hỏi, “Nó có nghĩa là gì?” Ý nghĩa thực sự của câu hay đoạn trích là gì? Nó không thể có ý nghĩa gì đó khác với từng người, nó phải chỉ có nghĩa duy nhất mà tác giả ban đầu dự định nó có nghĩa là gì. Đây thường xuyên là điều gì đó mà không thể được hiểu “do sự thôi thúc của hoàn cảnh” hay không có việc nghiên cứu đã được chỉ dẫn. Đây là nơi mà một thầy giáo đặc biệt được cần đến: để giải thích những gì mà tác giả Kinh Thánh định nói và tại sao ông lại nói nó.

Bước thứ hai là câu hỏi hợp lý, “Nó có ý nghĩa gì với tôi?” Làm thế nào mà đoạn này, đã được hiểu chính xác, ứng dụng vào đời sống hằng ngày của tôi? Đây thực sự là một câu hỏi nên được thảo luận bởi toàn bộ nhóm, bao gồm cả giáo viên. Nhưng ở đây chúng ta đang nói về cách áp dụng, không phải là cách giải nghĩa. Chúng ta không thể biết được cách áp dụng (“Nó có ý nghĩa gì với tôi”) của một đoạn trích cho đến khi chúng ta biết lời giải nghĩa chính xác của nó (“Nó có nghĩa gì”).

Các Hội Thánh địa phương nên chăm chỉ và thận trọng trong việc cung cấp các thầy giáo đã được huấn luyện trong sự hiểu biết về Lời của Đức Chúa Trời. Các thầy giáo nên được đặc biệt hiểu biết về lịch sử của Kinh Thánh, lời giới thiệu của Kinh Thánh, và đạo lý của Kinh Thánh. Các chương trình huấn luyện đặc biệt nên được chuẩn bị trong những phạm vị này nếu cần thiết. Các nguồn của các trường thần học của chúng ta và các khóa học và các thầy giáo của họ có thể và nên được sử dụng hiệu quả hơn trong chương trình giáo dục địa phương.

Vậy bất cứ ai đang tìm kiếm sự hiểu biết về Kinh Thánh nên tận dụng tất cả những gì mà các giáo viên loài người có thể cung cấp cho. Điều này bao gồm việc sử dụng các sách và các sự giúp đỡ đã được viết xuống ở nhiều dạng khác nhau, cũng như là sự chỉ dẫn cá nhân.

Điều này không có nghĩa là chúng ta nên chấp nhận mà không phê bình gì cả về bất cứ điều gì mà một thầy giáo hay một cuốn sách nói đến. Chúng ta không ở dưới sự thương xót của bất cứ thầy giáo nào, mà chúng ta có thể và nên đánh giá sự giảng dạy của người đó một cách cẩn thận bằng chính Kinh Thánh. Người Giuđa ở Bêrê được khen ngợi vì “tra xem Kinh Thánh hằng ngày” để xem liệu rằng lời giảng dạy của Sứ Đồ Phaolô là theo Kinh Thánh hay không (Công vụ 17:10, 11).

Một vài sự hiểu sai về Hêbơrơ 8:10, 11 (trích từ Giêrêmi 31:33, 34) có nghĩa là các môn đồ Đấng Christ không cần được dạy bởi người khác. Đây không phải là ý nghĩa của đoạn trích. Nó chỉ đến sự khác nhau giữa việc tham gia vào giao ước cũ và tham gia vào giao ước mới. Một người gia nhập vào giao ước cũ khi mới sinh ra, từ đó người đó bắt đầu học để biết về Đức Chúa Trời sau khi gia nhập. Giáo ước mới thì khác. Tư cách thành viên là bởi sự chọn lựa có ý thức và sự tái sanh, nhận biết Chúa là một điều kiện tiên quyết. Đây là lý do tại sao những người dưới giao ước mới không phải được dạy để nhận biết về Chúa.

Bên cạnh những thầy giáo loài người, có một nguồn khác cho sự hiểu biết Kinh Thánh, ấy là, sự giúp đỡ được ban cho bởi Đức Chúa Trời. Ở đây chúng ta không nói đến những gì được gọi là “sự soi sáng bởi Đức Thánh Linh.” Nhiều người theo đạo tin lành đã kết luận sai lầm rằng Đức Thánh Linh mở mắt con người và khiến cho người đó có thể nhìn thấy được ý nghĩa chính xác của Kinh Thánh. Nhiều môn đồ Đấng Christ chia sẻ sai lầm này, thường xuyên qua một sự hiểu sai về Kinh Thánh. Những đoạn trích cụ thể chỉ ngụ ý đến sự hà hơi cho các Sứ Đồ lại được kết luận là ám chỉ đến tất cả các môn đồ Đấng Christ. Một ví dụ là Giăng 16:13, hứa rằng Đức Thánh Linh sẽ “chỉ dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật.” Ngữ cảnh bày tỏ rằng điều này đặc biệt dành cho các Sứ Đồ. Điều tương tự cũng đúng như vậy trong Giăng 14:26; và 1 Côrinhtô 2:11-16.

Nếu sự soi sáng như vậy xảy ra với mọi tín đồ Đấng Christ một cách trực tiếp từ Đức Thánh Linh, thì sẽ không cần đến các thầy giáo, trái ngược với những gì mà chúng ta đã nhìn thấy rồi. Bên cạnh đó, nếu Đức Thánh Linh cung ứng cho tất cả các tín đồ Đấng Christ sự giải nghĩa chính xác về Kinh Thánh, thì tại sao lại không có sự nhất trí của sự hiểu biết trong vòng những người tín đồ?

Trong 1 Giăng 2:27, “sự xức dầu” đôi khi được xem như là chỉ đến Đức Thánh Linh hay sự dạy dỗ trong tâm trí của Ngài, nhưng cái này không thể là như vậy. Nếu như điều này là thật, lại nữa, thì nơi nào là sự thống nhất của sự hiểu biết? Cũng vậy, nó sẽ khiến cho không chỉ những thầy giáo loài người mà thậm chí là Kinh Thánh bị lỗi thời. Sự hiểu biết tốt nhất là “sự xức dầu” chính là Lời của Đức Chúa Trời. Các câu 14 và 24 bày tỏ rằng đây là những gì mà Giăng đang nói đến. Câu Kinh Thánh dạy tính đầy đủ của Kinh Thánh như là một nguồn của đạo lý mang tính thẩm quyền. Nó không loại trừ các thầy giáo loài người, nhưng nó bày tỏ rằng những lời dạy của họ phải là sự giải nghĩa và cách áp dụng của Kinh Thánh.

Vậy chúng ta kết luận rằng Đức Thánh Linh không ban cho sự hiểu biết mà không có các quá trình thông thường của sự học tập.

Vẫn vậy, Đức Chúa Trời sẽ giúp chúng ta hiểu Kinh Thánh. Như thế nào? Qua sự giúp đỡ được ban cho đặc biệt của Ngài trong việc đáp lại lời cầu nguyện. Ngài sẽ không ban cho chúng ta một sự nhận biết ngay lập tức về kiến thức mới, nhưng Ngài có thể mài sắc các tiến trình tâm trí của chúng ta. Ngài có thể giúp chúng ta dọn dẹp tâm trí rối bời của chúng ta để chúng ta có thể tập trung được. Ngài có thể giúp chúng ta nhớ lại những ý tưởng đã được gặp rồi. Ngài có thể giúp chúng ta vượt qua được sự mù quáng ngoan cố mà có thể ngăn cản chúng ta khỏi việc hiểu được luật pháp của Ngài (xem Thi Thiên 119:18). Ngài có thể cho chúng ta sự khôn ngoan để áp dụng những gì chúng ta học vào đời sống của chúng ta (Giacơ 1:5). Ngài có thể dẫn dắt chúng ta đến những người khác mà có thể giúp chúng ta.

Sự giúp đỡ như vậy không phải là một sự thay thế cho việc học hỏi, cũng không phải là một đường tắt để hiểu Kinh Thánh. Chính chúng ta vẫn phải chăm chỉ, sử dụng tất cả những sự giúp đỡ sẵn có, để khám phá ra những viên ngọc sâu hơn của sự hiểu biết về Kinh Thánh.

Các Nguyên Tắc Của Sự Giải Nghĩa #

Vì Kinh Thánh là một cuốn sách lịch sử được viết bằng ngôn ngữ loài người, nên để hiểu được nó, thì một người phải áp dụng các quy tắc và phương pháp của sự giải nghĩa mà phù hợp với bất cứ văn bản nào như vậy. Không có quy tắc riêng tư hay bí mật nào hay là chúng ta được tự do để nghĩ ra các quy tắc thất thường. Đây là một vài nguyên tắc cơ bản:

a) Tìm kiếm ý nghĩa theo lẽ thường (không nhất thiết là theo nghĩa đen). Đôi khi đây được gọi là phương pháp văn phạm mang tính lịch sử.

b) Nhận ra hình thức văn chương cụ thể của văn bản: nó là lịch sử, thơ ca, một lá thư hay là cái gì?

c) Sử dụng tất cả các sự giúp đỡ có sẵn: các sách từ điển (như là Từ điển giải nghĩa của Vine) và các sách từ điển Kinh Thánh (không phải là của Webster) để hiểu được các từ ngữ, các bài bình luận để hiểu về các đoạn trích, và nhiều bản dịch khác nhau.

d) Không nên cố gắng làm cho mọi thứ ăn khớp với một ý tưởng đã được nhận thức trước. Đây là cách mà những sự chia rẽ và các bè phái bắt đầu.

e) Đặt mọi đoạn trích vào trong ngữ cảnh lịch sử chính xác của nó. Sự khác nhau giữa giao ước cũ và mới là căn bản, đặc biệt là vai trò duy nhất của dân Ysơraên như là sự chuẩn bị cho sự đến của Đấng Christ. Đối với mỗi văn bản, hỏi ai đã viết nó, viết cho ai và tại sao.

f)  Giải nghĩa các đoạn trích đặc biệt chỉ có mối quan hệ với ngữ cảnh của sách và phân đoạn mà chúng diễn ra.

Một vài nguyên tắc bổ sung được nhận thấy từ sự thật rằng Kinh Thánh không chỉ là một cuốn sách của con người, nhưng nó cũng là Lời của Đức Chúa Trời.

a) Tiếp cận nó với tâm thần của sự vâng phục, nhận biết rằng nó là Lời của Đức Chúa Trời.

b) Cầu nguyện cho sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời như đã được miêu tả ở trên.

c) Vì Kinh Thánh hoàn toàn là một quyển sách bởi một tác giả, các sự ám chỉ khác nhau đến cùng một đề tài sẽ giúp giải thích lẫn nhau. Kiểm chứng tất cả các sự ám chỉ đến một chủ đề, sử dụng một sách dẫn hay chủ đề Kinh Thánh và để Kinh Thánh giải nghĩa Kinh Thánh. Sử dụng các đoạn trích rõ ràng hơn để giải thích cho đoạn khó khăn hơn.

11

Ích Lợi Cho Sự Dạy Dỗ

1 Timôthê 4:13-16; Tít 1:9-14; 2:1, 7; 2 Giăng 9-11; 3 Giăng 3-8

Kinh Thánh đã được gọi là “quy tắc tiêu chuẩn hoàn toàn đầy đủ của đức tin và việc làm.” Trong sự bày tỏ này, từ đức tin chỉ đến đạo lý hay lời dạy dỗ để tin đến, và từ việc làm chỉ đến các mạng lệnh hay các nguyên tắc đạo đức để vâng theo.

Quả thật, Kinh Thánh là thẩm quyền cuối cùng cho cả hai, và đây là cách mà chúng ta nên sử dụng nó. Đây là mục đích đã được dự định của nó. 2 Timôthê 3:16 nói rằng Kinh Thánh là “có ích cho sự dạy dỗ,” và cũng cho sự “bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình.” Trong chương này, chúng ta chỉ quan tâm đến vấn đề đầu tiên, sự dạy dỗ. (Chúng ta nên nhớ rằng các từ tín lý và sự dạy dỗ có nghĩa chính xác giống như nhau.)

Tầm Quan Trọng Của Sự Dạy Dỗ #

Tại sao sự dạy dỗ lại rất quan trọng? Bởi vì những gì mà chúng ta tin hay chấp nhận như lẽ thật định đoạt mọi việc khác mà chúng ta làm. Các sự tin tưởng quyết định các hành động, và các sự tin tưởng sai lầm dẫn đến các việc làm gây ra tai họa. Nhiều người đã giết những người bạn của mình bằng súng vì họ thực sự đã tin là không có ai cả. Một người với các triệu chứng ung thư từ chối đi khám bác sĩ và biết sự thật có thể không chịu nổi về căn bệnh. Người từ chối tin rằng Đức Chúa Trời tồn tại, sẽ hành động theo như vậy và chịu các hậu quả.

Tầm quan trọng của sự nhận biết sự dạy dỗ của Kinh Thánh được nâng cao thậm chí còn nhiều hơn khi chúng ta nhận ra rằng Kinh Thánh dạy lẽ thật không chỉ về tội lỗi và sự cứu rỗi mà còn về Đức Chúa Trời, loài người, và toàn bộ vũ trụ. Kinh Thánh bày tỏ một cách nhìn về toàn bộ thế giới và cuộc sống, một sự giải nghĩa bao hàm toàn diện về mọi thứ đang tồn tại. Tất cả các quyết định và tất cả các việc làm, trực tiếp hay gián tiếp, đều liên quan đến những gì Kinh Thánh dây, và sẽ được định đoạt bởi nó.

Mặc cho sự quan trọng này, dường như có rất nhiều sự thờ ơ đến sự dạy dỗ. Nó bị chối bỏ thậm chí là ở trong Hội Thánh của chúng ta. Sự nhấn mạnh mạnh mẽ lên sự phát triển của Hội Thánh trong nhiều trường hợp đã cho ra ngoài lệ sự dạy dỗ và tập trung sự chú ý và thực thi các phương pháp hay những sự giúp sức “làm thế nào để.” Những người thường đi đến Hội Thánh nghe rất nhiều bài giảng mà hoan nghênh hay cho lời khuyên về đạo đức, nhưng không ám chỉ gì đến sự nuôi dưỡng về thuộc linh cả. Edith Schaeffer so sánh chúng với “những miếng sandwich bằng mùn cưa.”

Thậm chí một vài người lãnh đạo của Hội Thánh của chúng ta phát biểu về sự dạy dỗ như thể là nó không phù hợp. Trái ngược với hàm ý gốc của Kinh Thánh như là “quy tắc chuẩn của đức tin,” nhiều người đang nói rằng đức tin hoàn toàn không liên quan gì với sự dạy dỗ! Chúng tôi được nói là “đức tin không phải là sự nhận biết chính xác về sự dạy dỗ chân chính, thậm chí là những sự dạy dỗ của Đức Chúa Trời.” Một tác giả khác nói rằng, “Đức tin của chúng ta là ở trong một người – Đức Chúa Jêsus Christ – không ở trong các danh sách của những lời tuyên bố;” “đức tin không có hướng về Kinh Thánh mà về Đấng Christ.” Sự chọn lựa hay là/hoặc này cũng được khẳng định trong câu này: “Chúng ta được gắn kết với Đấng Christ, không phải với sự dạy dỗ.” Cùng tác giả đó nói rằng, “Lẽ thật là về con người, không phải về sự dạy dỗ.” Thêm nữa là, “Các vấn đề của sự dạy dỗ không phải là thành phần của nền tảng nhưng thuộc về kiến trúc bề mặt của sự gây dựng tín đồ Đấng Christ.”

Những câu nói như vậy đang làm cho lạc lối nghiêm trọng, không phải về những gì mà chúng đã khẳng định, nhưng về những gì mà chúng đã chối bỏ. Chúng khẳng định rằng đức tin của chúng ta là ở trong Đức Chúa Jêsus, và đây là sự thật. Nhưng chúng chối bỏ đức tin của chúng ta ở trong những lời tuyên bố hay những lời dạy dỗ, và sự chối bỏ này là không chính xác. Đức tin theo Kinh Thánh hướng về cả Đức Chúa Jêsus và cả những lời tuyên bố hay những lời dạy dỗ. Chúng ta tin vào Đức Chúa Jêsus (Giăng 3:16) hay trên Đức Chúa Jêsus (Công vụ 16:31). Đây là khía cạnh đáng tín nhiệm của đức tin. Nhưng có khía cạnh tất yếu ngang bằng khác của đức tin, ấy là, sự ưng thuận với lẽ thật của các lời tuyên bố cụ thể. Kinh Thánh nhắc đến một vài lời dạy dỗ này một cách cụ thể. Hêbơrơ 11:6 nói rằng chúng ta phải tin rằng Đức Chúa Trời tồn tại và Ngài sẽ ban thưởng cho những ai tìm kiếm Ngài. Đức Chúa Jêsus đã nói với những người không tin rằng Ngài chính là Đấng mà Ngài đã xưng nhận thì sẽ chết trong tội lỗi của họ (Giăng 8:24). Giăng đã viết sách tin lành của ông để chúng ta có thể tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời (Giăng 20:31). Những ai tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến cho Đức Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết sẽ được cứu (Rôma 10:9).

Bên cạnh những câu đặc biệt này, thì chúng ta được hướng dẫn tin vào những lẽ thật được bày tỏ nói chung. Đức Chúa Jêsus thúc đẩy chúng ta tin vào tin lành (Mác 1:15). Ngài lên án những người Giuđa vì không tin lời của Ngài (Giăng 5:47). Phaolô bày tỏ đức tin của ông trong mọi điều đã được viết trong luật pháp và các đấng tiên tri (Công vụ 24:14). Việc từ chối tin vào lẽ thật sẽ bị đoán phạt (2 Têsalônica 2:12, 13).

Những sự ám chỉ này chứng tỏ sai lầm nghiêm trọng khi nói rằng đức tin không có liên quan gì đến sự dạy dỗ. Ý tưởng rằng cá nhân Đấng Christ có thể được tách riêng khỏi những lời tuyên bố hay lẽ thật nào đó về Đấng Christ là vô lý. Chính lý do mà chúng ta tin vào Đấng Christ chính là việc chúng ta tin vào những điều cụ thể về Ngài. Nếu không thì làm sao chúng ta có thể giải thích đức tin của chúng ta trong Đấng Christ, hơn là trong Phật hay thậm chí là vào Hít-le?

Chúng ta cũng nên chú ý rằng sự dạy dỗ là thành phần của nền tảng của Hội Thánh, vì sự gây dựng tín đồ Đấng Christ được “dựng lên trên nền của các Sứ Đồ cùng các đấng tiên tri” (Êphêsô 2:20). Theo cách nào mà các Sứ Đồ có thể là nền của Hội Thánh ngoại trừ qua sự dạy dỗ của họ?

Chính Kinh Thánh đặt sự nhấn mạnh sâu sắc lên sự dạy dỗ. Phaolô nói rằng Kinh Thánh ngay từ đầu là có ích cho sự giảng dạy (2 Timôthê 3:16). Các môn đồ Đấng Christ ban đầu tiếp tục giao phó chính mình họ trước tiên cho sự dạy dỗ của các Sứ Đồ (Công vụ 2:42). Những người lãnh đạo Hội Thánh được thúc đẩy tập trung vào sự dạy dỗ. Phaolô nói với Timôthê tập trung vào việc “khuyên bảo và dạy dỗ.” Ông nói rằng, “Hãy giữ chính mình con và sự dạy dỗ của con; phải bền đỗ trong mọi sự đó, vì làm như vậy thì con và kẻ nghe con sẽ được cứu” (1 Timôthê 4:13, 16). Lời khen ngợi đặc biệt dành cho các trưởng lão giữ chức việc rao giảng và dạy dỗ (1 Timôthê 5:17).

Nếu như sự dạy dỗ là một trong những sự nhấn mạnh chính của Kinh Thánh, thì nó cũng không nên được nhấn mạnh trong sự dạy dỗ của chúng ta sao – trong các bài giảng của chúng ta, trong các chương trình thanh niên, trong chương trình giảng dạy cắm trại của chúng ta, trong các học viện của chúng ta, và trong nhà chúng ta?

Tầm Quan Trọng Của Đạo Lành #

Một điều tệ hại hơn cả việc không có sự dạy dỗ gì là sự dạy dỗ sai trái. Kinh Thánh dạy chúng ta không chỉ quan tâm đến đạo lý, mà còn với đạo lành nữa. Có những điều như là lẽ thật, và có những điều là sự sai lầm. Chúng ta có thể và phải biết được sự khác nhau giữa chúng.

“Đạo lành” là một khái niệm thuộc Kinh Thánh rõ ràng. Phaolô nói với Tít rằng “phải dạy những điều hiệp với đạo lành” và làm tấm gương về cả các việc lành và về “sự dạy dỗ thánh sạch” (Tít 2:1, 7). Ông nói Timôthê là “giữ lấy mẫu mực của các sự dạy dỗ có ích” và chính ông được nuôi bởi đạo lý lành (2 Timôthê 1:13; 1 Timôthê 4:6). Ông nói rằng, sẽ có một thời mà khi đó người ta không chịu nghe đạo lý lành nữa, nhưng điều đó chỉ khiến cho cần thiết hơn để “giảng đạo” (2 Timôthê 4:2, 3).

Một sự nhấn mạnh tương tự là sự nhấn mạnh của Kinh Thánh vào lẽ thật. Đức Chúa Trời “muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật” (1 Timôthê 2:4). “Đức tin trong lẽ thật” là một điều kiện cần thiết cho sự cứu rỗi (2 Têsalônica 2:12; 13). Giăng đã viết rằng ông lấy làm vui mừng khi các môn đồ Đấng Christ bước đi trong lẽ thật: “Tôi nghe con cái tôi làm theo lẽ thật, thì không còn có sự gì vui mừng hơn nữa” (3 Giăng 3, 4).

Trái ngược với lẽ thật hay đạo lành là đạo giả dối hay đạo sai, những thứ mà bị lên án nặng nề trong Kinh Thánh. Một cách căn bản thì các đạo giả dối là đến từ Satan. Phaolô đã cảnh báo về “đạo lý của quỷ dữ” (1 Timôthê 4:1). Những người chống nghịch lẽ thật là đang ở trong “lưới của ma quỷ” (2 Timôthê 2:23-26), đặc điểm chính của chúng là sự giả dối (Giăng 8:44). Cuộc tấn công cuối cùng của Satan sẽ là một hàng rào to lớn của những sự lừa gạt và dối trá (2 Têsalônica 2:9-12; Khải Huyền 20:8).

Việc dạy dỗ đạo lý giả dối bị lên án (Galati 1:6-9; 1 Timôthê 6:3-5; 2 Phierơ 2:1-3). Việc tin vào đạo lý giả dối cũng bị lên án (2 Phierơ 3:16, 17; 2 Têsalônica 2:10, 12), và cũng như vậy đối với việc ủng hộ hay khích lệ đạo lý giả dối (2 Giăng 9-11). Chúng ta được hạ lệnh là phải tra xét các thầy giáo để thấy liệu rằng họ có phải là tiên tri giả hay không (1 Giăng 4:1-3).

Các trưởng lão đặc biệt có trách nhiệm gấp đôi về việc dạy dỗ đạo lành và bác bẻ các thầy giáo giả (Tít 1:9-14).

Chúng ta học được gì từ sự dạy dỗ của Kinh Thánh về đạo lành? Một vài bài học có thể được gợi ý ra.

1. Chúng ta phải đánh giá giữa đạo lành và đạo giả dối. Bất cứ điều gì mà được dạy nhấn mạnh trong Kinh Thánh là lẽ thật, và bất cứ điều gì trái ngược lại là giả dối. Nếu Đức Chúa Trời mong muốn chúng ta hiểu Lời của Ngài (và Ngài thật như vậy), thì Ngài cũng mong chúng ta biết sự khác biệt này. Để chối bỏ điều này là chối bỏ chính sự khác nhau giữa lẽ thật và sự giả dối. Nó khiến cho sự lên án của Kinh Thánh về đạo giả dối thành vô ích. Một phần nhiệm vụ của các trưởng lão là bác bẻ lại những người chống nghịch lại đạo lành, và “quở nặng họ, hầu cho họ có đức tin vẹn lành” (Tít 1:9, 13). Việc phán xét một đạo lý là giả dối bày tỏ lòng yêu mến lẽ thật (2 Têsalônica 2:10), tình yêu dành cho Hội Thánh (Công vụ 20:28-30), và tình yêu thương dành cho người đang trong sự sai trái.

2. Đức tin vào các đạo lý cụ thể là một điều kiện cho sự cứu rỗi và sự thông công. Sự khác biệt giữa các yếu tố cần thiết và các yếu tố không cần thiết đã được nhận ra từ lâu rồi. Việc chấp nhận các vấn đề cụ thể về đức tin là điều tất yếu cho sự cứu rỗi. Những yếu tố cần thiết này là gì? Tối thiểu nhất, thì thông thường nó được ưng thuận rằng một người phải xưng nhận Đức Chúa Jêsus là Chúa, hay Ngài là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời hằng sống. Điều này còn liên quan nhiều hơn nữa phải không? Vâng, như trong phần tiếp theo sẽ bày tỏ.

3. Đạo lành bao gồm không chỉ “bày tỏ các câu Kinh Thánh” mà còn về ý nghĩa được định và chính xác của các câu đó. Một từ hay câu phải không được tách biệt với ý nghĩa của nó như đã được dự định ban đầu bởi tác giả của nó. Nếu một lời khẳng định đặc biệt là cần thiết cho sự cứu rỗi, thì cũng vậy với sự hiểu biết chính xác về nó. Nếu như “việc bày tỏ các câu Kinh Thánh” là những lý do cho đức tin, thì những ý nghĩa được dự định của các câu đó cũng như vậy.

Chắc chắn rằng có những sự khác nhau về ý kiến và sự giải nghĩa giữa những tín đồ trung tín, đa số chúng không cần làm xáo động sự thông công của họ chút nào. Điều này đặc biệt đúng ở những nơi mà ý nghĩa của một đoạn trích rất khó để nhận biết, hay nơi mà vấn đề không có gì quan trọng.

Vấn đề đó là một vài người cố gắng đặt tất cả các sự giải nghĩa vào trong danh sách của “ý kiến cá nhân” và đối xử với chúng như là các yếu tố không cần thiết. Một tác giả nói rằng, “sự xưng nhận duy nhất của đức tin mà bất cứ ai có một quyền để đòi hỏi cho một sự tham dự buổi thông công” đó là sự xưng nhận về Đức Chúa Jêsus Christ: rằng Ngài là Chúa, hay là Đấng Christ, hay là Con của Đức Chúa Trời. “Người đó không cần phải bày tỏ các quan điểm của mình về bản chất của Kinh Thánh, sự cứu chuộc, sự đến thứ hai của Đấng Christ hay nhiều đạo lý quan trọng khác.” Một người khác đã nói rằng những vấn đề như vậy như là tính không thể sai lầm được của Kinh Thánh, sự giáng sanh đồng trinh của Đấng Christ, sự cứu chuộc thay thế của Ngài, sự sống lại trong thân thể của Ngài, và sự đến thứ hai của Ngài “không có trong lời xưng nhận tốt lành” rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời hằng sống.

Tuy nhiên, tư tưởng như vậy là không chấp nhận được, bởi vì nó cho rằng lời nói có thể được tách rời khỏi các ý nghĩa của chúng. Khi một tác giả sử dụng một từ hay sử diễn đạt, ông dùng nó với một ý nghĩa đặc biệt, mà nó thường đủ rõ ràng. Điều này là chính xác với các tác giả được hà hơi của Kinh Thánh.

Vậy thì, việc tách rời những lời khẳng định đơn thuần về Đức Chúa Jêsus khỏi sự hiểu biết hay sự giải nghĩa về chúng có khả thi hay không? Những lời giải nghĩa cụ thể có thể không sai sót, thậm chí sai đến mức mà chúng là những sự chối bỏ thực sự của sự dạy dỗ của Kinh Thánh về Đấng Christ sao?

Đây là một vài ví dụ. Các nhà khoa học cơ đốc nhân xưng nhận Đức Chúa Jêsus như là Đấng Christ, nghĩa là nguyên lý về lẽ thật làm sống lại con người Jêsus, khiến cho Ngài có thể đuổi ra những sai lầm hay bệnh tật. Một người theo chủ nghĩa tự do đương đại xưng nhận rằng Đức Chúa Jêsus là Chúa, có nghĩa rằng Ngài là “mục tiêu hay giới hạn mà cuộc sống của loài người hướng về.” Các nhân chứng của Đức Giêhôva xưng nhận Đức Chúa Jêsus như là Con của Đức Chúa Trời, có nghĩa rằng Ngài được tạo ra bởi Đức Chúa Trời như là vật tạo dựng đầu tiên. Trong mỗi trường hợp, dù các từ đều là thuộc về Kinh Thánh, nhưng những ý nghĩa gắn liền với chúng thực sự lại là một sự chối bỏ sự dạy dỗ của Kinh Thánh.

Khi một người xưng nhận Đức Chúa Jêsus như là Đấng Christ, người đó phải muốn nói về những gì mà Kinh Thánh muốn nói qua nó – rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế được hứa và được xức dầu, Đấng mà sự chết thay thế của Ngài cứu dân sự của Ngài khỏi tội lỗi của họ. Để xưng nhận Đức Chúa Jêsus như là Con của Đức Chúa Trời, người đó phải muốn nói, như là Kinh Thánh nói, rằng Ngài là Đức Chúa Trời đời đời trong xác thịt (xem Giăng 5:17-47; 10:25-39). Để xưng nhận Ngài như là Chúa thì phải nhận biết được chiến thắng của Ngài trên sự chết qua sự sống lại thể xác của Ngài (Rôma 10:9, 10), và sự đến thứ hai của Ngài khi quyền cai trị của Ngài sẽ được bày tỏ cho tất cả loài người (Philíp 2:11; Khải Huyền 19:16).

Một người có thể không hiểu được tất cả đều dính líu với nhau trong sự xưng nhận khi mà người đó mới nói nó lần đầu tiên, nhưng người đó chắc chắn không thể cố ý chối bỏ bất cứ khía cạnh nào về ý nghĩa của nó. Để chối bỏ ý nghĩa đã được định là chối bỏ sự thật.

4. Đạo lành là quan trọng, thậm chí khi nó không cần thiết cho sự cứu rỗi. Chắc chắn một người có thể được cứu mà không biết hết mọi lẽ thật. Có lẽ người đó có thể được cứu thậm chí nếu như người đó chối bỏ điều gì đó là lẽ thật. Nhưng nếu như một đạo lý là lẽ thật, thì nó là một vấn đề của đức tin, không phải là một vấn đề về quan điểm. nó nên được tin, thậm chí nếu như niềm tin như vậy không phải là một điều kiện của sự cứu rỗi. Nó là một “lẽ thật quan trọng,” thậm chí nếu như nó không phải là một thử thách của sự thông công. Nó quan trọng cho dù đạo lý của ai đó là tốt lành hay không.

5. Các đạo lý không phải là những thử thách về tình thông công thì vẫn có thể là những thử thách về tính lãnh đạo. Để chối bỏ điều này tức là chối bỏ khái niệm về sự phát triển của môn đồ Đấng Christ, và sự khác nhau giữa con trẻ và thành nhân về mặt thuộc linh. Các trưởng lão phải “hằng giữ đạo thật y như đã nghe dạy, hầu cho có thể theo đạo lành” (Tít 1:9). Làm sao họ có thể thực hiện nghĩa vụ bác bỏ đạo lý giả của họ nếu như chính họ đang trong sự sai lầm? Điều này đặc biệt đúng với những lỗi sai nghiêm trọng như là chối bỏ tính không thể sai lầm được của Kinh Thánh, chấp nhận thuyết tiến hóa, xác nhận về sự hiện hữu của các ơn kỳ lạ, và việc chối bỏ bản chất thay thế, làm lành của sự chết của Đức Chúa Jêsus. Dĩ nhiên, điều này có thể được áp dụng như thế nào phụ thuộc vào Hội Thánh địa phương riêng lẻ; những mỗi người lãnh đạo nên nhận biết và yêu mến lẽ thật.

Một điều rõ ràng là; nếu như chúng ta nghiêm túc về việc vâng phục của chúng ta với thẩm quyền của Kinh Thánh, thì chúng ta phải hành động có trách nhiệm với lòng yêu mến dành cho đạo lành.

12 #

Sự Dạy Dỗ Trong Sự Công Bình #

Thi Thiên 119:9-16, 33-40; Hêbơrơ 8:6-8, 13

Kinh Thánh là quy tắc tiêu chuẩn hoàn toàn đầy đủ của chúng ta về đức tin và việc làm. Như 2 Timôthê 3:16 nói rằng, nó là có ích cho “sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình”. Nó nói cho chúng ta về việc chúng ta nên hành động như thế nào, chúng ta phải sống như thế nào. Nó cung cấp điều cơ bản cho mọi quyết định đạo đức; nó chỉ dạy chúng ta về những gì là đúng và những gì là sai.

Đa số các tín đồ Đấng Christ nhận ra rằng Kinh Thánh là thẩm quyền cuối cùng về vấn đề đạo đức, nhưng nhiều người hoàn toàn không chắc chắn việc sử dụng nó như vậy như thế nào. Trong chương này, chúng ta sẽ hầu như tập trung vào các nguyên tắc cho việc sử dụng Kinh Thánh trong việc đưa ra những quyết định đạo đức.

Chọn Lựa Một Quy Tắc Tiêu Chuẩn #

Làm thế nào mà bất cứ ai quyết định được những việc làm nào là đúng và những cái nào là sai? Dựa vào điều gì mà một người đưa ra những quyết định như vậy?

Nhiều người nghĩ rằng chỉ mình trí tuệ của con người là đủ để xác định đúng và sai. Tức là, nếu như một người chỉ vừa mới ngồi xuống và nghĩ nó xuyên suốt rất cẩn thận, chắc chắn người đó sẽ nhận ra rằng những việc làm cụ thể phải được thực hiện và những việc khác được tránh đi. Đây là cách tiếp cận của các nhà triết học trong hàng ngàn năm. Vấn đề duy nhất đó là, các nhà triết học này, tất cả đều sử dụng những năng lực trí tuệ như nhau, và chưa bao giờ có thể ưng thuận về một tiêu chuẩn thống nhất về đạo đức.

Trong thế giới ngày nay, một ý tưởng phổ biến đó là không có quy tắc tiêu chuẩn khách quan duy nhất nào mà áp dụng giống nhau với mọi người. Nhiều người đang nói rằng mỗi người nên đơn giản tự đánh giá cho chính mình những gì là đúng đối với người đó. Như một sinh viên tốt lớp nghiệp cấp ba tuyên bố rằng, “nếu chúng ta sẽ có các phẩm chất đạo đức, thì hãy có những phẩm chất theo cá nhân. Mọi người nên tạo ra những quy tắc của chính mình.”

Thậm chí nếu như điều này là thật, thì chúng ta vẫn sẽ phải hỏi rằng, dựa trên cơ sở nào mà một người nên quyết định? Câu trả lời phổ biến ngày nay đó là thỉnh thoảng sâu bên trong bạn sẽ nói cho bạn liệu rằng một hành động là đúng hay sai. Như một tác giả đã nói rằng, “Hầu như ‘những quan điểm’ của tôi được hình thành bởi một cảm giác trong lòng mà nói với tôi là ‘điều này đúng’ hay ‘điều này sai.’” Một người đọc tiếng Anh thiết kế cho sinh viên năm nhất cao đẳng đặt nó theo cách này: “đạo đức là những gì bạn cảm thấy tốt sau đó.” Những người khác thì đi theo tục ngữ cũ rằng, “Luôn luôn để lương tâm của bạn dẫn dắt bạn,” như thể lương tâm là thẩm quyền gì đó bên trong mà không thể sai trái được về các phẩm chất đạo đức.

Nhiều người không bao giờ ngừng suy nghĩ về bộ máy đưa ra quyết định về đạo đức. Họ chỉ bị thu hút một cách vô thức bởi các quy tắc tiêu chuẩn (hay bất quy tắc) về phương tiện truyền thông và phong tục tập quán của chúng ta nói chung. Ví dụ, các tiêu chuẩn đạo đức được khuyến khích trên TV trở nên in sâu vào trong tâm trí không hay chỉ trích của chúng ta và được làm theo một cách vô thức. (Điều này không nghi ngờ gì về việc làm thế nào mà “những cảm giác trong lòng” và “lương tâm” của nhiều người được hình thành.)

Nếu như đây là cách mà phẩm chất đạo đức được định đoạt, đó là, nếu như nó là chủ quan và có liên quan, thì chúng ta hãy sẵn sàng để chấp nhận các hậu quả: (1) Sẽ không bao giờ có sự thống nhất chung về các quy tắc tiêu chuẩn đạo đức. (2) Chúng ta sẽ không bao giờ có thể kết tội bất cứ ai – một kẻ hãm hiếp, một kẻ tàn ác, một Hitle – cho việc làm những gì mà “những cảm giác trong lòng” của người đó nói với người đó là đúng đắn. (3) Cuối cùng, đạo đức sẽ được quyết định bởi kẻ mạnh nhất: “sức mạnh quyết định đúng sai.”

Đây là cách mà nó phải như vậy phải không? Đây chỉ là cách duy nhất mà cách quyết định về đạo đức có thể được đưa ra sao? Nó là như vậy – nếu như không có Đức Chúa Trời, Đấng đã phán ra Lời của Ngài. Như một trong các nhân vật của Dostoevsky nói rằng, “Nếu như không có Đức Chúa Trời, thì mọi thứ đều được cho phép.”

Nhưng đây là điểm chính xác: có một Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời đã phán! Ngài đã cho chúng ta một quy tắc tiêu chuẩn khách quan, thống nhất, tuyệt đối cho đạo đức: Kinh Thánh. Điều này khiến cho mọi sự kêu cầu đến “cảm giác” bên trong, chủ quan nào đó thành vô ích. Thậm chí một lời kêu gọi của tín đồ Đấng Christ với mục đích tốt cho “sự chỉ dẫn bên trong của Đức Thánh Linh” cũng là vô ích. Đức Thánh Linh không chỉ dẫn chúng ta từ trong lòng, nhưng từ bên ngoài, qua Lời được ghi chép một cách khách quan mà Ngài đã hà hơi.

Kinh Thánh là thẩm quyền cuối cùng về vấn để đạo đức, nhưng chúng ta phải đưa ra một sự chọn lựa có ý thức để vâng phục thẩm quyền của nó. Nếu như chúng ta không tỉnh táo tìm đến Kinh Thánh, thì chúng ta sẽ hầu như bị thu hút bởi những phẩm chất đạo đức đang chiếm ưu thế và các kiểu mẫu của phong tục tập quán của chúng ta. Hiểu được điểm này là chủ yếu quan trọng cho tất cả, nhưng lại rất quan trọng với cha mẹ, những người chịu trách nhiệm cho việc rèn luyện con cái của họ theo đường lối của Đức Chúa Trời.

Phân Tích Lời Một Cách Đúng Đắn #

Cho dù nó không còn là bản dịch được ưa thích của 2 Timôthê 2:15, nhưng khái niệm về “lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật” là rất quan trọng cho việc đưa ra quyết định. Chúng ta phải biết những phần khác nhau của Kinh Thánh áp dụng cho các trường hợp hiện tại của chúng ta như thế nào.

Về tầm quan trọng cơ bản là sự phân biệt mang tính lịch sử giữa thời kỳ giao ước cũ và thời kỳ giao ước mới. Điểm trọng tâm của Kinh Thánh và của chính lịch sử là việc làm của Đức Chúa Jêsus Christ, đặc biệt là sự chết và sự sống lại của Ngài. Đức Chúa Trời đã bắt đầu sự chuẩn bị mang tính lịch sử cho điều này ngay khi tội lỗi bước vào thế gian (Sáng thế ký 3:15).  Nhân tố chính trong sự chuẩn bị này là sự nuôi dưỡng chọn lọc và lâu dài của quốc gia Ysơraên. Qua sự liên kết đặc biệt của Ngài với mốt quốc gia này, Đức Chúa Trời đã tạo ra được môi trường thích hợp cho sự đến của Đấng Christ.

Mối quan hệ duy nhất của Đức Chúa Trời với dân Ysơraên được gọi là “giao ước cũ.” Điều này bao gồm một hệ thống các luật pháp đặc biệt giúp gìn giữ một trạng thái của sự thánh sạch và tin kính, và nó cũng chỉ ra trước về công việc của Đấng Christ. Cũng có một bộ phận của sự bày tỏ tiên tri mà được gây dựng nên trong vòng dân Ysơraên một sự chờ mong mãnh liệt về sự đến của Đấng Cứu Thế. Vì vậy khi Đấng Christ đến, Ngài đến với dân thánh (có mối quan hệ), dân mà đang mong đợi Ngài.

Nó là quan trọng cho chúng ta để thấy được rằng dưới giao ước cũ, thì mọi việc mà Đức Chúa Trời làm liên quan đến dân Ysơraên là sự chuẩn bị cho sự đến của Đấng Christ. Điều này đặc biệt đúng với luật pháp của Môi-se, liên quan đến các nghi thức và nghi lễ mà đã quy định cho đời sống tôn giáo và quần chúng của dân Ysơraên. Rất nhiều chứ không phải là đa số luật pháp Môi-se đều chỉ áp dụng cho quốc gia đặc biệt này trong vai trò chuẩn bị của họ. Sau khi Đấng Christ đến và hoàn thành công việc của Ngài, giao ước cũ bị bỏ đi. Mối quan hệ duy nhất của dân Ysơraên với Đức Chúa Trời bị bãi bỏ, cùng với tất cả các lễ nghĩ chi tiết và các điều lệ xã hội. Xem Êphêsô 2:11-22 và toàn bộ sách Hêbơrơ.

Vì công việc mang tính lịch sử của Đấng Christ không thể hoàn thành cho đến sự sống lại của Ngài, giao ước cũ vẫn có hiệu lực xuyên suốt hầu hết cuộc đời và sự hầu việc của Đức Chúa Jêsus. Đây là lý do tại sao, thậm chí trong các sách tin lành, mọi người vẫn còn vâng phục luật pháp của Môi-se.

Với sự chết của Đức Chúa Jêsus, một giao ước mới được thành lập, cái mà áp dụng cho mọi dân tộc, bao gồm cả dân Ysơraên. Những người như chúng ta, biết được giao ước mới và tìm kiếm sống theo nó là Hội Thánh, hay là dân Ysơraên mới của Đức Chúa Trời. Các luật pháp xã hội và tôn giáo cần thiết bởi vai trò chuẩn bị duy nhất của quốc gia Ysơraên đã không còn hiệu lực nữa. Những mạng lệnh duy nhất từ Cựu Ước mà áp dụng cho Hội Thánh là những gì bày tỏ luật pháp đạo đức đời đời của Đức Chúa Trời, những gì mà trình bày các nguyên tắc và quy luật mà luôn luôn có hiệu lực và ở bất cứ đâu, chỉ bởi vì Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời. Thậm chí chúng được bày tỏ trong khi Cựu Ước vẫn còn đang có hiệu lực, thì những lời dạy của Đức Chúa Jêsus trong các sách tin lành cũng được áp dụng, vì Ngài đang ban cho những lời chỉ dẫn cho dân sự mới của Ngài, Hội Thánh. Dĩ nhiên phần còn lại của Tân Ước cũng áp dụng cho Hội Thánh nữa.

Vì vậy khi chúng ta như là các tín đồ Đấng Christ tìm cách để xác định điều gì là đúng và sai cho chúng ta ngày nay, nguồn căn bản của chúng ta là Tân Ước, cùng với những nguyên tắc đạo đức có giá trị đời đời từ Cựu Ước (những gì mà thường xuyên được lặp lại trong Tân Ước theo bất cứ cách nào).

Một câu nữa cần được nói về việc sử dụng chính Tân Ước. Đó là việc được tin phổ biến rằng một vài phần của nó có thẩm quyền hơn những phần khác. Nhiều người nghĩ rằng những lời dạy dỗ của Đức Chúa Jêsus (đôi khi được in thành màu đỏ) có thẩm quyền nào đó hơn phần còn lại của Tân Ước. Điều này không phải là như vậy. Ví dụ, bài giảng ở trên núi, không có thẩm quyền gì hơn so với sách Rôma và 1 Phierơ, bởi vì toàn bộ Tân Ước hoàn toàn đến từ Đức Chúa Jêsus qua Đức Thánh Linh. Xem Giăng 16:13-15.

Chúng ta cũng nên lưu ý rằng đời sống và tấm gương của Đức Chúa Jêsus không có gì nặng ký hơn phần còn lại của Tân Ước. Thực tế, nhiều lúc đời sống của Ngài không phải là một tấm gương cho chúng ta, hay là nó được định như vậy. Sự hầu việc của Ngài là duy nhất. Đức Chúa Jêsus đã không đến thế gian này chỉ đơn giản để bày tỏ cho chúng ta thấy làm thế nào để sống một đời sống hoàn hảo. Ngài đến để chết cho tội lỗi của chúng ta, và đời sống hoàn hảo của Ngài là cần thiết cho sự dâng tế lễ hoàn hảo của Ngài. Để nhìn vào Đức Chúa Jêsus chỉ đơn giản như là một tấm gương đạo đức thôi thì đã bỏ lỡ toàn bộ đại ý về sự vâng phục của Ngài.

Vì vậy, chúng ta nhìn vào Lời được viết của Đức Chúa Trời, được rao giảng một cách ngay thẳng, là quy tắc tiêu chuẩn thẩm quyền duy nhất cho phẩm chất đạo đức công bình.

Áp Dụng Các Nguyên Tắc Chung #

Một vài năm trước, một cuộc nghiên cứu bày tỏ rằng đa số những người hầu việc đạo tin lành xem Kinh Thánh là không thích hợp bởi vì “có ít sự hướng dẫn đặc biệt trong nó cho các vấn đề đặc biệt.” Đúng là Kinh Thánh không phải là một cuốn sách quy tắc chi tiết mà đưa ra những sự chỉ dẫn cụ thể cho mọi vấn đề có thể mắc phải ở mọi lúc và mọi nơi. Nhưng hơn là một nhược điểm, thì đây lại rõ ràng là đặc tính và điểm mạnh của Kinh Thánh: nó cung cấp các nguyên tắc chung mà thích hợp với bất cứ lứa tuổi và phong tục tập quán nào.

Nhận biết được sự thật này là một trong những bước quan trọng trong việc nghiên cứu cách sử dụng Kinh Thánh cho sự hướng dẫn về đạo đức. Một vài câu hỏi về đạo đức được nêu ra. Ví dụ, sự giang dâm bị lên án tuyệt đối (1 Côrinhtô 6:9-18). Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chúng ta được cho những nguyên tắc chung mà chúng ta được mong đợi để áp dụng vào những vấn đề đặc biệt một cách thành thật, thông minh và không ích kỷ.

Ví dụ, nằm dưới mạng lệnh, “người chớ giết người” (Xuất Êdíptô ký 20:13) là nguyên tắc cơ bản rằng mạng sống con người phải được tôn trọng theo mọi cách bởi vì nó được tạo dựng theo chính hình tượng của Đức Chúa Trời. Vì vậy, chúng ta bắt buộc phải hỏi về bất cứ thứ gì mà chúng ta làm, “Có phải điều này bày tỏ sự không tôn trọng và xem thường đối với một con người như sau không? Có phải nó vi phạm sự trung thực của mình như một người được tạo ra trong hình tượng của Đức Chúa Trời không?” Vậy việc giết người bị cấm đoán (Sáng thế ký 9:6), nhưng cũng như vậy với việc nguyền rủa bất cứ ai (Giacơ 3:9, 10), và sự hận thù (1 Giăng 3:15), và sự nhạo báng (Mathiơ 5:21, 22).

Khi chúng ta hiểu được rằng đây là cách mà Kinh Thánh có ích cho sự dạy dỗ trong sự công bình, nó trở nên rất thú vị để xem được làm thể nào nó chạm đến được mọi lĩnh vực đơn độc của cuộc sống. Ví dụ, có sự ứng dụng rộng rãi cho sự dạy dỗ của Kinh Thánh trên mục đích của chính quyền nhân dân, ấy là, sự công bình, điều mà bao gồm việc bảo vệ các quyền lợi của người vô tội và hình phạt những kẻ phạm tội (Rôma 12:17-13:7; 1 Timôthê 2:1-4; 1 Phierơ 2:13, 14). Điều này giúp chúng ta hiểu được lý do căn bản cho hình phạt tử hình và cuộc chiến phòng ngự. Nó giúp chúng ta biết làm thể nào để bỏ phiếu trong các cuộc bầu chọn. Nó giúp chúng ta giữ Hội Thánh khỏi việc chiếm đoạt trách nhiệm của chính quyền và ngược lại.

Mỗi tín đồ Đấng Christ, đặc biệt là mọi người rao giảng và thầy giáo, phải làm việc chăm chỉ để hiểu được các nguyên tắc chung của Kinh Thánh và áp dụng chúng vào những quyết định hằng ngày. Vậy sẽ khiến Kinh Thánh sống động đầy ý nghĩa, và chúng ta sẽ đọc vang câu đầy tình cảm của Thi Thiên, “Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy” (Thi Thiên 119:97).

13

Thẩm Quyền Của Kinh Thánh

1 Timôthê 6:12-16; Mathiơ 28:18-20; Gia cơ 1:21-25; Hơbơrơ 6:1-3; Luca 6:46-49

Chúng ta sẽ cho ai quyền cai trị trên chúng ta? Chúng ta sẽ giao phó tâm trí và ý muốn của chúng ta cho ai? Ai sẽ định đoạt điều gì đúng và sai? Ai sẽ đưa ra những quyết định liên quan đến đúng và sai? Ai sẽ có tiếng nói cuối cùng trong đời sống của chúng ta?

Lúc này thì đây là câu hỏi về thẩm quyền, thứ mà có sức mạnh và quyền để quyết định quy tắc hay tiêu chuẩn trong các vấn đề về lẽ thật và đạo đức, và để ra lệnh và bắt buộc tuân thủ theo quy tắc này. Đây là cái căn bản nhất trong tất cả các câu hỏi, vì tất cả các ý tưởng và các quyết định của chúng ta đều phụ thuộc hoàn toàn vào những gì mà chúng ta chọn lựa như là thẩm quyền cuối cùng của chúng ta.

Đường lối của người đương đại là từ chối mọi thẩm quyền đời đời trên chính bản thân mình và vì vậy đặt chính mình lên như là nhà cầm quyền của chính mình. Người đó nói một cách ngoan cố rằng, “Không có ai nói sẽ với tôi về những gì nên làm.” “Tôi sẽ là người phân xử cuối cùng; tôi sẻ quyết định điều gì đúng cho bản thân tôi.”

Chống nghịch lại sự tự trị kiêu ngạo như vậy, Đức Chúa Trời phán rằng, “KHÔNG! Ngươi chớ có Đức Chúa Trời nào khác ngoài ta!” Đây là nơi mà các tín đồ Đấng Christ đứng. Chúng ta nhận biết được quyền hoàn toàn của Đức Chúa Trời để cai trị trên chúng ta; chúng ta chịu phục Ngài trong sự đầu hàng không điều kiện. Chúng ta cũng nhận biết rằng Đức Chúa Trời thực thi quyền cai trị của Ngài trên chúng ta qua Đức Chúa Jêsus Christ và qua Lời của Ngài. Đây là điểm mà phải được học trong chương cuối này.

Đức Chúa Jêsus Là Chúa #

Trong Kinh Thánh, hai người đặc biệt được nêu tên khi đưa ra lời xưng nhận tốt lành. Một là Timôthê (1 Timôthê 6:12), nhưng trong trường hợp của ông thì chúng ta không biết các tình huống hay ngữ cảnh của nó. Người còn lại là chính Đức Chúa Jêsus, người đã đưa ra lời xưng nhận tốt “trước Bôn Xơ Philát” (1 Timôthê 6:13). Bản chất của sự xưng nhận của Ngài là gì? Ngài đã tuyên bố về quyền làm vua hay quyền cai trị của Ngài. Xem Giăng 18:37; 1 Timôthê 6:14-16.

Theo sau là ví dụ này, “sự xưng nhận tốt” của Hội Thánh luôn luôn là và tiếp tục là “Đức Chúa Jêsus là Chúa!” Khi đối mặt với Đấng Christ đã sống lại, Thôma người đang tin chỉ có thể khóc lên rằng, “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!” (Giăng 20:28). Cùng đức tin và sự xưng nhận tương tự là việc được yêu cầu dành cho tất cả những người sẽ nhận được sự cứu rỗi: “Vậy nếu miệng ngươi xưng Đức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu” (Rôma 10:9). Đức Thánh Linh ngự bên trong sẽ giúp cho môn đồ Đấng Christ thực hiện sự xưng nhận này thậm chí là dưới sự bắt bớ khủng khiếp (1 Côrinhtô 12:3). Bản chất và tình trạng cao quý của Ngài đã khiến cho nó phú họp rằng “mọi lưỡi thảy đều xưng Jêsus Christ là Chúa, mà tôn vinh Đức Chúa Trời, là Đức Chúa Cha” (Philíp 2:11).

Khi tín đồ Đấng Christ thực hiện sự xưng nhận này, như là người đó tiếp tục làm trong suốt cuộc đời của mình, thì người đó đang nói gì về Đức Chúa Jêsus? Ý nghĩa cơ bản theo từ gốc tiếng Hy Lạp cho Chúa là “chủ” (như trong ngôn từ của chúng ta là chủ nhà). Vậy chúng ta đang nói rằng Đức Chúa Jêsus là chủ của toàn bộ vũ trụ. Ngài là chủ bởi vì thậm chí trước khi Ngài trở thành con người, khi Ngài hiện hữu như là Ngôi Lời đời đời và thánh, thì Ngài đã tạo dựng mọi thứ có ngay từ ban đầu (Giăng 1:1-3). Ngài cũng là chủ bởi vì trong sự chết và sự sống lại như một con người, Ngài đã gặp và chiến thắng kẻ thù của Ngài và vì vậy giành được thế gian như là những chiến lợi phẩm của chiến thắng (Mathiơ 28:18; Khải Huyền 1:18). Bởi vì Ngài là Đấng tạo dựng và người chiến thắng, Ngài là Chúa, có thẩm quyền hoàn toàn trên mọi thứ.

Khi chúng ta như là các tín đồ Đấng Christ xưng nhận Đức Chúa Jêsus như là Chúa, chúng ta cũng đang nói điều gì đó về chính chúng ta. Chúng ta đang nhân biết rằng Đức Chúa Jêsus là Chúa của chúng ta, chủ của chúng ta. Đây là sự xưng nhận của chúng ta cho thẩm quyền tuyệt đối của Đức Chúa Jêsus trên đời sống của chúng ta. Chúng ta đang xưng nhận chính chúng ta là những người hầu việc của Ngài, những nô lệ tự nguyện của Ngài (Philíp 1:1). Trong sự đầu hàng không điều kiện, chúng ta đang nói rằng, “Không phải ý muốn của con, nhưng ý Ngài được thành.” “Theo cách của Ngài thôi, Chúa ôi.”

Trong con người Jêsus của Naxarét, chính Đức Chúa Trời đã xuống thế gian. Sự đánh giá đầy đủ về bản chất và thẩm quyền của Đức Chúa Trời nằm trên Ngài (Côlôse 2:9), và chúng ta khuất phục bản thân chúng ta với mọi lời tuyên bố mà Đức Chúa Trời dành cho chúng ta khi chúng ta nói rằng, “Đức Chúa Jêsus là Chúa.”

Lời Của Ngài Là Cuối Cùng #

Bất cứ ai có một sự đo lường chút gì đó về thẩm quyền đều thực thi nó qua những lời nói của mình. Đây là cách tự nhiên và hiệu quả để thẩm quyền được bày tỏ ra. Ví dụ, ai có thể quên được thẩm quyền vang vọng của những lời nói của Pharaon trong bộ phim “Mười điều răn” khi ông nói rằng, “Vì nó đã được viết xuống, nên nó sẽ được thành!” Người trong quyền lực quyết định những gì sẽ được thực hiện và nói nó theo dạng sắc lệnh hay mạnh lệnh.

Đây rõ ràng là cách mà Đức Chúa Jêsus thực thi quyền cai trị của Ngài: qua Lời của Ngài. Rằng Ngài là Chúa của vũ trụ và của cuộc đời của chúng ta sẽ không có ý nghĩa gì cả nếu như Ngài đã không làm cho ý muốn của Ngài có sẵn cho chúng ta qua Lời của Ngài. Điều này Ngài đã làm qua Kinh Thánh. Đặc biệt là sự bày tỏ Tân Ước – toàn bộ nó – là sự dạy dỗ của chính Đấng Christ. Xem Giăng 1:12-15. Đây là thể nào mà Ngài bày tỏ ý muốn của Ngài.

Vì Kinh Thánh là Lời của chính Đức Chúa Trời, đặc biệt Tân Ước là lời của Đấng Christ, nó nói với chúng ta về thẩm quyền của chính Đức Chúa Trời. thẩm quyền của Tân Ước chính là thẩm quyền của chính Đấng Christ. Hoàn toàn không có sự khác nhau nào giữa quyền cai trị cái nhân của Đức Chúa Jêsus Christ và quyền cai trị của Lời của Ngài, Kinh Thánh, như một vài người đã nghĩ. Chúng ta không phải chọn lựa giữa quyền cai trị của Đấng Christ và quyền cai trị của Kinh Thánh. Chúng chính xác là như nhau.

Hãy hình dung một người trẻ tuổi nói rằng, “Cha ơi, con tôn trọng là tôn kính thẩm quyền của cha.” Cha của người đó nói rằng, “Tốt! Ta cũng định nói con đi dọn phòng và đi đổ rác.” Tuy nhiên, các mệnh lệnh bị phớt lờ đi, vậy người cha hỏi một cách bực dọc, “con nói là con tôn trọng thẩm quyền của cha! Giờ thì con đang chối bỏ nó và chống nghịch lại nó sao?” Chàng trai trả lời rằng, “Không, con vẫn thừa nhận thẩm quyền của cha.” Người cha nói rằng, “Nhưng con đã không làm theo những gì mà ta đã nói!” Câu trả lời là, “À, đó chỉ là mạng lệnh, lời nói của cha mà thôi. Con vâng phục cha và thẩm quyền cá nhân của cha, chứ không nhất thiết là lời nói của cha.” Điều này thật là lố bịch, và cũng như vậy với bất cứ nỗ lực phân rẽ thẩm quyền của Đấng Christ với thẩm quyền của lời của Ngài, Kinh Thánh.

Kinh Thánh hoàn toàn có thẩm quyền bởi vì nó là Lời được hà hơi và không thể sai lầm của Đức Chúa Trời. Nếu nó không phải là Lời của Đức Chúa Trời, thì nó không có thẩm quyền; nhưng nếu nó Lời của Đức Chúa Trời – và nó là như vậy – thì nó nói với thẩm quyền của chính Ngài.

Vậy làm thế nào mà chúng ta bày tỏ sự vâng phục của chúng ta cho quyền cai trị của Đấng Christ? Chỉ bằng sự đầu hàng tuyệt đối, không điều kiện với những lời dạy dỗ của Lời của Ngài. Chúng ta phải chấp nhận lẽ thật của nó như đang trói buộc vào tâm trí của chúng ta, và các quy luật của nó như đang trói buộc vào ý muốn và phẩm chất đạo đức của chúng ta. “Trung thành với Đấng Christ và mọi lời dạy dỗ của Lời của Ngài” – không có cách nào khác! Lời của Ngài là cuối cùng!

Thái độ thực sự của một người với Đức Chúa Jêsus được bày tỏ trong thái độ của người đó với Kinh Thánh. Làm thế nào mà một tín đồ Đấng Christ có thể nói rằng, “Tôi biết đó là những gì mà Kinh Thánh nói, nhưng tôi không quan tâm”? Việc nói rằng “Đức Chúa Jêsus là Chúa” và việc chối bỏ Kinh Thánh là mâu thuẫn với nhau, giả hình và chống nghịch. Lời kết tội này đến từ chính Đức Chúa Jêsus rằng: “Sao các ngươi gọi ta: Chúa, Chúa, mà không làm theo lời ta phán?” (Luca 6:46).

Nếu Đức Chúa Jêsus là Chúa, thì Lời của Ngài là cuối cùng. Chúng ta phải để nó là thẩm quyền cuối cùng trong đời sống của chúng ta và trong Hội Thánh, trong mọi vấn đề về đức tin và việc làm.

Sự Hiểu Biết Về Kinh Thánh Là Bắt Buộc #

Nếu việc đầu hàng Đấng Christ như Chúa có nghĩa là sự vâng phục với Lời của Ngài, thì sự hiểu biết về Kinh Thánh là bắt buộc. Làm thế nào mà Đức Chúa Jêsus thực thi được quyền cai trị của Ngài trên chúng ta qua Lời của Ngài nếu như chúng ta không biết gì về Lời của Ngài? Đây là lý do tại sao sự hiểu biết về Kinh Thánh phải là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chương trình của Hội Thánh nói chung và trong đời sống của từng tín đồ Đấng Christ nói riêng.

Tất cả sẽ đồng ý rằng sự hiểu biết về Kinh Thánh trung bình của các môn đồ Đấng Christ rất thấp so với những gì mà nó nên có. Hội Thánh có thể làm gì để đem đến một cuộc cách mạng trong lĩnh vực cấp bách này? Một vài điều có thể được đưa ra.

1. Trưởng lão địa phương nên chủ trương nhấn mạnh sự hiểu biết về Kinh Thánh. Họ phải nhìn thấy rằng toàn bộ chương trình của Hội Thánh đều được lập ra để hoàn thành mục đích này. Họ cũng phải nghiêm túc trong việc phát triển sự hiểu biết cá nhân của chính họ về Kinh Thánh. Tại sao một học viện thần học và/hay sự giáo dục thần học không phải là mục tiêu của mọi trưởng lão? Nộp khoản học phí cần thiết sẽ là một khoảng đầu tư tốt cho bất cứ Hội Thánh địa phương nào.

2. Các người hầu việc phải quyết tâm để cho sự hiểu biết Kinh Thánh thành lĩnh vực ưu tiên của họ để chuyên sâu. Điều này sẽ bao gồm sự chuẩn bị nhiệt huyết, bao gồm việc huấn luyện ở mức độ trường thần học. Nó cũng nên bao gồm việc tiếp tục nghiên cứu không chỉ ở phần bọt mà còn ở phần đặc của các dữ liệu Kinh Thánh. Các Hội Thánh nên khích lệ việc nghiên cứu như vậy, cung cấp một ngân sách trợ cấp và thời gian nghỉ cho việc tiếp tục học tập đặc biệt.

3. Sự bày tỏ của Kinh Thánh và đạo lý của Kinh Thánh nên là nội dung chính cho tất cả các sự dạy dỗ và rao giảng trong Hội Thánh. Những lớp đặc biệt có thể được sắp lịch trong suốt năm. Việc huấn luyện giáo viên phải được thực hiện nghiêm túc.

4. Cách sử dụng những sự hỗ trợ nghiên cứu Kinh Thánh và các tài liệu phải được khích lệ. Thành lập và thúc đẩy một thư viện Hội Thánh. Giới thiệu những việc tham khảo cho mỗi gia đình để thực hiện. Đưa ra những lời phê bình ngắn về sách trong những tờ báo của Hội Thánh. Tránh những tài liệu trải nghiệm, chủ quan, phù phiếm.

5. Các Hội Thánh phải dành nhiều sự ủng hộ thực tiễn cho các trường và các lớp Kinh Thánh. Điều này bao gồm sự ủng hộ về tài chính từ ngân quỹ Hội Thánh. (Một Hội Thánh không ủng hộ các trường và lớp học Kinh Thánh giống như một người nông dân không bao giờ làm màu mỡ đất của mình, mà chỉ giữ việc nhận từ nó, và nhận từ nó, không bao giờ cho ngược lại nó, cho đến khi nó không bao giờ có thể cung ứng những gì mà người đó cần nữa.) Các Hội Thánh và phụ huynh tín đồ Đấng Christ phải khích lệ mỗi thanh niên tín đồ Đấng Christ trẻ tuổi tham gia trường thần học ít nhất một hoặc hai năm, không tính đến mục tiêu nghề nghiệp sau cùng của người đó.

Mặc dù sự hiểu biết về Kinh Thánh là bắt buộc, nó không phải là một kết thúc trong chính nó. Nó chỉ là điểm khởi đầu, điều căn bản mà chúng ta xây dựng sự thông công, sự thờ phượng, tình yêu thương của chúng ta trên đó (1 Timôthê 1:5). Mục đích cuối cùng của nó là sự vâng phục trọn vẹn cho quyền cai trị của Đấng Christ.

Đức Chúa Jêsus đã nói rằng bất cứ ai nghe lời của Ngài và làm theo thì giống như một người khôn ngoan xây nhà của mình trên đá (Mathiơ 7:24). Hòn đá là Đấng Christ và Lời của Ngài, Kinh Thánh. Kinh Thánh là vững chắc. Chúng ta hãy xây dựng ở trên nó.


[1] ND: ý tác giả nói đến Đức Chúa Trời có xuất hiện trong vườn Ê-đen, thì đó không phải sự hiện thân thật sự của Ngài. Vì cớ bản chất cơ bản của Ngài là không thể nhìn thấy bởi thể huyết khí.

Powered by BetterDocs

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *