HỘI THÁNH TÂN ƯỚC

Kiểu Chữ:
Cỡ Chữ:
100%
Màu Nền Đọc Thân Thiện:
ĐANG PHÁT AUDIO (STICKY PLAYER)

HỘI THÁNH TÂN ƯỚC

Tiến trình: 1/0 câu

HỘI THÁNH TÂN ƯỚC

Tiến sĩ Everett Ferguson

Dịch giả: Đồng T. Quý Hoàng

MỤC LỤC

GIỚI THIỆU.. 4

Bài 1: ĐIỀU MONG ĐỢI TRONG CỰU ƯỚC.. 5

Sự Hy Vọng Về Đấng Mê-Si 5

Thời kỳ Đấng Mê-si 6

Dân Sự Thuộc Đấng Mê-Si 7

Kết Luận. 7

BÀI 2: SỰ THÀNH LẬP CỦA HỘI THÁNH.. 9

Lời Hứa Của Đức Chúa Giê-Su. 9

Sự Làm Trọn Vào Ngày Lễ Ngũ Tuần. 10

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 12

BÀI 3: ĐẤNG CHRIST VÀ CÁC CƠ ĐỐC NHÂN.. 14

Thuật Ngữ Theo Cựu Ước. 14

Danh Xưng Cơ Đốc Nhân. 14

Các Danh Xưng Khác. 15

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 17

BÀI 4: CÁC ẢNH TƯỢNG CỦA HỘI THÁNH.. 19

Từ Hội Thánh. 19

Thân Thể. 20

Cô Dâu. 21

Tòa Nhà. 21

Kết Luận. 22

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 22

BÀI 5: PHÉP BÁP-TÊM… 24

Đại Mạng Lệnh. 24

Sự Chết, Sự Chôn Và Sự Sống Lại 25

Sự Tha Thứ Tội Lỗi 26

Sự Ban Cho Của Đức Thánh Linh. 26

Sự Hợp Nhất Vào Trong Hội Thánh. 26

Các Tiến Triển Sau Đó. 27

Kết Luận. 27

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 28

BÀI 6: ĐỜI SỐNG TRONG HỘI THÁNH.. 29

Phép Báp-Têm Và Đời Sống Cơ Đốc Nhân. 29

Sự Nhận Biết Đức Chúa Trời 29

Sự Thánh Hóa Của Đức Thánh Linh. 31

Tình Yêu Thương Của Đấng Christ 32

Thách Thức Của Các Phẩm Chất Đạo Đức Của Cơ Đốc Nhân. 32

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 33

BÀI 7: SỰ THÔNG CÔNG CỦA HỘI THÁNH.. 34

Sự Thông Công Trong Đấng Christ 34

Sự Thông Công Của Các Môn Đồ. 35

Các Hoạt Động Được Chia sẻ. 36

Sự Từ Chối Thông Công. 36

Việc Rút Phép Thông Công. 37

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 38

BÀI 8: SỰ THỜ PHƯỢNG CỦA HỘI THÁNH.. 39

Đức Chúa Trời Là Đối Tượng. 39

Trong Đấng Christ 40

Bởi Đức Thánh Linh. 41

Sự Gây dựng. 41

Các Yếu Tố Của Sự Thờ Phượng. 41

Những Lời Trình Bày Sau Cùng. 42

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 43

BÀI 9: LỄ TIỆC THÁNH.. 44

Sự Tạ Ơn. 44

Kỷ niệm.. 45

Giao Ước. 45

Sự Thông Công. 45

Bữa tiệc lớn của Đấng Mê-si 46

Sự Dâng Tế. 47

Ngày của Chúa. 47

Những Bày Tỏ Sau Đó. 47

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 48

BÀI 10: CÔNG VIỆC CỦA HỘI THÁNH.. 49

Chức Vụ Hầu Việc. 49

Sự Truyền Giáo. 50

Việc Từ Thiện. 51

Sự Gây Dựng. 51

Một Vài Ngụ Ý.. 52

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 52

BÀI 11: CHỨC VỤ TRONG HỘI THÁNH.. 54

Chức Vụ của Đấng Christ 54

Sự Hầu Việc Của Các Tín Đồ. 55

Các Sự Ban Cho Của Ân Điển. 55

Sử Dụng Các Sự Ban Cho. 55

Chức Vụ Lãnh Đạo. 56

Các Sứ Đồ Và Các Tiên Tri 56

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 57

BÀI 12: CÁC CHỨC VỤ VÀ SỰ SẮP XẾP. 59

Sự Tổ Chức. 59

Các Trưởng Lão. 60

Các Nhà Truyền Giáo Và Các Thầy Dạy Đạo. 60

Các Chấp Sự. 61

Sự Chọn Lựa Và Lễ Nhậm Chức. 61

Ý Nghĩa Tín Lý. 62

Các Phát Biểu Sau Cùng. 63

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 63

BÀI 13: VƯƠNG QUỐC VÀ HỘI THÁNH.. 65

Ý Nghĩa Của “Vương Quốc”. 65

Một Vài Ngụ Ý.. 66

Tóm Lại 67

Các Câu Hỏi Ôn Tập. 68

GIỚI THIỆU

Hầu hết những gì quen thuộc với những người nghiên cứu về tín lý Tân Ước của Hội Thánh sẽ được tìm thấy trong các bài học này. Nhưng cũng có một sự nhấn mạnh dành cho một vài hiểu biết và nét đặc trưng bị bỏ sót. Mục đích là để gây sự chú ý đến Đấng Christ – bản chất trọng tâm của Hội Thánh và mọi thứ về nó. Bản chất đoàn thể (nhóm) của đời sống trong Đấng Christ được nhấn mạnh khi tương phản với sự tiếp cận cá nhân.

Có lời đề nghị là học viên nên đọc qua mỗi chương vì mục đích chính của nó và sau đó quay lại học chi tiết hơn những tham khảo của Kinh Thánh liên quan đến từng điểm. Rất quan trọng để nhìn vào mỗi đoạn trích, vì đây là một bài học dựa trên Kinh Thánh. Các chuỗi bài học cũng sẽ giúp cho việc phát triển một phương pháp học Kinh Thánh, nếu học viên chăm chỉ sử dụng một sách chỉ dẫn và Kinh Thánh tham khảo tốt. Một từ điển Kinh Thánh mới, tốt cũng sẽ có ích. Qua việc nghiên cứu so sánh của các đoạn trích của Kinh Thánh, các sự liên kết chung của các ý tưởng sẽ dẫn đến các sự hiểu biết sâu hơn và những sự đánh giá mới về các sự dạy dỗ của Kinh Thánh.

Bài 1: ĐIỀU MONG ĐỢI TRONG CỰU ƯỚC

“Núi của nhà Ðức Giê-hô-va sẽ được lập vững trên đỉnh các núi… Mọi nước sẽ đổ về đó.” (Ê-sai 2:2)

Sự Hy Vọng Về Đấng Mê-Si

Mê-si là một từ Hê-bơ-rơ có nghĩa là “được xức dầu.” Những người hầu việc được chọn lựa đặc biệt của Đức Chúa Trời trong thời kỳ Cựu Ước được biệt riêng ra cho nhiệm vụ của họ bởi Việc xức dầu lên đầu họ. Chúng ta đọc về sự xức dầu trong việc bổ nhiệm các vị vua (1 Sa-mu-ên 10:1; 16:1, 13) và trong việc dâng tế lễ của các thầy tế lễ (Xuất Ê-díp-tô Ký 29:7; 30:22-33). Các tiên tri cũng được nói đến như được xức dầu (Thi Thiên 105:15), nhưng về việc xức dầu của họ không phải việc xức dầu theo nghĩa đen với dầu, hơn thế là một việc xức dầu ẩn dụ bằng Đức Thánh Linh (Ê-sai 61:1). Việc xức dầu là một dấu hiệu của phước lành, và việc làm này đánh dấu riêng một người ra cho sự ban phước của Đức Chúa Trời và người đó như là người được yêu mến của Chúa. Ý nghĩa mà việc làm này đối với dân Hê-bơ-rơ được định rõ trong Thi Thiên 133:1-2 về thầy tế lễ chí cao.

Khi khái niệm tiếng Hê-bơ-rơ được diễn đạt bằng tiếng Hy Lạp, từ được sử dụng là Christos (“Đấng Christ” – Giăng 1:41). Lu-ca, viết cho các đọc giả dân ngoại, những người mà không quen thuộc với tầm quan trọng mà thuật ngữ đối với dân Giu-đa, tình cờ đã định nghĩa về “Đấng Christ” trong Lu-ca 23:35 nơi ông nói về “Đấng Christ của Đức Chúa Trời, Đấng được chọn của Ngài.”

Trong Cựu Ước, có hy vọng rằng trong tương lai sẽ có một thời kỳ của phước lành và một Đấng Cứu Chuộc của dân sự sẽ đem đến những phước lành này. Đấng được miêu tả, được bày tỏ khác nhau: Tôi Tớ Của Đức Chúa Trời (Ê-sai 53); Con Người (Đa-ni-ên 7:13-14); Dòng Dõi Đa-Vít (Ê-sai 11:1-2, 10).

Mặc dù thuật ngữ “được xức dầu” có thể được sử dụng cho bất cứ ai được chọn của Đức Chúa Trời cho các mục đích của Ngài (ví dụ, vua Si-ru của xứ Persia), nó không được sử dụng trong Tân Ước một cách đặc biệt dành cho Đấng Cứu Chuộc được mong đợi. Vì đó là các vị vua và các thầy tế lễ ưu việt, những người là nhà lãnh đạo được xức dầu (Xa-cha-ri 4:14). Đó là tự nhiên khi các hy vọng trở nên tập trung vào một vị vua và thầy tế lễ được lý tưởng hóa mà thuật ngữ nên được dùng cho nhân vật quan trọng này.

Trong văn học giữa thời kỳ Cựu Ước và Tân Ước, có một sự phát triển của các khái niệm được tìm thấy trong Tân Ước. Một số trong các tác phẩm này nói về Đấng Mê-si hoàng tộc, một vị vua dòng Đa-vít, người sẽ mang đến sự giải phóng cho dân Giu-đa (Thi Thiên của Sô-lô-môn 17-18). Điều này dường như là dạng thịnh hành nhất về hy vọng Đấng Mê-si trong thời của Chúa Giê-su. Các tác phẩm khác chỉ nói về chính Đức Chúa Trời đang can thiệp vào vì cớ dân sự của Ngài mà không có sự ám chỉ đặc biệt nào về một tác nhân mà qua đó ý muốn của Ngài được hoàn thành (Jubilees 1:19-28). Các tài liệu khác trình bày về một nhân vật siêu nhiên xuất hiện vào thời kỳ cuối cùng để thực hiện các mục đích của Đức Chúa Trời (1 Enoch 39-71; so sánh Đa-ni-ên 7). Trong vòng các thành viên của Hội đồng Qumran (giờ được biết từ các cuộn sách Biển Chết), thì có một sự mong đợi của hai Đấng Mê-si – con vua Đa-vít để thực hiện quyền cai trị vua chúa, và con của A-rôn để trao quyền lãnh đạo dòng thầy tế lễ (Rule của the Community 9.11). Với hai Đấng này thì có thể được liên kết với tư tưởng về một Đấng tiên tri đi trước.

Cơ Đốc Nhân xem Đức Chúa Giê-su như một sự làm trọn của tất cả các bức tranh này về Đấng Mê-si. Ngài là con của Đa-vít, Đức Chúa Trời hiện hình bằng xác thịt, người siêu nhiên hay siêu phàm, và nhà tiên tri, thầy tế lễ và vị vua lý tưởng.

Thời kỳ Đấng Mê-si

Đối với dân Giu-đa điều quan trọng là tình trạng được sống trong thời Đấng Mê-si, mà “Đấng Mê-si” chỉ là một phần trong đó. Đối với các Cơ Đốc Nhân thì đó là Đấng mà “mang đến” Thời kỳ. Thời kỳ được nhận biết trong Con Người của Đức Chúa Giê-su.

Một phần của hy vọng thuyết mạt thế (“các sự kiện cuối”) của Cựu Ước tìm thấy sự diễn đạt trong niềm tin rằng Đức Chúa Trời sẽ làm một giao ước mới với dân sự của Ngài. Dân Y-sơ-ra-ên đã phá vỡ giao ước mà Đức Chúa Trời đã làm với tổ phụ của họ (Giê-rê-mi 11:10; so sánh 22:9), nhưng Đức Chúa Trời sẽ làm một “giao ước đời đời với họ” (Giê-rê-mi 32:40; so sánh Ê-xê-chi-ên 16:60). “Giao ước đời đời” này được nhắc đến trong các đoạn trích mà cũng nói về một đấng lãnh đạo được chọn đặc biệt: Ê-sai 55:3, 4 (so sánh Công vụ các Sứ đồ 13:34) và Ê-sai 61:1-9 (Lu-ca 4:18-19). Giao ước mới này sẽ không giống với giao ước được thực hiện dựa trên cơ sở của sự giải thoát khỏi Ê-díp-tô ở Si-nai (Giê-rê-mi 31:32) nhưng sẽ là một giao ước thuộc linh (Giê-rê-mi 31:33) liên quan đến một mối quan hệ được chọn của sự nhận biết (Giê-rê-mi 31:34).

Nó sẽ là một giao ước của sự tha thứ theo một cách mà giao ước cũ không làm được (Giê-rê-mi 31:34). Đây là đặc tính khác của thời kỳ Đấng Mê-si. Đó sẽ là một thời kỳ của sự tha thứ tội lỗi. Ê-xê-chi-ên đã lấy việc tẩy rửa theo nghi lễ của Cựu Ước để miêu tả về thời kỳ mà Đức Chúa Trời sẽ làm cho dân của Ngài được tẩy sạch và làm cho họ có thể tuân giữ được các sắc lệnh của Ngài (36:22-31). Đó sẽ là một sai lầm để nhìn vào đoạn trích này mà nói về nghi lễ Cựu Ước thực hiện cách thức đặc biệt về sự tẩy sạch của Cơ Đốc Nhân (“rải rắc,” Ê-xê-chi-ên 36:25; xem bài 5), nhưng nó cũng sẽ là một sai lầm khi không nhìn thấy trong đoạn trích này một sự ám chỉ tẩy sạch cho thế hệ tương lai của dân sự Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời sẽ tẩy sạch con dân của Ngài khỏi tất cả những ô uế của họ. Hành động tha thứ của Đức Chúa Trời phải được đi kèm với sự ăn năn của dân sự.

Một điều lưu ý trong Ê-xê-chi-ên là một sự liên kết của nước với sự tẩy sạch và về một tấm lòng mới với Đức Thánh Linh. Sự liên kết của sự tha thứ tội lỗi và sự hiện diện của Đức Thánh Linh là luôn có trong Kinh Thánh. Thời kỳ Đấng Mê-si cũng phải là một thời kỳ của Đức Thánh Linh.

Cũng như trong Ê-xê-chi-ên, việc tẩy sạch phải đi trước việc tiếp nhận Đức Thánh Linh. Vì Thánh Linh của Đức Chúa Trời là thần, Ngài không ngự ở nơi có tội lỗi. Sự tha thứ tội lỗi có trước sự ngự trị của Đức Thánh Linh. Ê-sai 59:20-21 nói về sự đến của một Đấng Cứu Chuộc cho Si-ôn và Chúa làm một giao ước với dân sự của Ngài: và giao ước đó sẽ là việc đặt Thần Linh của Chúa vào trong dân sự. Thật thú vị để lưu ý cách sử dụng mà Phao-lô dùng của đoạn trích này trong Rô-ma 11:26-27. Ông trích đoạn trích với sự khác nhau mà ông nói rằng giao ước sẽ là một việc “xóa đi tội lỗi của họ.” Một vài người nhìn thấy Phao-lô đang kết hợp sự trích dẫn của ông về Ê-sai 59 với đoạn trích giao ước mới của Giê-rê-mi 31. Có khả năng là Phao-lô đang đưa ra một trích dẫn để giải thích, nhìn thấy tầm quan trọng của việc ban cho của Đức Thánh Linh trong việc xóa bỏ tội lỗi. Trong bất cứ trường hợp nào thì không có gì có thể bày tỏ rõ ràng hơn sự kết hợp mật thiết của sự tha thứ và sự ban cho của Đức Thánh Linh đối với Phao-lô hơn cách sử dụng này của lời tiên tri Cựu Ước.

Thực ra, nét đặc trưng đặc biệt của thời kỳ Đấng Mê-si phải là sự sở hữu của Đức Thánh Linh (Giô-ên 2:28-32, được trích dẫn bởi Phi-e-rơ trong Công vụ các Sứ đồ 2:16-21). Chính Đấng Mê-si phải được trang bị đặc biệt với Thần Linh của Đức Chúa Trời (Ê-sai 61:1-2). Vậy Ngài có thể phân phát sự tha thứ tội lỗi và Đức Thánh Linh cho những người khác.

Dân Sự Thuộc Đấng Mê-Si

Không có Đấng Mê-si nào tách biệt khỏi một dân tộc. Dĩ nhiên, các đặc tính của Thời kỳ sắp đến là nói đến một nhóm người. Một giao ước được làm ra với một dân tộc; sự tha thứ tội lỗi được ban cho một dân tộc; và Đức Thánh Linh ngự trên một dân tộc. Trong chính bản chất của Thời kỳ Đấng Mê-si, có hàm ý về một dân tộc riêng biệt của Đức Chúa Trời. Vậy trong chính bản chất của Đức Chúa Giê-su như Đấng Mê-si thì có hàm ý khái niệm về một Hội Thánh.

Những từ Cựu Ước chỉ đến nhóm hội – hội đồng, hội chúng, nhà – thường xuyên xảy ra trong các ngữ cảnh về hy vọng tương lai. Một nét đặc trưng của sự mong đợi liên quan đến thời tương lai là việc tụ họp dân sự của Đức Chúa Trời mà đã bị phân tán và một sự nhóm hội của các nước. Để đi đến các đoạn trích đặc biệt thì một người có thể đọc Ê-sai 43:1, 2, 5-9; 56:8; và 60:4. Bản dịch tiếng Hy Lạp của các câu này sử dụng các từ được tìm thấy trong Tân Ước ám chỉ đến việc tụ hợp và nhóm lại của dân sự của Chúa (Hê-bơ-rơ 10:25; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:1).

Không chỉ là một sự nhóm lại của những người công bình. Cũng phải có một lời công bố cho các dân tộc (Ê-sai 52:7); dân sự của Đức Chúa Trời phải là một sự sáng cho các nước (Ê-sai 49:6); và phải có một bằng chứng thuyết phục về Đức Chúa Trời (Ê-sai 43:10).

Kết Luận

Nhiều đề tài Cựu Ước về Thời kỳ hầu đến tìm thấy sự bày tỏ cơ bản trong lời tuyên bố tiên tri mà xuất hiện ở hai dạng giống nhau trong Ê-sai 2:2-4 và Mi-chê 4:1-3.

Tân Ước bắt đầu câu chuyện về Tin Lành với sự hầu việc của Giăng Báp-tít (Mác 1:1-8) mà trong đó có một sự nổi bật về sự mong chờ của Cựu Ước. (Ma-thi-ơ 3:1-12; Lu-ca 1:5-79; Giăng 1:19-34).

Đức Chúa Giê-su xuất hiện như Đấng Mê-si (Mác 8:29) và được xức dầu bởi Đức Thánh Linh (Công vụ các Sứ đồ 10:38; Ma-thi-ơ 3:16-17; Lu-ca 4:18-21). Ngài đã mang một giao ước mới (Ma-thi-ơ 26:28), sự tha thứ tội lỗi (Mác 2:5-11), và Đức Thánh Linh (Giăng 1:33).

Giao ước mới được mang đến bởi Đức Chúa Giê-su Christ có nghĩa là một kết thúc cho hệ thống tôn giáo theo Môi-se và bắt đầu một thời kỳ mới. Nó cũng có nghĩa là sự bắt đầu của một dân sự mới dưới một Đấng Lập Luật mới (Ma-thi-ơ 17:1-6; Ga-la-ti 3:22-25; Hê-bơ-rơ 8:1-13; 2 Cô-rinh-tô 3:1-18).

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Ý nghĩa của từ Mê-si là gì? Nghĩa tương đương trong tiếng Hy Lạp là gì?
  2. Những cá nhân nào đã nhận được một việc xức dầu trong Cựu Ước?
  3. Tầm quan trọng tôn giáo của một việc xức dầu là gì?
  4. Chỉ ra sự phát triển của việc “hy vọng Đấng Mê-si” trong đạo Do Thái trước thời kỳ Tân Ước.
  5. Đức Chúa Giê-su làm trọn những sự mong đợi của Cựu Ước về một nhân vật “Mê-si” như thế nào?
  6. Kể tên ba đặc tính gốc về thời kỳ Đấng Mê-si trong sự cho biết trước của Cựu Ước.
  7. Với cách sử dụng của một phần mục lục hay tham khảo về Kinh Thánh chỉ định một vài đoạn trích nơi mà có một sự kết hợp của sự tha thứ tội lỗi và sự hiện hữu của Đức Thánh Linh.
  8. Bạn có thể tìm các đoạn trích khác nơi mà các đặc tính của Thời kỳ Đấng Mê-si được tìm thấy trong sự kết hợp không?
  9. Sự hiện hữu của Đấng Mê-si cũng đòi hỏi sự hiện hữu của một dân tộc như thế nào?
  10. Điều gì phải là nhiệm vụ của dân sự được nhóm lại của Đức Chúa Trời?
  11. Một “giao ước mới” có ngụ ý gì đối với thẩm quyền của “giao ước cũ” (của Môi-se)?

BÀI 2: SỰ THÀNH LẬP CỦA HỘI THÁNH

“Ta sẽ lập Hội Thánh ta.”

(Ma-thi-ơ 16:18)

Lời Hứa Của Đức Chúa Giê-Su

Trong suốt sự hầu việc cá nhân của Đức Chúa Giê-su, Ngài đã đặt nền cho Hội Thánh và chuẩn bị các hạt nhân của một nhóm hội. Như một thầy giáo có thẩm quyền, Ngài ban hành một luật pháp mới (Ma-thi-ơ 5-7) và tuyên bố bằng lời nói và việc làm về tầm quan trọng của bản thân Ngài đối với nước của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 12:28; 16:28; 10:32-33). Bởi đức tin con người được gắn kết với Ngài. Ngài nhóm lại các môn đồ và được gọi là mười hai sứ đồ (Mác 3:14) để là nền tảng của một Y-sơ-ra-ên mới (Ma-thi-ơ 19:28), thậm chí khi Y-sơ-ra-ên cũ đã ra từ 12 tổ phụ (Sáng thế ký 35:9-26).

Các hoạt động như thế bởi Đức Chúa Giê-su đã khơi ra cuộc tranh luận về đặc tính của Ngài (Ma-thi-ơ 11:2-3; Giăng 10:24). Đó là trong một ngữ cảnh tranh luận như vậy về đặc tính của Đức Chúa Giê-su mà Phi-e-rơ đã đưa ra sự xưng nhận của ông rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si (Ma-thi-ơ 16:13-16). Sau đó Đức Chúa Giê-su đưa ra lời hứa rằng, “Ta sẽ lập Hội Thánh ta trên đá nầy” (Ma-thi-ơ 16:18). Bản chất Mê-si của Đức Chúa Giê-su là nền tảng của Hội Thánh.

Khi Đức Chúa Giê-su làm rõ ràng trong rất nhiều đoạn trích, bản chất Mê-si dành cho Ngài, trái ngược với ý nghĩa của nó đối với nhiều người Giu-đa lúc bấy giờ, rằng Ngài phải chết và được sống lại. Quan sát thấy rằng đó là ngay sau sự xưng nhận của các môn đồ rằng Đức Chúa Giê-su thực ra là Đấng Christ được tìm kiếm từ lâu thì Ngài đã dạy họ điều này có nghĩa gì – tức là, Ngài “phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại” (Ma-thi-ơ 16:21). Xem xét thêm Lu-ca 24:45-46. Trước khi dân sự thuộc Đấng Mê-si có thể được kêu gọi vào một sự tồn tại riêng biệt thì Đức Chúa Giê-su phải làm trọn công việc này của Đấng Mê-si.

Đó là sự chết của Đấng Christ như Tôi Tớ khốn khổ là Đấng Mê-si (Ê-sai 53) mà khiến Ngài trở thành nền tảng của Hội Thánh. Một vài đoạn trích Tân Ước bày tỏ các đáp án về sự chết của Đức Chúa Giê-su bởi cách sử dụng của chúng về các trích dẫn “hòn đá” hay “đá” từ Cựu Ước. Một “Đấng Christ bị đóng đinh” là một “hòn đá vấp ngã đối với dân Giu-đa” (1 Cô-rinh-tô 1:23). Nhưng điều này là theo lời tiên tri. Phi-e-rơ gom lại với nhau một chuỗi các trích dẫn trong 1 Phi-e-rơ 2:4-8. Đức Chúa Giê-su chính là “hòn đá sống, bị chối bỏ bởi con người nhưng được chọn và quý báu trong mắt Đức Chúa Trời” (các định nghĩa của Đấng Mê-si). Ngài là “đá góc được chọn lựa và quý báu” (Ê-sai 28:16). Ngài là “hòn đá bị các thợ xây loại ra”, Đấng mà “ Đức Chúa Trời đã làm thành đá đầu góc nhà” (Thi Thiên 118:22; Mác 12:10-11). Đối với những người không tin, Ngài là một “hòn đá sẽ làm cho họ vấp ngã” (Ê-sai 8:14). Phao-lô sử dụng đoạn trích cuối cùng trong Rô-ma 9:32-33. Sự chết của Đức Chúa Giê-su (công việc của Đấng Mê-si) làm cho Ngài thành hòn đá là nền của Hội Thánh. Đó là một hòn đá vấp ngã, bị chối bỏ bởi những người lãnh đạo Giu-đa, nhưng Đức Chúa Trời đã làm hòn đá đó thành đá đầu góc nhà. Đức Chúa Giê-su là đỉnh điểm cốt yếu của các mục đích của Đức Chúa Trời. Ngài là Đấng mà “những hòn đá sống” khác được liên kết lại trên đó và chúng có nguồn gốc từ đó. Vậy “chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Giê-su Christ” (1 Cô-rinh-tô 3:11; so sánh với Ê-phê-sô 2:20-22).

Sự Làm Trọn Vào Ngày Lễ Ngũ Tuần

Đó là sự hướng dẫn đến từ sự mong chờ của Cựu Ước và lời hứa của Đức Chúa Giê-su đến Công vụ các Sứ đồ 2 và xem xét về nghĩa của sự làm trọn. Ở đó  chúng ta tìm thấy công bố công khai đầu tiên của Đức Chúa Giê-su như Đấng Christ (Công vụ các Sứ đồ 2:36). Đức Chúa Giê-su đã giải thích sự cần thiết của sự chết của Ngài (Lu-ca 24:45-46) và tuyên bố rằng các môn đồ của Ngài là “những người chứng kiến” (Lu-ca 24:48). Một người nên nhớ rằng Lu-ca và Công vụ các Sứ đồ về bản chất là hai phần của một công việc. Khi một người đọc liên tục từ chương cuối cùng của Lu-ca qua đến hai chương đầu tiên của Công vụ các Sứ đồ thì sự liên tục của các đề tài tương tự nổi bật lên. Vậy Đức Chúa Giê-su trong Công vụ các Sứ đồ 1:8 tuyên bố thêm rằng các môn đồ phải là “những người làm chứng … cho đến cùng trái đất.” Đây phải là nhiệm vụ của dân Y-sơ-ra-ên mới (Ê-sai 49:6; Công vụ các Sứ đồ 13:47; 26:23). Và vì vậy các môn đồ đưa ra bằng chứng của họ (Công vụ các Sứ đồ 2:32). Sau khi Phi-e-rơ rao truyền về sự chết và sự sống lại trong bài giảng của ông, ông tuyên bố rằng, “Đức Chúa Trời đã tôn Giê-su nầy, mà các ngươi đã đóng đinh trên thập tự giá, làm Chúa và Đấng Christ” (Công vụ các Sứ đồ 2:36). Trước thời điểm này mọi người đã xưng nhận đức tin trong Đức Chúa Giê-su, nhưng Đức Chúa Giê-su chưa cho phép họ rao truyền sự thật này (Ma-thi-ơ 16:20). Có lẽ lý do mà Đức Chúa Giê-su không muốn điều này được rao truyền cho đến bây giờ đó là Ngài vẫn chưa thực hiện công việc mà Ngài đến để làm là chết cho mọi người. Dù sao đi nữa, điều đó chỉ sau sự chết của Ngài thì Đức Chúa Trời mới “cất cái màn đi” và ủy thác cho các môn đồ của Đức Chúa Giê-su đi rao giảng nhân danh Ngài, và chỉ trong Công vụ các Sứ đồ 2 là lời công bố về bản chất Đấng Mê-si được nêu ra cho tất cả đều nghe.

Bản chất Đấng Mê-si được bày tỏ trong sự sống lại. Ngài “được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, , tức là Đức Chúa Giê-su Christ, Chúa chúng ta” (Rô-ma 1:4). Đấng Christ phải “chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại” (Lu-ca 24:46). Gánh nặng của thông điệp của Phi-e-rơ trong Công vụ các Sứ đồ 2 là phải chứng minh sự sống lại của Đức Chúa Giê-su và để chứng tỏ bản chất Đấng Mê-si của Ngài. “Các ngươi đã đóng đinh” Ngài, “nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Người sống lại” (Công vụ các Sứ đồ 2:23-24). Đức Chúa Giê-su đã “làm chứng cho các ngươi bởi Đức Chúa Trời với các việc quyền phép” (Công vụ các Sứ đồ 2:22) những thứ là dấu hiệu cho việc “được Đức Chúa Trời chọn” của Ngài. Mặc dù bị từ chối bởi loài người, nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại theo lời tiên tri (Công vụ các Sứ đồ 2:25-31). Các sứ đồ là những nhân chứng của điều đó (Công vụ các Sứ đồ 2:32). Đó là bởi sự sống lại mà Đức Chúa Giê-su được đặt làm “đầu trên mọi thứ cho Hội Thánh” (Ê-phê-sô 1:19-23). Đó là Đức Chúa Giê-su đã sống lại mới có thể tuyên bố rằng, “Tất cả mọi thẩm quyền … đã được giao cho ta” (Ma-thi-ơ 28:18). Trước sự sống lại thì Đức Chúa Giê-su không phải là đầu của Hội Thánh. Chúng ta có thể lưu ý rằng “đầu” trong tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa không chỉ là thẩm quyền mà còn là “nguồn gốc, căn nguyên.” Đức Chúa Giê-su “sanh trước nhất từ những kẻ chết” là “đầu của Hội Thánh” (Cô-lô-se 1:18; Khải huyền 1:5), tức là những người mà sẽ được sống lại cùng với Ngài (1 Cô-rinh-tô 15:23; Rô-ma 8:29) và vì vậy là những người được gọi là “Hội Thánh của những con trưởng được ghi tên trong các từng trời” (Hê-bơ-rơ 12:23).

Đấng Christ đã sống lại đã ban một mạng lệnh cho những người đi theo Ngài. Trước điều này thì họ không có nhiệm vụ nào trong thế gian. Họ giờ đây phải “rao giảng Tin Lành” (Mác 16:15), và là “những người làm chứng” (Lu-ca 24:48), và “dạy dỗ” (Ma-thi-ơ 28:19). Vậy họ sẽ nhóm lại một dân sự. Thực ra Tin Lành đã được rao giảng trong lời hứa với Ápraham (Ga-la-ti 3:8), và Đức Chúa Giê-su đã tuyên bố “Tin Lành của Đức Chúa Trời” (Mác 1:14) đang được chuẩn bị. Nhưng các sự kiện chính của Tin Lành – sự chết, sự chôn, và sự sống lại của Đấng Christ, như Phao-lô liệt kê chúng (1 Cô-rinh-tô 15:1-5) – chỉ có thể được công bố như các sự kiện đã hoàn thành từ lần đầu tiên trong Công vụ các Sứ đồ 2. Chỉ khi đó các sứ đồ mới có một Tin Lành để rao giảng. Khi họ dạy dỗ môn đồ, Đức Chúa Giê-su sẽ tiếp tục tạo ra một cộng đồng.

“Tin tức tốt lành” của Tin Lành chứa đựng tóm lại là bởi vì sự chết và sự sống lại của Đấng Christ mà “ai cầu khẩn danh Chúa sẽ được rỗi” (Công vụ các Sứ đồ 2:21). Dân sự thuộc Đấng Mê-si phải là một dân sự được tha thứ. Sự chết của Đức Chúa Giê-su đem đến sự tha thứ tội lỗi (Ê-phê-sô 1:7). Hội Thánh là một “dân sự được mua chuộc” (Công vụ các Sứ đồ 20:28). Công vụ các Sứ đồ 2 đánh dấu sự khởi đầu của việc ban cho sự tha thứ tội lỗi nhân danh Đức Chúa Giê-su. Đức Chúa Giê-su đã ban Đức Thánh Linh để làm cho các sứ đồ có khả năng để ban hành sự tha thứ (Giăng 20:22-23). “Sự ăn năn và sự tha thứ tội lỗi” phải được rao giảng “nhân danh Ngài cho mọi dân các nước, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem” (Lu-ca 24:47). Đây là sự ban cho mà Phi-e-rơ nêu ra trong Công vụ các Sứ đồ 2:38, nơi mà một lần nữa chúng ta tìm thấy “sự ăn năn,” “sự tha thứ tội lỗi,” và “danh của Đức Chúa Giê-su.” Đức Chúa Giê-su đã ban sự tha thứ trực tiếp trong khi Ngài còn trên đất (Mác 2:1-12), và Ngài đã khẳng định quyền phép đó bởi các dấu kỳ phép lạ của Ngài. Nhưng dân sự không ở trong mối quan hệ tương tự với Đức Chúa Giê-su bây giờ. Chúng ta, giống như 3000 người trong Công vụ các Sứ đồ 2, nghe các lời của sự tha thứ qua các sứ đồ. Nhưng lời hứa (Công vụ các Sứ đồ 2:39) không gì chắc chắn hơn, vì đó được làm “nhân danh Ngài.” Vậy Hội Thánh nhận được sự sống lại của nó từ sự chết của Đức Chúa Giê-su, cũng như nó là một dân sự được tha thứ và sự tha thứ đó đến qua sự chết của Ngài. Thời kỳ Đấng Mê-si (Giô-ên 2:28-32) được nhận biết qua lời công bố và sự chấp nhận của Người của Ngài (Công vụ các Sứ đồ 2:36).

Sự tha thứ này hình thành một giao ước mới. Đức Chúa Giê-su vào bữa ăn cuối cùng đã tuyên bố về chén, “vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội” (Ma-thi-ơ 26:28). Vậy hy vọng của Giê-rê-mi đã tìm thấy sự làm trọn của nó. Việc đổ huyết đã mang đến sự tha thứ tội lỗi (Hê-bơ-rơ 9:22); trước sự chết, giao ước vẫn chưa được thành lập (Hê-bơ-rơ 9:16-17). Với việc chấp nhận về sự tha thứ tội lỗi qua sự chết của Đức Chúa Giê-su bởi 3000 người trong Công vụ các Sứ đồ 2 (lưu ý câu 38, 40, 41) từ đó ra đời cộng đồng theo giao ước mới.

Thời kỳ Đấng Mê-si, như được nhìn thấy trong bài học trước, cũng là một thời kỳ của Đức Thánh Linh. Đức Chúa Giê-su đã hứa với các sứ đồ của Ngài về Đức Thánh Linh theo một cách đặc biệt để làm cho họ có năng lực để làm công việc của họ (Giăng 20:22-23); thực ra họ phải đợi cho đến khi quyền phép của Đức Thánh Linh đến trên họ trước khi họ bắt đầu rao giảng (Lu-ca 24:49; Công vụ các Sứ đồ 1:4). Các sứ đồ được “báp-têm trong Đức Thánh Linh” (Công vụ các Sứ đồ 1:5; 2:1-4) vào “lúc bắt đầu” (Công vụ các Sứ đồ 11:15-18) của thời kỳ mới. Đức Chúa Giê-su đã hứa rằng tất cả những ai tin Ngài sẽ nhận được sự ngự trị của Đức Thánh Linh (Giăng 7:38-39). Trước khi Đức Thánh Linh đến thì không thể có Hội Thánh được. Đức Thánh Linh hiệp thành một trong Hội Thánh (1 Cô-rinh-tô 12:13). Nhưng các sự ban cho của Đức Thánh Linh phải đợi sự vinh hiển của Đức Chúa Giê-su. Trong Công vụ các Sứ đồ 2, Phi-e-rơ bắt đầu bài giảng của ông với Đức Thánh Linh (trích Giô-ên 2:28-32 như được làm trọn trong các sự kiện trong ngày (Công vụ các Sứ đồ 2:16-21), tuyên bố rằng đó là Đấng Christ được vinh hiển bên hữu Đức Chúa Trời, Đấng đã đổ Đức Thánh Linh ra, như các ngươi đang thấy và nghe” (Công vụ các Sứ đồ 2:33), và kết thúc với Đức Thánh Linh hứa Ngài với tất cả những người chịu báp-têm vào trong Đức Chúa Giê-su (Công vụ các Sứ đồ 2:38-39; so sánh 5:32). Đức Thánh Linh ngự trên những người được chọn trong thời kỳ Cựu Ước, nhưng với Công vụ các Sứ đồ 2 bắt đầu với sự đến của Đức Thánh Linh trên tất cả những người của Đức Chúa Trời và sự ngự trị lâu dài của Ngài trong họ (1 Cô-rinh-tô 3:16-17; 6:19; Ê-phê-sô 2:22). Đức Chúa Giê-su như Đấng Christ mang đến thời kỳ Đấng Mê-si – sự tha thứ tội lỗi, một giao ước mới, và sự ban cho của Đức Thánh Linh.

Những người nhận thông điệp của Phi-e-rơ vào ngày lễ Ngũ Tuần đầu tiên sau sự sống lại đều chịu báp-têm (Công vụ các Sứ đồ 2:40-41) và vì vậy hình thành tại Giê-ru-sa-lem một nhóm hội mới, dân sự của những ngày sau rốt. Hội Thánh được nhóm lại (mà các bản Kinh Thánh đọc là “Hội Thánh” trong Công vụ các Sứ đồ 2:47 ít nhất đã dịch chính xác, thậm chí cách đọc này là không theo bản gốc). Họ bắt đầu đời sống tập thể cùng với nhau, đến cùng với nhau để nghe các sứ đồ dạy và để chia sẻ một chấp sự chung, để cầu nguyện và bẻ bánh (Công vụ các Sứ đồ 2:42). Như thế là sự khởi đầu sự thờ phượng của Cơ Đốc Nhân.

Những người định thời điểm bắt đầu của Hội Thánh với sự hầu việc của Giăng Báp-tít hay của Đức Chúa Giê-su làm xáo trộn những sự sắm sẵn cho Hội Thánh với sự tồn tại thực sự của nó và vì vậy xác định thời điểm cho nó quá sớm. Những người mà định nó với sự tập hợp của các dân ngoại (Công vụ các Sứ đồ 10-11) thì lại định thời điểm cho nó quá trễ.

Ngày nay, bất cứ nơi nào bản chất Đấng Mê-si của Đức Chúa Giê-su được rao giảng theo sự làm trọn của nó và bản chất Đấng Mê-si đó được xưng nhận và được bày tỏ qua phép báp-têm, Hội Thánh được xây dựng trong nơi đó.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Công việc của Đấng Mê-si như được công bố bởi Đức Chúa Giê-su là gì?
  2. Hãy miêu tả khía cạnh kép của Đức Chúa Giê-su như một hòn đá – một tảng đá gây vấp ngã và đá góc nhà
  3. Có cách giải thích nào cho việc đọc tiếp tục từ kết thúc của Lu-ca cho đến đầu sách Công vụ các Sứ đồ không? Lợi ích của việc làm như vậy là gì?
  4. Tại sao sự sống lại là cốt yếu cho sự khởi đầu của Hội Thánh?
  5. Nhiệm vụ nào mà Đức Chúa Giê-su đã giao cho những người đi theo Ngài? Các nội dung cơ bản của nó là gì?
  6. Ba đặc tính gì của Thời kỳ Đấng Mê-si trong bài học trước là đúng với Hội Thánh? Khi nào thì mỗi đặc tính trong ba đặc tính bắt đầu có hiệu lực với mọi người nói chung?
  7. Sự kiện nào mà Phi-e-rơ đã chọn ra trong Công vụ các Sứ đồ 11:15 khi làm nên “sự bắt đầu”?
  8. Bài học này đã bày tỏ vai trò cốt yếu của Đấng Christ cho sự hiểu biết của Hội Thánh như thế nào?
  9. Sự thờ phượng của Cơ Đốc Nhân bắt đầu khi nào?
  10. Khi nào và ở đâu Hội Thánh được thành lập ngày nay?

BÀI 3: ĐẤNG CHRIST VÀ CÁC CƠ ĐỐC NHÂN

“Các môn đồ được gọi là Cơ-rê-tiên (Cơ Đốc Nhân).”

(Công vụ các Sứ đồ 11:26).

Thuật Ngữ Theo Cựu Ước

Bản chất của Hội Thánh ăn sâu vào trong các khái niệm Cựu Ước về dân sự của Đức Chúa Trời. Sự tiếp tục với Tân Ước và chấm dứt với Cựu Ước cả hai đều được tỏ ra bởi cách mà ngôn ngữ Cựu Ước được sử dụng để chỉ đến các Cơ Đốc Nhân. Tân Ước sử dụng các từ tương tự mà đã sử dụng cho dân sự của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước nhưng dùng chúng cho các Cơ Đốc Nhân. Các Cơ Đốc Nhân là “dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời” (Ga-la-ti 6:16).

Các diễn đạt của Xuất Ê-díp-tô 19:5-6, khi thỏa thuận về giao ước tại Si-nai được thực hiện giữa Đức Chúa Trời và Y-sơ-ra-ên, được sử dụng trong 1 Phi-e-rơ 2:9 để chỉ đến Hội Thánh – các Cơ Đốc Nhân là một “chức thầy tế lễ nhà vua,” “một dân thánh,” “dân sự của chính Đức Chúa Trời.” Vậy, dân sự của Đức Chúa Trời tiếp tục với các Cơ Đốc Nhân. Sự làm trọn thật sự của sự dạy dỗ trong Cựu Ước được tìm thấy trong dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh: những gì mà được nói trước đây về dân sự của Đức Chúa Trời giờ đây được nói về Hội Thánh. “Vì những kẻ bởi Y-sơ-ra-ên sanh hạ, chẳng phải vì đó mà hết thảy đều là người Y-sơ-ra-ên. Cũng không phải vì là dòng dõi của Áp-ra-ham thì hết thảy đều là con cái người” (Rô-ma 9:6-7). “Chính chúng ta là kẻ chịu phép cắt bì thật, là kẻ cậy Thánh Linh Đức Chúa Trời mà hầu việc Đức Chúa Trời” (Phi-líp 3:3). “Vì người nào chỉ bề ngoài là người Giu-đa, thì không phải là người Giu-đa, còn phép cắt bì làm về xác thịt ở ngoài, thì không phải là phép cắt bì” (Rô-ma 2:28).

Sự tự giác này tuyên bố nối tiếp dân Y-sơ-ra-ên cũ là rõ ràng trong các cách sử dụng từ ngữ khác. Các Cơ Đốc Nhân là “phần sót lại công bình” mà Ê-sai đã viết về. Vì vậy Phao-lô trong Rô-ma 9:27-29 đã trích Ê-sai 10: 22-23 và 1:9 về phần sót lại mà sẽ được cứu. Các Cơ Đốc Nhân cũng là dân sự của giao ước mới được nói tiên tri bởi Giê-rê-mi (31:31-34) như có thể được nhìn thấy bởi cách diễn đạt của Phao-lô về một “giao ước mới” trong 2 Cô-rinh-tô 3:6-18 và trích dẫn của Giê-rê-mi trong Hê-bơ-rơ 8:6-13. Các Cơ Đốc Nhân cũng là “các thánh của Đấng Rất Cao” được nhắc đến trong Đa-ni-ên (7:22) là những người mà có được “nước” (Khải huyền 1:6, 9; Rô-ma 14:17).

Danh Xưng Cơ Đốc Nhân

Như đã học lúc trước, Hội Thánh làm trọn sự mong đợi của Cựu Ước về “những ngày sau rốt.” Đấng Mê-si (Đấng Christ) không tách biệt khỏi dân sự của Ngài. Đức Chúa Giê-su đã chỉ đến mối quan hệ gần gũi giữa Ngài và dân sự của Ngài trong Ma-thi-ơ 25:31-46, khi Ngài tuyên bố những gì được làm cho anh em của Ngài là được làm cho Ngài và ngược lại.

Sự thật này được nhìn thấy rất sinh động trong những đề tài về Đấng Mê-si mà cũng là các danh xưng của dân sự của Ngài. Có rất nhiều thuật ngữ liên quan đến Đấng Mê-si mà cũng được sử dụng cho dân sự của Ngài.

Vậy, ví dụ, các Cơ Đốc Nhân mang danh xưng của Đấng Christ. Thuật ngữ “Cơ-rê-tiên” có nghĩa là “của, hay thuộc về, Đấng Christ.” Nó được hình thành từ “Đấng Christ” và một hậu tố Latin ianus mà, dưới Đế chế Rô-ma, thường được mượn trong tiếng Hy Lạp. Hậu tố này ngụ ý rằng một người thuộc về người mà danh kết đuôi được thêm vào danh của người đó. Vậy nó phục vụ như một sự thay thế đặc biệt thuộc sở hữu cách, cụm từ tiếng Hy Lạp tốt hơn “những người của Đấng Christ” thì phổ thông hơn – 1 Cô-rinh-tô 1:12; 15:23; Ga-la-ti 5:24. Dạng hình thành từ này được sử dụng chủ yếu, một trong những hướng dẫn so sánh là từ Caesarianus, theo nghĩa đen là một người thuộc về Sê-sa, một định nghĩa cho một nô lệ của hoàng đế. Những người “Ceasarians” này thường có những vị trí chính trị quan trọng dưới Hoàng đế. Vậy các Cơ Đốc Nhân là những người hầu việc của Đấng Mê-si, danh xưng của họ là một tước hiệu hoàng gia. Danh xưng “Cơ Đốc Nhân” lần đầu tiên được sử dụng ở An-ti-ốt (Công vụ các Sứ đồ 11:26), và điều đó có thể quan trọng, vì tại An-ti-ốt thuyết phổ biến về một dân sự mới của Đức Chúa Trời gồm những người Giu-đa và Hy Lạp được nhận biết đầu tiên. Từ “xưng” trong Công vụ các Sứ đồ 11:26 thường được sử dụng cho các sự bày tỏ thánh (như trong Ma-thi-ơ 2:12) và có thể gợi ý một sự xưng hô thánh về danh xưng của Ngài cho dân sự của Chúa.

Đức Chúa Giê-su là “Đấng được xức dầu” (Đấng Christ), nhận được việc xức dầu của Đức Thánh Linh tại phép báp-têm của Ngài (Ma-thi-ơ 3:16 và các đoạn tương tự). Vậy được trang bị, Đức Chúa Giê-su đã thực hiện nhiệm vụ Đấng Mê-si của Ngài. Chỉ với sự sống lại của Ngài thì Ngài đã thực hiện được công việc của Đấng Mê-si, cho nên sau đó Đức Chúa Trời là khiến Ngài thành “Chúa và Đấng Christ” (Công vụ các Sứ đồ 2:36) và “được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép” (Rô-ma 1:4). Thậm chí các Cơ Đốc Nhân mang danh của Đấng Christ “đã chịu xức dầu từ nơi Đấng Thánh” (1 Giăng 2:20), giống như Chúa của họ, không phải bằng dầu, mà bằng Đức Thánh Linh (2 Cô-rinh-tô 1:21-22). Các tác giả Cơ Đốc Nhân ban đầu không do dự để nói về các Cơ Đốc Nhân như “các Đấng Christ bé nhỏ.”

Các Danh Xưng Khác

Đức Chúa Giê-su như Đấng Mê-si là Vua (Giăng 19:14; Lu-ca 19:38; Mác 11:9-10; Khải huyền 19:16). Vì vậy dân sự của Ngài ở trong nước Ngài (Cô-lô-se 1:13). Khái niệm cơ bản về nước không phải là “lãnh địa,” như chúng ta thường nghĩ đến trong tiếng Anh, nhưng “sự cai trị.” “Nước của Đức Chúa Trời” được tuyên bố bởi Đức Chúa Giê-su trong các sách Tin Lành chỉ đến quyền cai trị của vua, hay thẩm quyền nhà vua, của Đức Chúa Trời. Sức mạnh nhà vua này của Đức Chúa Trời thực thi qua Đấng Christ tạo nên một dân sự, Hội Thánh. Vậy những ai ở trong Đấng Christ đều dự phần trong vương quốc của Ngài (Khải huyền 1:4-9) và vì vậy ở trong các chức năng thuộc Đấng Mê-si của Ngài (“các thánh đồ sẽ xét đoán thế gian,” 1 Cô-rinh-tô 6:2; 2 Ti-mô-thê 2:12).

Đức Chúa Giê-su cũng là thầy tế lễ (Hê-bơ-rơ 7:11-8:7; 9:11-14, 23-28; 10:11-14). Vậy dân sự của Ngài hình thành nên một dòng thầy tế lễ (Khải huyền 1:6; 1 Phi-e-rơ 2:5, 9).

Vương quốc và dòng thầy tế lễ là các khái niệm chung. Một số trong các danh hiệu thuộc Đấng Mê-si riêng biệt của Đức Chúa Giê-su cũng được sử dụng cho các Cơ Đốc Nhân. Đức Chúa Giê-su là “Đấng Được Bầu Chọn,” hay “Đấng Được Lựa Chọn” (Lu-ca 23:35; 1 Phi-e-rơ 2:4). Các Cơ Đốc Nhân là “những người được bầu chọn,” hay “những người được lựa chọn” (Cô-lô-se 3:12; Rô-ma 8:33; Khải huyền 17:14). Đức Chúa Giê-su là “Đấng Thánh” của Đức Chúa Trời (Mác 1:24; Giăng 6:69; Công vụ các Sứ đồ 3:14). Các Cơ Đốc Nhân là “những người thánh,” hay “các thánh đồ” (Rô-ma 16:15; 2 Cô-rinh-tô 1:1; Ê-phê-sô 5:3). Đức Chúa Giê-su là “Con Yêu Dấu” của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 3:17; Lu-ca 9:35; so sánh với Ê-phê-sô 1:6). Các Cơ Đốc Nhân là những người yêu dấu” của Đức Chúa Trời (Rô-ma 1:7; Ê-phê-sô 5:1).

Mối quan hệ giữa Đấng Christ và các Cơ Đốc Nhân có thể được minh họa thêm bởi các thuật ngữ “con” và “các con.” Đức Chúa Giê-su là “Con của Đức Chúa Trời” (Giăng 1:18), và các Cơ Đốc Nhân cũng là “các con” (Lu-ca 6:35; Rô-ma 8:14). Ngài là Đấng Sanh Trước Nhất (Cô-lô-se 1:15), và Hội Thánh được dựng lên từ “các con trưởng” mà được ghi tên trong các từng trời (Hê-bơ-rơ 12:23). Ga-la-ti 3:26-27 nói rõ ràng làm thế nào mà dân sự trở thành các con. Phép báp-têm “vào trong Đấng Christ” có nghĩa là một người được “đặt vào Đấng Christ,” người đó ở “trong Đức Chúa Giê-su Christ.” Nếu một người ở trong Đấng Christ, thì người đó là của Đấng Christ cho nên bản chất của Đấng Christ trở nên bản chất của người đó. Vì Đấng Christ là Con, nên Cơ Đốc Nhân dự quyền làm con với Ngài.

Nguyên lý tương tự có thể được áp dụng với các danh xưng khác ở trên. Một mục lục sẽ bày tỏ nhiều đoạn trích khác ngoài những đoạn được nêu ra trong các ví dụ. Nhưng lưu ý cách sử dụng kiên định. Từ tương tự được sử dụng trong cách diễn đạt gốc cho cả Đấng Christ và các Cơ Đốc Nhân, một sự thật mà đôi khi gây khó hiểu trong các sự dịch nghĩa. Nhưng với một vài ngoại lệ, số ít được sử dụng độc quyền cho Đấng Christ, và số nhiều được sử dụng cho dân sự của Ngài. Các sử dụng từ này bày tỏ sự khác nhau giữa Đấng Christ và các Cơ Đốc Nhân – Ngài là Con, Con Yêu Dấu, Đấng Thánh và Đấng Được Chọn phi thường và duy nhất của Đức Chúa Trời. Một Cơ Đốc Nhân như một cá nhân không có phẩm chất này trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Nhưng sự thật rằng từ tương tự được sử dụng cho họ bày tỏ sự liên kết của các môn đồ với Thầy của họ. Những gì được nói về Ngài là đúng với dân sự của Ngài. Họ là các con, những người yêu dấu, các thánh đồ, và những người được chọn. Nhưng những điều này không đúng với bản chất của chính họ. Họ chỉ đúng qua việc hiệp một với Ngài, chỉ “trong Đấng Christ.” Hội Thánh có được bản chất của nó từ Đấng Christ, nhưng Hội Thánh không phải là Đấng Christ. Nếu Hội Thánh cố gắng để có thẩm quyền của chính nó, thì nó sẽ quên mất mối quan hệ này.

Kết quả của việc nghiên cứu này rất quan trọng đối với bản chất của Hội Thánh. Chúa thể nào thì Hội Thánh thể đó. Bản chất của Hội Thánh là phát sinh. Hội Thánh là như thế chỉ bởi vì Đấng Christ là như thế. Các Cơ Đốc Nhân là những người tham dự vào bản chất của Ngài mà họ thuộc về. Hơn thế, đây không phải là một phẩm chất mang tính cá nhân. Họ là các thánh đồ và con, những người được yêu dấu và được chọn, chỉ mang tính tập thể, không phải cá nhân. Vậy trong Tân Ước các Cơ Đốc Nhân được chỉ đến như “các thánh đồ,” nhưng chưa bao giờ một Cơ Đốc Nhân duy nhất được gọi là một “thánh đồ.” Phẩm chất như vậy được sở hữu không chỉ bởi vì người đó là một phần của Hội Thánh, dân sự được nhóm lại của Đức Chúa Trời. Tất cả các phẩm chất được chia sẻ với Đấng Christ chỉ có “trong Ngài.” Một người là một “thánh đồ,” hay bất cứ danh xưng nào trong các danh xưng khác này, không phải với vì bất cứ điều gì mà người đó làm hay đã làm, nhưng bởi vì người đó có được phẩm chất này từ Đấng Christ. Dĩ nhiên, nhiệm vụ của cuộc đời Cơ Đốc Nhân là phải trở nên mới hoàn toàn bởi sự ban cho của Đấng Christ với chúng ta. Bản chất của các Cơ Đốc Nhân là bản chất của Đấng Christ; nhưng điều này không có được một cách độc lập, mà nó chỉ bởi sự hợp nhất trong Ngài.

“Vì Đấng làm nên thánh và kẻ được nên thánh, đều bởi một Cha mà ra. Cho nên Ngài không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em” (Hê-bơ-rơ 2:11).

Đó là một cách sử dụng mới và không theo Kinh Thánh để chỉ rõ từ “thánh đồ” như một danh hiệu chỉ đến một giai cấp đặc biệt của “các Cơ Đốc Nhân siêu việt.” Kinh Thánh chưa bao giờ nói về “Thánh Ma-thi-ơ,” “Thánh Phao-lô,” “Thánh Ê-li-xa-bét,” hay những người khác. Cách sử dụng của “Thánh đồ” như một danh hiệu chỉ thuộc về mình Đấng Christ thôi, “Đấng Thánh” (Giăng 6:69), và những cá nhân này, như tất cả các Cơ Đốc Nhân, là các thánh đồ, “các đấng thánh,” bởi việc được hiệp một với Ngài. Các danh xưng khác của Đấng Christ và các Cơ Đốc Nhân không bị lạm dụng như vậy, nhưng nguyên tắc tương tự áp dụng cho chúng.

Đoạn trích mà có thể nêu ra tốt nhất ý tưởng chính của bài học này là cuộc thảo luận của Đức Chúa Giê-su xây dựng quanh ý tưởng, “Ta là gốc nho và các ngươi là nhành nho” trong Giăng 15:1-11. Trong một nghịch lý thuộc linh, Đức Chúa Giê-su là toàn bộ cây nho, cũng như Ngài là toàn bộ Hội Thánh, nhưng dân sự của Ngài là các cành của cây nho. Họ nhận được sự sống của mình từ Ngài và sanh trái trong Ngài; tách khỏi Ngài họ không còn là của cây nho nữa. Họ có sự sống, những gì mà họ có được chỉ bởi ở trong sự hiệp một với Đấng Christ. Đấng Christ tạo ra các phần mở rộng từ Ngài. Nơi nào Đấng Christ ở, thì nơi đó là Hội Thánh.

Đấng Christ trong một việc làm của ân điển mở rộng các phẩm chất của Ngài cho dân sự của Ngài cho nên họ nhận được thân phận của Ngài như một sư ban cho trước Đức Chúa Trời. Hội Thánh có được bản chất của nó cũng như nguồn gốc của nó (bài 2) từ Đấng Christ.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Cách sử dụng Tân Ước của thuật ngữ Cựu Ước cho dân sự của Đức Chúa Trời bày tỏ về cả một sự nối tiếp và một sự không nối tiếp giữa Cựu Ước và Tân Ước như thế nào?
  2. Một vài định nghĩa Cựu Ước nào cho dân sự của Đức Chúa Trời được sử dụng trong Tân Ước về Hội Thánh?
  3. Ý nghĩa của từ Cơ Đốc Nhân là gì? Nguồn gốc của từ là gì? Từ này nói gì về bản chất của môn đồ của Đức Chúa Giê-su?
  4. Bằng chứng nào cho “Cơ Đốc Nhân” là một danh xưng thánh được ban cho? Các cách giải nghĩa khác đã được bày tỏ của Công vụ các Sứ đồ 11:26 là gì?
  5. Từ “nước” có nghĩa gì trong cách sử dụng theo Kinh Thánh (so sánh bài 13)?
  6. Các Cơ Đốc Nhân cá nhân đã bao giờ được gọi là các thầy tế lễ trong Tân Ước không?
  7. Một vài danh xưng được dự phần chung bởi Đấng Christ và dân sự của Ngài là gì? Kiểm tra một mục lục để xem có bất cứ danh xưng nào trong chúng đã từng được sử dụng theo số ít cho các Cơ Đốc Nhân không.
  8. Làm thế nào để một người tham dự vào các phẩm chất này của Đức Chúa Giê-su?
  9. Tầm quan trọng của các danh xưng được chia sẻ này cho bản chất của Hội Thánh là gì? Hội Thánh giống và khác Đấng Christ như thế nào?
  10. Cách sử dụng hiện đại của từ “Thánh” như một danh hiệu mang tính cá nhân khác với cách sử dụng theo Kinh Thánh như thế nào?
  11. Sự dạy dỗ quan trọng nào về bản chất của Hội Thánh và mối quan hệ của Đấng Christ với các Cơ Đốc Nhân có trong Giăng 15:1-11?

BÀI 4: CÁC ẢNH TƯỢNG CỦA HỘI THÁNH

“Các Hội Thánh của Đấng Christ”

(Rô-ma 16:16)

Từ Hội Thánh

“Hội Thánh” (Ekklesia) theo tiếng Hy Lạp cơ bản chỉ đến nhóm các công dân trong một thành Hy Lạp (so sánh với Công vụ các Sứ đồ 19:39). Đó là một thuật ngữ chính trị không có các sự liên kết tôn giáo đặc biệt nào. Trong cách sử dụng thực sự thì từ này không mang hàm ý của sự “kêu gọi ra.” Sự tách biệt của Hội Thánh khỏi thế gian là một khái niệm thần học chính xác trong Tân Ước (2 Cô-rinh-tô 6:17), nhưng nét đặc trưng này của Hội Thánh không thể được bổ trợ từ ý nghĩa của từ điển về chính từ “Hội Thánh.” Ý nghĩa cơ bản trong thời kỳ Tân Ước đơn giản là “nhóm lại,” và trong nghĩa này từ lúc đầu xuất hiện trong văn học Cơ Đốc Nhân cho các buổi nhóm lại thật sự của các tín đồ trong Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 11:18; 14:19, 23, 34, 35). Phần lớn cách sử dụng của từ này trong Tân Ước là sự ám chỉ đến Hội Thánh địa phương, cho dù là có nhóm lại hay không (ví dụ, Công vụ các Sứ đồ 11:22, 26; Ga-la-ti 1:22; Cô-lô-se 4:16). Do đó từ này sớm đã  trở thành một thuật ngữ chuyên môn trong cách sử dụng của Cơ Đốc Giáo cho dân sự mới của Đức Chúa Trời ở một địa phương nhất định. Phẩm chất thần học mới ekklesia có trong Tân Ước đến từ dịch nghĩa tiếng Hy Lạp của Cựu Ước, nơi mà nó được sử dụng về sự nhóm lại của dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời (Phục truyền Luật lệ Ký 23:2-4, 9; Mi-chê 2:5; Thi Thiên 89:5; so sánh với Công vụ các Sứ đồ 7:38). Một điều kiện tập thể được cho từ ngữ từ Cựu Ước, mà trong đó sự nhấn mạnh là trên tình đoàn kết của nhóm, hơn là trên “sự chọn lọc của các cá nhân.” Vì vậy một từ Hy Lạp được sử dụng, nhưng nội dung của nó là mới mẻ và được bổ trợ bởi bối cảnh dân Giu-đa nơi mà nhóm hội là dân sự của Đức Chúa Trời (nhưng cũng nghi ngờ rằng từ đó đòi hỏi hàm ý “dân sự của Đức Chúa Trời,” vì sự nhấn mạnh dường như ở trên hội hay nhóm thậm chí là trong các đoạn trích Cựu Ước). Trong Tân Ước, bản chất tập thể này được bày tỏ bởi mối quan hệ của các tín đồ với Đấng Christ. Trong các sách sau của Tân Ước, có thể tìm thấy thuật ngữ “Hội Thánh” được áp dụng cho Hội Thánh toàn cầu (Ê-phê-sô 1:22; Cô-lô-se 1:24), thậm chí sự nhóm lại thực sự của nó phải đợi cho đến thời kỳ cuối cùng.

Vì từ ngữ Hội Thánh bởi chính nó có thể chỉ đến bất cứ nhóm hội nào, thường có một cụm từ miêu tả hay tính chất được thêm vào, sự nhận diện (nhưng không chính xác là “gọi tên”) Hội Thánh như thuộc về Đức Chúa Trời hay Đấng Christ (Rô-ma 16:16; 1 Cô-rinh-tô 1:2). Đôi khi sự ám chỉ là dành cho các Cơ Đốc Nhân, những người mà hình thành nên Hội Thánh (1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:1; Hê-bơ-rơ 12:23).

Bài 3 nhìn vào một số thuật ngữ được áp dụng cho các cá nhân riêng biệt của Hội Thánh. Tình thông công được lập với Đấng Christ và được học trong bài 7 được miêu tả trong Tân Ước với các hình ảnh khác nhau. Một vài hình ảnh được chọn lọc để áp dụng cho dân sự của Chúa, như nhà của Đức Chúa Trời (1 Ti-mô-thê 3:15), chiên và người chăn chiên (Giăng 10), vườn nho (Ma-thi-ơ 10-21). Ba hình ảnh ở đây được chọn cho sự khảo sát đặc biệt.

Thân Thể

Một trong những cách miêu tả ưa thích của Phao-lô về Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ. Trong Rô-ma 12:3-8 và 1 Cô-rinh-tô 12:12-26 sự nhấn mạnh là ở trên các thành viên riêng biệt của thân thể, mỗi người đóng góp phần của mình cho hoạt động của toàn bộ. Trong Ê-phê-sô 4:11-16 sự nhấn mạnh là ở trên Hội Thánh như thân thể của Đấng Christ, trong khi Cô-lô-se 1:18 nhấn mạnh rằng Đấng Christ là đầu của thân thể, Hội Thánh.

Có thể được tranh cãi rằng “thân thể của Đấng Christ” hơn là một hình ảnh của cách nói, mà trong đó nó miêu tả một mối quan hệ thật sự. Nó miêu tả phẩm chất cơ bản và bản chất của Hội Thánh. Hội Thánh bao gồm các cá nhân mà ở trong Đấng Christ bởi vì họ đã chịu báp-têm (1 Cô-rinh-tô 12:12-13; Rô-ma 12:4-5). Bối cảnh của cách sử dụng của Phao-lô chắc chắn được tìm thấy trong ý tưởng Hê-bơ-rơ về “tính cách tập thể,” mà trong đó toàn bộ một dân sự có thể được xem như một và trong đó một người có thể đứng ra và là hiện thân của toàn bộ (Sáng thế ký 10:6, 22; 36:1; Phục truyền Luật lệ Ký 33; Giê-rê-mi 31:15; Ô-sê 5:3; 11:1; Hê-bơ-rơ 7:9; Rô-ma 9:13; so sánh bài 3 trên các danh xưng thuộc Đấng Mê-si mà được chia sẻ chung bởi Đấng Christ và các Cơ Đốc Nhân). Thân thể tìm thấy sự trọn vẹn của nó trong Đấng Christ (như các nhành nho và cây nho trong Giăng 15). Trong khái niệm Tân Ước về tính cách tập thể, thì người đứng đầu đại diện cho toàn bộ. Đầu chỉ đến nguồn gốc (“sự bắt đầu” – Xuất Ê-díp-tô 12:2; Ê-xê-chiên 16:25) và thẩm quyền (đầu tiên trong hàng – Xuất Ê-díp-tô 6:14; Phục truyền Luật lệ Ký 33:5). Đấng Christ là nguyên tắc của thẩm quyền cho Hội Thánh bởi vì Ngài là nguồn tạo dựng của nó, và Hội Thánh có sự bắt đầu và nguồn gốc của nó trong Ngài. Các kết quả tất yếu của quyền làm đầu của Ngài là sự phụ thuộc của Hội Thánh vào Ngài và thiếu quan trọng hơn Ngài.

Các điểm thực tiễn cụ thể được nhấn mạnh trong các đoạn trích về Hội Thánh như một thân thể. Vì Đấng Christ là đầu của “mọi thứ” (Ê-phê-sô 1:22-23), Ngài là phần không thể thiếu duy nhất của Hội Thánh. Thực ra toàn bộ đều được chứa đựng trong Ngài. Nơi nào có Ngài, thì nơi đó có Hội Thánh. Chỉ có duy nhất một thân thể, vì chỉ có duy nhất một Đấng Christ (Rô-ma 12:4, 5; 1 Cô-rinh-tô 12).

Mỗi người trong Hội Thánh có một nhiệm vụ để làm (Ê-phê-sô 4:16). Có các chức năng khác nhau, một sự đa dạng đóng góp cho sự hiệp một (1 Cô-rinh-tô 12:28-31). Được hiệp một với đầu, thân thể không có sự phân ly hay bất hòa, nhưng hơn thế là sự quan tâm đồng cảm và sự chăm sóc lẫn nhau (1 Cô-rinh-tô 12:24-26). Qua việc thực hiện các sự ban cho của nó, các thành viên của thân thể tiếp nối sự hầu việc của Đấng Christ trong thế gian. Hội Thánh có được cuộc sống và sự tồn tại từ Ngài, và qua việc làm như vậy nó trở thành “thân thể” của Ngài, là chi thể của sự sống Ngài trong thế gian.

Tầm quan trọng của Hội Thánh trở nên rõ ràng từ cách miêu tả này. Một người không thể vâng phục đầu và được hiệp một với Đấng Christ mà không ở trong thân thể của Ngài. Thân thể này là nơi của sự bình an (Cô-lô-se 3:15), sự hòa thuận (Ê-phê-sô 2:16), và sự cứu rỗi (Ê-phê-sô 5:23).

Khái niệm thân thể của Đấng Christ có các ngụ ý quan trọng cho các tín lý của Cơ Đốc Nhân: vì các thân thể của chúng ta được hiệp lại với Chúa và thuộc về Ngài, cách cư xử cụ thể được thể hiện ra (Ê-phê-sô 4:17-32; Cô-lô-se 3:12-15; 1 Cô-rinh-tô 6:12-15). Ý tưởng về thân thể xuất hiện trong sự dạy dỗ quan trọng liên quan đến phép báp-têm và lễ Tiệc Thánh. Nó cũng được liên kết mật thiết với cách miêu tả khác về Hội Thánh _ cô dâu của Đấng Christ.

Cô Dâu

Mặc dù Hội Thánh là cô dâu của Đấng Christ được chỉ đến ở một nơi khác (Khải huyền 21:2, 9), nhưng sự phát triển trọn vẹn của ý tưởng lại được tìm thấy trong Ê-phê-sô 5:22-23.

Sự mật thiết của mối quan hệ của Đấng Christ và Hội Thánh tìm thấy một trong những sự so sánh của con người gần gũi nhất của nó trong sự mật thiết về sự hiệp nhất hôn nhân mà bởi đó hai người trở thành một thịt (Ê-phê-sô 5:29-33). Tình yêu thương và thẩm quyền của Đấng Christ, và sự vâng phục và sự đáp lại của Hội Thánh đều được minh họa trong mối quan hệ. Quyền làm đầu không phải là một thẩm quyền độc đoán mà là một thẩm quyền dựa trên tình yêu thương. Chỉ có tình yêu thương vĩ đại nhất mới có thể yêu cầu sự vâng phục tuyệt đối nhất, nhưng nơi nào tình yêu thương là vĩ đại nhất, thì sự vâng phục được dâng lên một cách tự do.

Khi Phao-lô nói về việc “lấy nước rửa,” và việc tô điểm “không vết không nhăn” (Ê-phê-sô 5:26-27), ông có lẽ nói bóng gió đến các phong tục hôn nhân mà trong đó cô dâu tắm rửa và thay trang phục mới trước khi ra mắt trước chồng của mình. Đó là phù hợp với bối cảnh Tân Ước mà khẳng định cả một sự “bây giờ” và một sự “hầu đến” rằng cô dâu ra mắt Đấng Christ vào lúc phép báp-têm trong Ê-phê-sô 5:26-27, nhưng từ một quan điểm khác mà không được nghĩ đến như được ra mắt Ngài cho đến kỳ cuối cùng (Khải huyền 19:7, 8; Khải huyền 21:2). “Từ” mà đi cùng với việc rửa bằng nước chắc chắn là sự xưng nhận của đức tin (Hê-bơ-rơ 10:22-23) hơn là cách thức của phép báp-têm hay lời được rao giảng của Tin Lành. Như thế sẽ khớp tốt nhất với hình ảnh hôn nhân (với các lời hứa nguyện trao đổi của nó).

Tòa Nhà

Sự thiếu sót của bất cứ sự so sánh đơn độc nào trong việc miêu tả tất cả các mặt của bản chất của Hội Thánh được nhìn thấy trong cách mà Phao-lô nói về việc xây dựng nên thân thể (Ê-phê-sô 4:16) và tác giả của Khải huyền miêu tả về cô dâu như một thành phố (Khải huyền 21:9-27). Tòa nhà đặc biệt mà các tác giả Tân Ước so sánh Hội Thánh với nó là đền thờ (1 Cô-rinh-tô 3:9, 16-17; 2 Cô-rinh-tô 6:16; Ê-phê-sô 2:19-22; 1 Phi-e-rơ 2:5). Đức Chúa Giê-su định rõ thân thể của Ngài là một đền thờ (Giăng 2:19; so sánh Mác 14:58).

Trong Cựu Ước, Đức Chúa Trời đã chọn một nơi mà danh của Ngài phải được ghi lại và nơi mà sự hiện diện của Ngài đặc biệt ngự vào đó (Phục truyền Luật lệ Ký 12:5-14; 2 Sử ký 5:13-6:1; 6:41-7:3). Nơi chí thánh của đền thờ, nơi mà shekinah, hay vinh hiển của sự hiện diện của Đức Chúa Trời ngự vào, là nắp thi ân (Xuất Ê-díp-tô 25:22; Xuất Ê-díp-tô 40:34; Lê-vi ký 16:12-15), mà trên đó huyết cứu chuộc được dâng lên thường xuyên. Đức Chúa Giê-su Christ giờ đây là vinh hiển của Đức Chúa Trời trong vòng loài người (Giăng 1:14; 2 Phi-e-rơ 1:17), và Ngài là nắp thi ân (Rô-ma 3:25 có lẽ tốt nhất để hiểu như một sự ám chỉ đến nắp thi ân của đền thờ). Hội Thánh của Đấng Christ giờ đây là đền thờ nơi Đức Chúa Trời gặp gỡ những người thờ phượng ngài.

Hội Thánh, như đền tạm hay đền thờ của Cựu Ước (Hê-bơ-rơ 8:5), được xây dựng theo kế hoạch của Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 3:10-15). Các Cơ Đốc Nhân là “những hòn đá sống” (1 Phi-e-rơ 2:5). Thêm một lần nữa, sự thiếu xót về các phép ẩn dụ là một bằng chứng. Rõ ràng rằng đây không phải là một tòa nhà thật sự, nhưng là “một căn nhà thuộc linh.” Từ Hội Thánh chưa bao giờ chỉ đến một tòa nhà thực sự trong Tân Ước. Đức Chúa Giê-su Christ, Đấng mà những hòn đá khác được kết nối với, ban sự hiệp một cho cấu trúc và là hòn đá góc nhà (1 Cô-rinh-tô 3:11; Ê-phê-sô 2:20).

Đức Chúa Trời ngự ở đó chính là điều khiến Hội Thánh nên thánh. Hội Thánh là nơi ngự vào của Đức Chúa Trời trong vòng dân sự qua Đức Thánh Linh (Ê-phê-sô 2:22; 1 Cô-rinh-tô 3:16).

Kết Luận

Không chỉ là các thuật ngữ miêu tả tương tự được áp dụng cho Đấng Christ và các Cơ Đốc Nhân, nhưng Hội Thánh và Đấng Christ được đem vào trong sự hiệp một thân thiết nhất trong Ê-phê-sô, đặc biệt trong các thuật ngữ miêu tả được nghiên cứu trong bài học này. Các đặc ân cao quý này của Hội Thánh là các đặc ân của Hội Thánh chỉ có “trong Đấng Christ.” Hội Thánh không có một tầm quan trọng độc lập, hay nó cũng không phải một phần phụ thuộc không quan trọng tương đối với Đấng Christ. Nó có một tầm quan trọng thuộc linh hết mức qua sự hiệp một với Đấng Christ. Trong mối quan hệ với Đấng Christ, đó là thân thể, cô dâu và nhà. Miễn là nó ở trong sự vâng phục Ngài và trong sự hiệp nhất với Ngài, thì nó vẫn có được tầm quan trọng lớn nhất. Nhưng Hội Thánh đánh mất tầm quan trọng của nó khi không vâng phục thẩm quyền của Đấng Christ và tìm cách để có được thẩm quyền của chính nó. Vậy tất cả những gì một người làm cho Đấng Christ thì người đó làm “trong Hội Thánh.” Và Hội Thánh luôn luôn giữ được các mối quan hệ với Đấng Christ không chỉ khi nó được nhóm lại. Các hình ảnh này bày tỏ thêm tầm quan trọng của mối quan hệ của cá nhân Cơ Đốc Nhân với những người khác trong thân thể. Đạo Đấng Christ nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân, nhưng nó không phải là tôn giáo mang tính cá nhân về căn bản như một vài người xem nó như vậy. Mối quan hệ cá nhân của một người với Đấng Christ liên quan đến một tình đoàn kết tập thể trong thân thể.

Các hình ảnh này về Hội Thánh và những người khác được tìm thấy trong Tân Ước được tiếp tục sử dụng trong văn chương Cơ Đốc Nhân ban đầu sau Tân Ước. Cách sử dụng của họ miêu tả về tầm quan trọng nối tiếp của Hội Thánh trong suy nghĩ của Cơ Đốc Nhân ban đầu và sự nhận biết về mối quan hệ của Hội Thánh với Đấng Christ.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Thảo luận về ý nghĩa của từ Hy Lạp ekklesia.
  2. Có một sự nhấn mạnh về việc “ được kêu gọi ra” trong cách sử dụng thực sự của từ tiếng Hy Lạp không? Nét đặc biệt này của Hội Thánh chắc chắn được lập như thế nào?
  3. Với sự hỗ trợ phù hợp xem xét các cách sử dụng khác nhau của Hội Thánh trong Tân Ước.
  4. Kể tên một vài hình ảnh của Hội Thánh không được thảo luận trong bài học này.
  5. Từ bối cảnh Hê-bơ-rơ, điều gì là sự nhấn mạnh trong tư tưởng về Đấng Christ như là đầu của Hội Thánh?
  6. Một vài bài học nào được dạy bởi cách miêu tả về Hội Thánh như thân thể của Đấng Christ?
  7. Một vài bài học nào được gợi ý bởi phép ẩn dụ về cô dâu được áp dụng cho Hội Thánh?
  8. Bối cảnh Cựu Ước nào để miêu tả về Hội Thánh như một đền thờ?
  9. Các bài học nào về bản chất của Hội Thánh mà sự định rõ “đền thờ” gợi ra?
  10. Tất cả cảc ảnh tượng có chung điều gì về mối quan hệ của Đấng Christ và Hội Thánh?

BÀI 5: PHÉP BÁP-TÊM

“Bởi một Thánh Linh mà tất cả các ngươi đều chịu báp-têm để hiệp làm một thân.”

(1 Cô-rinh-tô 12:13)

Như một sự bày tỏ của đức tin và sự ăn năn mà một người chịu báp-têm vào trong Đấng Christ (Ga-la-ti 3:27; Công vụ các Sứ đồ 2:38). Phép báp-têm cũng đặt một người trong Hội Thánh (1 Cô-rinh-tô 12:13). Phép báp-têm đặc biệt quan trọng cho một buổi học về Hội Thánh, bởi vì nó đánh dấu sự hiệp nhất của một người vào trong Đấng Mê-si và vào trong dân sự của Ngài. Nó cũng liên quan đến các khía cạnh khác của tín lý về Hội Thánh. Một tín lý đầy đủ về sự cứu rỗi sẽ đòi hỏi sự xem xét về tội lỗi con người, sáng kiến của Đức Chúa Trời trong sự chết cứu chuộc của Đấng Christ, và bản chất về sự đáp lại của loài người với Tin Lành trong đức tin và sự ăn năn. Tuy nhiên, trong nội dung về việc học hỏi về tín lý của Hội Thánh, đó là thích đáng để dành sự chú ý đặc biệt đến phép báp-têm.

Đại Mạng Lệnh

Đại Mạng Lệnh (Ma-thi-ơ 28:18-20; so sánh với Mác 16:15-16; Lu-ca 24:47-48; Giăng 20:22-23) được bàn giao giữa các việc làm trọng đại của Đức Chúa Trời qua Đấng Christ: sự chết và sự sống lại, sự thăng thiên và việc đổ Đức Thánh Linh. Đó một kế hoạch thánh về sự cứu rỗi mà được tiến triển trong Đấng Christ và Hội Thánh của Ngài (Ê-phê-sô 1:3-14; 3:7-11). Việc làm vĩ đại của quyền phép của Đức Chúa Trời cho loài người là làm Đấng Christ sống lại từ kẻ chết (Công vụ các Sứ đồ 2:24-35; Ê-phê-sô 1:19-22) và vì vậy phú cho Ngài với tất cả thẩm quyền như Vua Mê-si (Ma-thi-ơ 28:18; Rô-ma 1:4). Chúa đã sống lại này đã ban mạng lệnh đi dạy dỗ và làm báp-têm (Ma-thi-ơ 28:19).

Nội dung của Tin Lành được ban cho bởi Đấng Christ đã sống lại. Sự rao giảng phải là thông điệp về quyền Đấng Mê-si của Ngài mà sẽ tạo nên nhóm hội (Lu-ca 24:46-47; 1 Cô-rinh-tô 15:1-8; xem bài 2). Sự rao giảng đó còn lại quyền năng của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời thực hiện cho sự cứu rỗi con người (Rô-ma 1:16). Lưu ý sự nhấn mạnh trong nhiều đoạn trích Tân Ước về quyền năng trong các mạch văn về sự rao giảng (1 Cô-rinh-tô 1:18-24; 2:4-5; 2 Cô-rinh-tô 4:7; 13:3-4; Ê-phê-sô 3:7; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:4-5). Lời về thập tự giá và sự sống lại là quyền năng của Đức Chúa Trời, thậm chí chính sự sống lại là quyền phép của Đức Chúa Trời.

Việc rao giảng Tin Lành này kêu gọi mọi người đến với Đức Chúa Trời và Đấng Christ (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13-15; 1 Cô-rinh-tô 1:9), và do đó trở thành dân sự của Đức Chúa Trời. việc đó được xảy ra khi người nghe lấy đức tin mà nhận lấy (Rô-ma 10:14-17; Hê-bơ-rơ 4:2). Phép báp-têm được truyền trong Đại Mạng Lệnh (Ma-thi-ơ 28:19; Mác 16:16) đưa một người vào trong một mối quan hệ đặc biệt với Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh. Sự thành lập của Hội Thánh là hàm ẩn trong mạng lệnh làm báp-têm cho muôn dân. Phép báp-têm là một phần của sự phản hồi với sự rao giảng (Công vụ các Sứ đồ 8:35-36; 18:8; Cô-lô-se 2:12). Trong phép báp-têm, một người là bị động. Vậy nó vẫn là việc làm của Đức Chúa Trời và vì vậy Đức Chúa Trời thêm một người vào Hội Thánh (Công vụ các Sứ đồ 2:41, 47; 5:14). Vào lúc khởi đầu của Hội Thánh vào ngày lễ Ngũ Tuần, phép báp-têm là sự phản hồi của đức tin với sự rao giảng về Đức Chúa Giê-su như Đấng Mê-si và việc làm mà đem lại cùng với Hội Thánh.

 Lời hứa của Đức Chúa Giê-su ở với các môn đồ của Ngài “luôn luôn” (Ma-thi-ơ 28:20) có nghĩa Ngài vẫn đứng cạnh bên thông điệp. Bản thân Ngài tiếp tục tạo nên một nhóm hội dựa trên một mối quan hệ của Chúa và môn đồ. Sự hiện hữu của Ngài có nghĩa là những người đi theo Ngài không có thẩm quyền trên chính bản thân họ nhưng tiếp tục trong mối quan hệ của môn đồ với Ngài (Ma-thi-ơ 23:8-12). Nhiệm vụ của họ là mang những người khác vào trong cùng một mối quan hệ của tình môn đồ với Đức Chúa Giê-su qua việc làm báp-têm và dạy dỗ.

Sự Chết, Sự Chôn Và Sự Sống Lại

Có thể thấy một sơ đồ kép về lợi ích tiêu cực và tích cực của phép báp-têm có thể được nhìn thấy xuyên suốt qua Rô-ma 6-8 và Cô-lô-se 2-3. Phép báp-têm là một việc “làm chết đi” con người cũ, là “ cởi bỏ” lối sống cũ, một người chết với Đấng Christ, một người được chôn với Đấng Christ. Nó cũng là một người “được sống lại … một đời mới,” một sự “mặc lấy,” một “người được làm cho sống lại” với Ngài. Chúng ta được hiệp một với Đấng Christ để cho những gì xảy ra với Ngài trong lịch sử xảy ra với chúng ta về thuộc linh và mong đợi những gì sẽ xảy ra thực sự lúc Ngài trở lại. Trong phép báp-têm, Đức Chúa Trời làm cho một người điều mà Ngài đã làm cho Đấng Christ. Quyền năng của Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng Christ sống lại có tác dụng trong phép báp-têm (Cô-lô-se 2:12). Một người tham gia vào việc hình thành nên nền tảng của Hội Thánh và qua đó Đức Chúa Giê-su đã hoàn thành công việc của Đấng Mê-si (sự chết và sự sống lại), và vì vậy Ngài hiệp nhất vào trong dân sự thuộc Đấng Mê-si.

Sự xưng nhận của đức tin nơi Đức Chúa Giê-su là “Chúa” là một xưng nhận rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết (Rô-ma 10:9, 10). Sự xưng nhận đó được thực hiện không chỉ bằng môi miệng mà còn với thân thể nữa. Phép báp-têm là một sự bày tỏ của đức tin vào việc làm của Đức Chúa Trời, Đấng đã khiến Đức Chúa Giê-su sống lại từ kẻ chết (Cô-lô-se 2:12; so sánh thêm với Ê-phê-sô 1:19-20). Đó cũng là cùng loại đức tin mà Áp-ra-ham đã có (Rô-ma 4:17; so sánh Hê-bơ-rơ 11:19), và nó là sự sở hữu của cùng phẩm chất của đức tin xưng công bình mà khiến một người thành một người con thuộc linh của Áp-ra-ham ngày nay (Rô-ma 4:20-25; Ga-la-ti 3:6-9), một phần của dân Y-sơ-ra-ên mới.

Nhưng phép báp-têm không chỉ nhìn lại việc làm sáng lập của Hội Thánh. Nó cũng mong đợi Đức Chúa Giê-su tái lâm khi những người đã chịu báp-têm sẽ được sống lại (Rô-ma 8:11; 1 Cô-rinh-tô 15:22-23; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:16). Phép báp-têm cứu khỏi “cơn thạnh nộ ngày sau” (so sánh Ma-thi-ơ 3:7). Những ai được đánh dấu với dấu hiệu này thiết lập nên dân sự của thời kỳ ngày sau.

Phao-lô lý giải trong Rô-ma 6 rằng vì chúng ta nhấn chìm tội lỗi mình trong nước nên không còn sống trong tội lỗi nữa vì đó là mâu thuẫn. Vậy phép báp-têm là một liên kết giữa sự cứu chuộc một lần đủ cả bởi sự chết của Đức Chúa Giê-su và sự sống tiếp tục trong Đấng Christ.

Bất cứ điều gì hơn sự nhấn chìm đều phá hủy sự tượng trưng này.

Sự Tha Thứ Tội Lỗi

Dân sự của giao ước mới là một dân sự được tha thứ. Sự tha thứ này trở nên khả thi thông qua huyết (Ma-thi-ơ 26:28) của sự chết hy sinh của Đức Chúa Giê-su. Sự tha thứ này có hiệu lực trong nước (Công vụ các Sứ đồ 2:38; 22:16; Ê-phê-sô 5:26; 1 Phi-e-rơ 3:21). Đây là lợi ích phủ định của phép báp-têm. Nước gần như góp phần vào việc tẩy sạch trong Cựu Ước và được liên kết với sự tha thứ của thế hệ mới bởi các nhà tiên tri. Thêm một lần nữa, việc làm bên ngoài là một sự tượng trưng hoàn hảo về thực tại bên trong. Khi nước tẩy sạch sự bẩn thỉu của xác thịt, vào thời điểm của sự thanh tẩy bên ngoài, Đức Chúa Trời thực hiện công việc của sự thanh tẩy bên trong.

Sự Ban Cho Của Đức Thánh Linh

Thời kỳ Đấng Mê-si phải là Thời kỳ của Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh là một trong những ơn phước đặc biệt của thời kỳ Cơ Đốc Nhân và một trong những lời hứa mà phân biệt phép báp-têm của Cơ Đốc Nhân với phép báp-têm của Giăng (Công vụ các Sứ đồ 19:2-3).

Sự ban cho của Đức Thánh Linh được hứa kèm theo phép báp-têm bằng nước (Công vụ các Sứ đồ 2:38; 5:32). Đức Thánh Linh trở nên tài sản lâu dài của người cải đạo (Ga-la-ti 4:6; 1 Cô-rinh-tô 6:19).

Thậm chí như huyết và nước được liên kết chặt chẽ với sự tẩy sạch, thì nước và Đức Thánh Linh được liên kết chặt chẽ trong Kinh Thánh với nguyên tắc về sự sống (xem Giăng 3:5; 7:38-39; Tít 3:5). Đó là Đức Thánh Linh ban cho sự sống, và Đức Thánh Linh làm như vậy trong nước.

Ở đây là phía tích cực của các lợi ích của phép báp-têm. Đức Thánh Linh truyền quyền phép làm cho mạnh mẽ về đời mới trong Đấng Christ (Rô-ma 8; Ga-la-ti 5:16-25). Đức Thánh Linh cung cấp sự liên kết giữa các hiệu lực “một lần đủ cả” của phép báp-têm (sự tha thứ, sự xưng công bình, v.v. ) và mối quan hệ tiếp diễn của họ với đời sống Cơ Đốc Nhân. Vậy việc lớn lên trong sự thánh hóa không phải một thành tựu loài người duy nhất: một người không có được nó và không phải làm tất cả một mình. Đức Chúa Trời giúp, an ủi, và truyền sức mạnh cho dân sự của Ngài. Đức Chúa Trời không chỉ ban cho các sự ban cho thôi, mà Ngài còn ban cho chính mình Ngài.

Không có những sự bảo đảm khách quan hay tâm lý về sự ngự trị bên trong của Đức Thánh Linh. Cơ Đốc Nhân biết sự thật này khi người đó biết những điều khác trong lĩnh vực thuộc linh – qua đức tin. Cơ Đốc Nhân có lời hứa của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời không thể nói dối. Những người muốn hay thỉnh cầu những sự bảo đảm khác theo hình thức của các cảm nhận bên trong hay hiện tượng bên ngoài đang để lộ ra sự thiếu đức tin nơi Lời Ngài và lời hứa của Đức Chúa Trời. Đó là sự sở hữu của Đức Thánh Linh của Đấng Christ mà khiến Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ.

Sự Hợp Nhất Vào Trong Hội Thánh

Theo 1 Cô-rinh-tô 12:13, thì đó là bởi Đức Thánh Linh mà chúng ta chịu báp-têm vào trong một thân thể. Đức Thánh Linh khiến chúng ta thành thân thể của Đấng Christ, Hội Thánh. Đó là vào thời điểm này mà một người được hiệp nhất vào trong cộng đồng thuộc Đấng Mê-si. Người quản lý thật sự của phép báp-têm là Đức Thánh Linh. Vì lý do đó mà quản lý con người là không quan trọng, như được áp dụng trong 1 Cô-rinh-tô 1:14-17. Phao-lô không làm giảm tầm quan trọng của phép báp-têm, chỉ tầm quan trọng của người quản lý con người mà thôi.

Phép báp-têm đặt một người vào trong Đấng Mê-si. Theo Ga-la-ti 3:26-27, đó là bởi đức tin mà một người ở trong nhà của Đức Chúa Trời. Thời điểm mà vào lúc đó đức tin này kết quả khi một người được đặt vào trong nhà của Đức Chúa Trời được nói rõ là phép báp-têm. Một người đã chịu báp-têm có thể biết rằng mình là một đứa con của Đức Chúa Trời bởi vì trong phép báp-têm người đó “mặc Đấng Christ vào,” vì vậy người đó ở “trong Đấng Christ.” Vậy những gì đúng với Đấng Christ trở nên đúng với người đó, và Đấng Christ như thế nào thì người đó là như vậy. Chúng ta ở trong thân thể của Ngài bởi vì chúng ta ở “trong Đấng Christ.”

Phép báp-têm là “nhân danh Đức Chúa Giê-su Christ” (Công vụ các Sứ đồ 2:38). Tức là, nó được thực hiện liên quan đến Đức Chúa Giê-su như Đấng Mê-si. Đó là một việc làm của sự thờ phượng và sự vâng phục được thực hiện với sự tôn trọng Đức Chúa Giê-su. Trong phép báp-têm, một người xưng nhận đức tin của mình trong Đức Chúa Giê-su (Cô-lô-se 2:12; Rô-ma 10:9-10). Đó là một việc làm của sự ăn năn (Công vụ các Sứ đồ 2:38; xem Mác 1:4). Danh của Chúa được tuyên bố với người đang chịu báp-têm (Ma-thi-ơ 28:19; Công vụ các Sứ đồ 19:5-6). Danh của Ngài được ban cho một người. Điều này dường như là sức mạnh của câu nói của Phao-lô trong 1 Cô-rinh-tô 1:13. Một người có quyền để mang danh của Đấng Christ (và không phải danh khác) bởi vì người đó đã chịu báp-têm nhân danh Ngài. Người đó mang danh của “Đấng Christ” bởi vì người đó giờ đây thuộc về Ngài.

Các Tiến Triển Sau Đó

Các tác phẩm từ lịch sử Cơ Đốc Nhân ban đầu sau Tân Ước miêu tả phép báp-têm như một sự nhận chìm trong nước. Rõ ràng những sự thay thế ban đầu (việc đổ, đôi khi là rắc nước lên đầu) được nhận biết trong các trường hợp thiếu nước hay chủ yếu là trên giường bệnh nơi mà sự nhận chìm không thể được thực hiện. Phép báp-têm của các con trẻ đã xảy ra khi đang hấp hối, nhưng điều này không trở thành một việc làm phổ biến mà không ở trong trường hợp khẩn cấp cho đến thế kỷ thứ năm hay sáu. Việc làm thông thường trong hàng thế kỷ là một sự nhận chìm của những tín đồ ăn năn với một sự xưng nhận của đức tin.

Kết Luận

Như danh của Ngài được kêu gọi cho chúng ta thì trong phép báp-têm chúng ta cũng kêu gọi danh của Ngài. Phép báp-têm là một việc làm của “sự kêu cầu danh Chúa” (Công vụ các Sứ đồ 22:16; xem 2:21). Đó là sự bày tỏ về sự vâng phục và sự giao phó. Phép báp-têm luôn luôn nằm trong bối cảnh của đức tin và sự ăn năn (Hê-bơ-rơ 10:22; Mác 16:16; Công vụ các Sứ đồ 8:37;Cô-lô-se 2:12; Công vụ các Sứ đồ 2:38). Đó là một lời thề của lòng trung thành (cũng là ý nghĩa khả thi của “sự liên lạc” trong 1 Phi-e-rơ 3:21) mà bao gồm các lòng trung thành khác. Cũng như đức tin và sự ăn năn cho phép báp-têm giá trị ban đầu của nó, thì đức tin và sự ăn năn cũng tiếp tục cho phép báp-têm quyền năng cứu rỗi của nó trong đời sống Cơ Đốc Nhân. Một vài người dường như nghĩ rằng tại phép báp-têm Đức Chúa Trời giải quyết các tội lỗi quá khứ, và từ thời điểm đó thì người đó được theo ý mình. Nhưng các lợi ích của phép báp-têm tiếp tục đổ ra để che đậy toàn bộ cuộc đời của một người trong Đấng Christ, tức là, nếu khi đức tin và sự ăn năn tiếp tục bày tỏ đặc điểm đời sống của người đó. Đức tin và sự ăn năn mang lại cho phép báp-têm tầm quan trọng của nó, và chúng tiếp tục làm cho một người có được sự tha thứ sau phép báp-têm.

Tân Ước dạy rằng phép báp-têm có giá trị thực tế nhưng nó có được giá trị đó từ mạng lệnh của Đức Chúa Trời và sự hiện hữu của đức tin. Phép báp-têm là một dấu hiệu, như thời xưa đã hiểu về một dấu hiệu, thì nó hoàn thành những gì mà nó tượng trưng. Đặc biệt nó là một hành động mang tính biểu tượng tiên tri. Các việc làm tượng trưng của các nhà tiên tri thực ra là lời của Đức Chúa Trời (so sánh với Giê-rê-mi 27-28; Ê-xê-chi-ên 4). Chúng không chỉ bày tỏ việc làm của Đức Chúa Trời, nhưng bởi vì lời của Đức Chúa Trời là lẽ thật nên các việc làm này được đặt ra cho sự làm trọn của nó. Nhưng lời tiên tri là có điều kiện. Các lời hứa của Đức Chúa Trời phụ thuộc vào đức tin và sự ăn năn của dân sự. Theo một cách tương tự thì phép báp-têm là việc làm được chỉ định bởi Đức Chúa Trời để truyền các ân điển của Đấng Christ đến cho dân sự của Ngài.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Miêu tả các quan điểm khác nhau của phép báp-têm có trong giới Cơ Đốc Nhân.
  2. Điều gì cho phép báp-têm quyền năng cứu rỗi của nó theo Tân Ước?
  3. Tầm quan trọng của Đại Mạng Lệnh cho tín lý của phép báp-têm và cho Hội Thánh là gì?
  4. Liên kết từ “quyền năng” với sự sống lại, sự rao giảng, và phép báp-têm.
  5. Phép báp-têm như “sự chết, sự chôn, và sự sống lại” liên quan như thế nào đến thành viên trong Hội Thánh?
  6. Các đặc điểm nào của thời kỳ Đấng Mê-si được đặt vào phép báp-têm?
  7. Khi nào và như thế nào mà một người được hợp nhất vào trong Hội Thánh? Ai là người cầm quyền thực sự của phép báp-têm?
  8. Phép báp-têm liên quan đến cuộc đời tiếp theo của Cơ Đốc Nhân như thế nào?
  9. Phép báp-têm “nhân danh Đấng Christ” có nghĩa là gì? Tham khảo các từ điển và sách chú dẫn Kinh Thánh để được giúp đỡ thêm.
  10. Phép báp-têm chỉ mang đến sự tha thứ cho các tội lỗi của quá khứ thôi phải không, hay nó có tầm quan trọng tiếp tục cho mối quan hệ của người đó với Đức Chúa Trời?

BÀI 6: ĐỜI SỐNG TRONG HỘI THÁNH

Đức Chúa Trời “đã chọn chúng ta trong Đấng Christ đặng làm nên thánh…” (Ê-phê-sô 1:4)

Phép Báp-Têm Và Đời Sống Cơ Đốc Nhân

Nhiều đoạn trích liên quan đến phép báp-têm được thảo luận trong bài học trước diễn ra trong các mạch văn của sự chỉ dẫn đạo đức cho các Cơ Đốc Nhân (Rô-ma 6:1-11; 1 Cô-rinh-tô 12:13; Ê-phê-sô 5:26-27; Cô-lô-se 2:12-13). Các thư tín Tân Ước đã dạy các Cơ Đốc Nhân ý nghĩa và các cách áp dụng của phép báp-têm mà bởi chúng họ trước đây đã được sát nhập vào trong dân sự của Đấng Christ (Công vụ các Sứ đồ 2:38; 18:8). Phép báp-têm có một ý nghĩa rõ ràng cho các Cơ Đốc Nhân bởi vì phép báp-têm đặt tiêu chuẩn cho đời sống Cơ Đốc Nhân. Phép báp-têm tượng trưng cho các nguyên tắc cai trị phẩm chất đạo đức Cơ Đốc Nhân – chết về tội lỗi (Rô-ma 6:2-3), sự ban cho Đức Thánh Linh (1 Cô-rinh-tô 6:11), đời sống mới trong Đấng Christ (Tít 3:4; 2 Cô-rinh-tô 5:17). Trở thành một Cơ Đốc Nhân quyết định nó có nghĩa là gì để là một Cơ Đốc Nhân.

Các Cơ Đốc Nhân cư xử “với nhau cùng đối với mọi người” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 3:12) theo một cách nào đó bởi vì họ được liên kết với Đấng Christ theo một cách đặc biệt: họ ở trong Đấng Christ (Ga-la-ti 3:27) và Đấng Christ ở trong vòng họ (Cô-lô-se 1:27). Vì vậy, nhiệm vụ của Cơ Đốc Nhân là phải trở nên như người ở trong Đấng Christ (xem bài 3). Đây là bản chất của đời sống Cơ Đốc Nhân: để sống cho những gì đã được ban cho trong phép báp-têm của mình.

Một học giả đã giả thiết rằng Philíp 2:5 đã nêu ra, “Sống cho phù hợp với chổ đứng của mình trong Hội Thánh của Đấng Christ.” Hội Thánh là khu vực mà đời sống mới trong Đấng Christ được sống trong đó. Hội Thánh cung cấp khung sườn cho hoạt động đạo đức của Cơ Đốc Nhân. Hội Thánh là một phần của kế hoạch cứu chuộc của Đức Chúa Trời, không chỉ như phương tiện để truyền đạt Tin Lành cứu rỗi, mà còn như là nơi để cuộc đời đã được cứu chuộc được sống động (Ê-phê-sô 4:1-6, 11-32).

Nhiều bài giảng đã được rao giảng về việc “làm thế nào để nhận diện Hội Thánh của Chúa.” Một điểm quan trọng trong các bài giảng như vậy sẽ là cách sống của các thành viên. Có các phẩm chất khác biệt cho đời sống Cơ Đốc Nhân. Đời sống đó được quyết định bởi một mối quan hệ đặc biệt với Đức Chúa Trời được thiết lập trong Đấng Christ.

Sự Nhận Biết Đức Chúa Trời

Ý tưởng về “sự nhận biết Đức Chúa Trời” xuất hiện thường xuyên trong các thảo luận về các vấn đề đạo đức trong Tân Ước. Đạo đức Cơ Đốc Nhân được đặt nền trong Đức Chúa Trời là ai và là gì.

Các sự liên kết tương tự diễn ra lại trong vài đoạn trích về vấn đề đạo đức: 1 Phi-e-rơ 1:13-22; Ê-phê-sô 4:17-24; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:1-12. Chúng ta chọn ra một số cho sự đề cập đặc biệt. Các chủ đề này đã là phổ biến trong các tác phẩm Do Thái nghịch cùng các dân ngoại, và được tiếp tục trong Tân Ước. Chúng có thể được tóm tắt như sau: một quan điểm sai về Đức Chúa Trời dẫn đến một sự thờ phượng sai lầm, và điều này tiếp tục dẫn đến một nhân phẩm sai lệch.

Trong Cựu Ước, đó là giới dân ngoại mà đã không biết Đức Chúa Trời (Giê-rê-mi 10:25). Khi dân Y-sơ-ra-ên, một sự nhận biết về Đức Chúa Trời đã được giao phó cho họ, đã không vâng phục, thì điều này cũng được miêu tả như không biết Đức Chúa Trời (Ê-sai 1:3; Giê-rê-mi 8:7). Những sự hiện thần (sự hiện hình của Đức Chúa Trời) khiến cho mọi người nhận biết về sự thần thánh của Đức Chúa Trời và trong sự tương phản với đời sống con người đầy tội lỗi. Một trong những sự nhận biết rõ ràng nhất và tốt nhất là sự trải nghiệm của Ê-sai trong Ê-sai 6:1-13. Trong hệ thống tôn giáo hiện tại mọi người biết đến Đức Chúa Trời qua Đấng Christ (2 Cô-rinh-tô 4:4-6; Ê-phê-sô 4:20-24), và sự nhận biết này đầy đủ hơn.

Sự không biết Đức Chúa Trời đã hình thành nên sự dâm dục (1 Phi-e-rơ 1:14; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:5; Ê-phê-sô 4:17-19). Lưu ý đặc biệt đến Rô-ma 1:18-32 nơi mà các tội lỗi của giới dân ngoại được quy cho một sự chối bỏ đầy tội lỗi để chấp nhận sự nhận biết về Đức Chúa Trời là hiện hữu cho loài người. Sự dâm dục và sự thờ thần tượng được liên kết chặt chẽ trong các đoạn trích này, như chúng thường như vậy ở trong Kinh Thánh. Quan điểm của một người về Đức Chúa Trời quyết định các phẩm chất đạo đức của người đó. Vì vậy, được liên kết với sự không biết về Đức Chúa Trời là lời báo trước về những điều “phù phiếm” hay “vô ích” của giới dân ngoại (1 Phi-e-rơ 1:18; Ê-phê-sô 4:17).

Về mặt tích cực, để nhận biết Đức Chúa Trời là phải học về ý muốn của Ngài. Và để học ý muốn của Đức Chúa Trời thì có tầm ảnh hưởng về nhân cách và đạo đức (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:9). Các đoạn trích chỉ đến “ý muốn của Đức Chúa Trời” trong Tân Ước thường ở trong các bối cảnh mà các ngụ ý về đạo đức nằm ở hàng đầu (Rô-ma 2:18; 12:2; Ê-phê-sô 5:16; 6:6; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:3; Hê-bơ-rơ 13:21; 1 Phi-e-rơ 2:15; 4:2). Điều này bây giờ sẽ được bày tỏ qua Đấng Christ và những người phát ngôn cho Ngài (Ê-phê-sô 4:20-21; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:1-2).

Sự nhận biết về Đức Chúa Trời giờ đây trở thành tiêu chuẩn của phẩm chất đạo đức bởi vì bản chất của Đức Chúa Trời. Một từ mà xuất hiện ở hàng đầu trong các thảo luận như vậy là “thánh.” Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời thánh (“Đấng Thánh của dân Y-sơ-ra-ên” là một mệnh danh phổ biến của Đức Chúa Trời trong dân Y-sơ-ra-ên), và vì vậy dân sự của Ngài phải nên thánh. Một nơi tốt để bắt đầu là câu nguyên văn của Lê-vi ký, “Hãy nên thánh, vì ta, Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, vốn là thánh” (Lê-vi ký 19:2), mà mở đầu các chỉ dẫn về đạo đức khác nhau. Phẩm chất của con người đã phải được quyết định bởi bản chất của Đức Chúa Trời của họ. Sự nên thánh này tìm thấy sự bày tỏ trong các cách cư xử đạo đức cá nhân và xã hội. Bối cảnh của Lê-vi ký 19 được chứng minh trong vài đoạn trích trong Tân Ước, và chính câu 19:2 được trích dẫn trong các chỉ dẫn đạo đức của Phi-e-rơ với những người cải đạo dân ngoại (1 Phi-e-rơ 1:16).

Tôi tớ của Đức Chúa Trời xưng nhận sự thần thánh của Đức Chúa Trời; rằng sự nên thánh kiểm soát đời sống của mình. Sự kiểm soát này không được thực hiện theo cách giả tạo nào đó, nhưng bởi vì khao khát để làm Ngài hài lòng (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:1) và bởi vì mối quan hệ mới đã được lập (Ê-phê-sô 5:3). Vì vậy đạo đức Cơ Đốc Nhân là câu trả lời cho những người được cứu chuộc bởi Đấng Christ (1 Phi-e-rơ 1:16-18; Ê-phê-sô 4:32-5:2). Một người làm những gì mình làm bởi vì Đức Chúa Trời. Thậm chí trong các tội lỗi xã hội, thì các sự vi phạm không nghịch cùng con người nhiều như nghịch cùng Đức Chúa Trời (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:8). Một tội lỗi nghịch cùng chính thân thể của một người là một tội nghịch cùng Đức Chúa Trời, bởi vì thậm chí thân thể của Cơ Đốc Nhân thuộc về Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 6:18-20).

Sự Thánh Hóa Của Đức Thánh Linh

Khi một người đến với sự nhận biết về Đức Chúa Trời, đó là thông qua sự bày tỏ của Đức Thánh Linh (1 Cô-rinh-tô 2:6-13). Khi một người đáp lại các lời của Đức Thánh Linh và chịu báp-têm (1 Phi-e-rơ 1:22), thì người đó nhận Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:18). Đức Thánh Linh này là Thánh Linh của thánh đức (Rô-ma 1:4) – Đức Thánh Linh (1 Cô-rinh-tô 6:19; Ê-phê-sô 4:30). Đức Thánh Linh góp phần trong bản chất của Đức Chúa Trời. Vì vậy công việc của Đức Thánh Linh trong đời sống của Cơ Đốc Nhân là sự thánh hóa (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13; 1 Phi-e-rơ 1:2). Sự thánh hóa đem một người trở nên giống với Đức Chúa Trời. Đây không phải là một sản phẩm của nổ lực của loài người mà không có sự giúp đỡ, nhưng đó là thành tựu của Đức Thánh Linh.

“Quá trình” của sự thánh hóa là một vấn đề của sự tiếp tục lớn lên trong đời sống Cơ Đốc Nhân. Nó chạm được đích của nó chỉ trong đời hầu đến. Đôi khi sự thánh hóa được nhận biết với sự tiếp nhận của Đức Thánh Linh tại phép báp-têm như một việc làm quá khứ rõ ràng (1 Cô-rinh-tô 6:11; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:7; Hê-bơ-rơ 10:10). Những lúc khác, sự thánh hóa là một quá trình hiện tại của việc làm của Đức Thánh Linh (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:3; Rô-ma 6:19 Hê-bơ-rơ 12:14). Đôi khi sự thánh hóa được đặt chỉ vào lúc cuối như một sự hoàn thành của thuyết mạt thế (liên quan đến những điều cuối cùng) (1 Tê-sa-lô-ni-ca 3:13; 5:23).

Rất thường xuyên người không phải Cơ Đốc Nhân sẽ làm các việc làm tương tự như Cơ Đốc Nhân. Nhưng có một sự khác biệt giữa một Cơ Đốc Nhân và một người không phải Cơ Đốc Nhân mà làm điều tương tự. Đó là sự khác biệt giữa một việc làm đạo đức, tốt lành và phẩm chất của sự thánh hóa. Cơ Đốc Nhân làm những gì mà mình làm, không chỉ bởi vì đó là một việc làm đạo đức hay “điều đúng đắn” để làm hay điều thiết thực để làm, hay bất cứ điều gì thúc đẩy người không phải Cơ Đốc Nhân. Cơ Đốc Nhân làm những gì mình làm bởi vì người đó nhận biết Đức Chúa Trời và ý muốn của Đức Chúa Trời và bởi vì sự thánh hóa của Đức Thánh Linh. Vì vậy phẩm chất đạo đức của Cơ Đốc Nhân có một nguyên nhân hay căn cứ khác và một giá trị khác với nó.

Các phẩm chất và các việc làm của đời sống Cơ Đốc Nhân là bông trái, hay sản phẩm của công việc của Đức Thánh Linh trong đời sống của dân sự của Đức Chúa Trời (Ga-la-ti 5:16-26; Rô-ma 8:1-17; Ê-phê-sô 3:16). Những sự ban cho của Đức Thánh Linh vượt hơn những sự bày tỏ siêu nhiên (1 Cô-rinh-tô 12-14). Thực ra sự ban cho tuyệt vời nhất của Đức Thánh Linh – đức tin, hy vọng và tình yêu thương (1 Cô-rinh-tô 12:31-14:1) – đều có sẵn cho mọi Cơ Đốc Nhân. Các phẩm chất này là “bông trái của Đức Thánh Linh” là các kết quả của việc nhận biết Đức Chúa Trời và nhận lãnh Đức Thánh Linh của Ngài

Tình Yêu Thương Của Đấng Christ

Vậy cho đến nay chúng ta đã xem xét nền tảng tín lý cơ bản về đạo đức Cơ Đốc Nhân. Bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về nguyên tắc cơ bản để quản trị cách áp dụng của nhân phẩm này, mà được đặt nền trong sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Nguyên tắc đạo đức Cơ Đốc Nhân vượt trội hơn cả là tình yêu thương (agape), thái độ không ích kỷ mà mong muốn điều tốt nhất cho người khác. Rất đáng để chú ý rằng Đức Thánh Linh và tình yêu thương thường xuyên xuất hiện cùng với nhau trong cùng các bối cảnh như thế nào (Rô-ma 5:5; Ga-la-ti 5:22; Cô-lô-se 1:8). Tình yêu thương là sản phẩm cao nhất của việc làm của Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là tình yêu thương (1 Giăng 4:8). “Chúng ta yêu vì Chúa đã yêu chúng ta trước” – Đức Chúa Trời truyền lệnh về một sự hầu việc của tình yêu thương và Ngài ban cho tình yêu thương mà truyền sức mạnh để hầu việc (1 Giăng 4:19). Tình yêu thương này là hướng về Đức Chúa Trời và dân sự (Ma-thi-ơ 22:36-40), và nó quả thực là tuyệt đối (không có đối tượng trong 1 Giăng 4:19). Động lực cho nhân phẩm này là ý muốn của Đức Chúa Trời: vì lý do này mà một người biết yêu thương (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:9).

Tình yêu thương chiến thắng luật pháp trong cách cư xử với loài người của Đức Chúa Trời (1 Phi-e-rơ 4:18-19; Rô-ma 5:6-11; 1 Giăng 4:9-11). Dầu vậy, tình yêu thương chiến thắng luật pháp trong nhân phẩm của chúng ta. Luật pháp như một nguyên tắc không thể thay đổi được tấm lòng, truyền sức mạnh để giữ các sắc lệnh của nó, hay mang đến sự bình an cho tâm trí. Mặt khác, Cơ Đốc Nhân không xem thường luật pháp (1 Ti-mô-thê 1:8; Rô-ma 7:12). Cơ Đốc Nhân cũng không phớt lờ các quy tắc và các quy định, hay trở thành tôi mọi của chúng. Các quy tắc có thể gìn giữ một nguyên tắc và chỉ dẫn cách áp dụng của nó, nhưng chúng không bao giờ có thể hoàn thành được nó. Đôi khi một người có thể phải hành động theo một cách nào đó về việc phá vỡ các quy tắc để được trung tín với một nguyên tắc (như một người dừng lại trên đường đến Hội Thánh để giúp đỡ một vụ tai nạn và vì vậy bỏ lỡ các buổi nhóm họp), nhưng một người nên luôn luôn chắc chắn rằng người đó đang làm việc dựa trên nguyên tắc mà không phải dựa trên ý chợt phát sinh khi người đó làm như vậy. Dễ dàng để đánh lừa chính chúng ta về các động lực thực sự của chúng ta. Vậy các yêu cầu đặc biệt là những sự chỉ dẫn cần thiết đến nhân phẩm. Tâm thần mà truyền đạt sự tuân theo của họ là tâm thần của tình yêu thương.

Thách Thức Của Các Phẩm Chất Đạo Đức Của Cơ Đốc Nhân

Từ những gì đã được học thì rõ ràng rằng các phẩm chất đạo đức của Cơ Đốc Nhân là điều gì đó hơn cả việc chỉ “làm điều thiện” hay thực hiện các danh sách của các bổn phận. Có những điều đặc biệt mà một Cơ Đốc Nhân sẽ không làm, như nhiều danh sách của các thói hư tật xấu trong Tân Ước chỉ ra (Cô-lô-se 3:5-9; Ê-phê-sô 4:24-1; 5:3-5; 1 Ti-mô-thê 3:2-5). Và có những nét đặc trưng rõ ràng của phẩm chất Cơ Đốc Nhân đã liệt kê ra trong các đoạn trích cụ thể khi các tác giả được soi dẫn áp dụng các nguyên tắc Cơ Đốc Nhân cho các trường hợp cụ thể. Nhưng sự công kích ban đầu của sự dạy dỗ Tân Ước về đạo đức phải thực hiện với các phẩm chất của đời sống. Đời sống Cơ Đốc Nhân được thách thức nhiều hơn so với một danh sách của “làm và không làm.” Cũng vậy, không có chỗ cho sự tự mãn hay tự kiêu để nghĩ rằng một người đang sống theo các yêu cầu. Nhưng để chối bỏ giá trị của việc giảm bớt đời sống Cơ Đốc Nhân thành một danh sách mà không khiến cho đời sống Cơ Đốc Nhân dễ dàng hơn, vì một người không bao giờ có thể thỏa mãn với nơi mà người đó đang lớn lên về mặt thuộc linh trong khi người đó làm theo sự chỉ dẫn của Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời hằng sống. Có một sự phóng khoáng đối với tương lai trong các phẩm chất đạo đức của Cơ Đốc Nhân. Nó đòi hỏi chính điều tốt nhất trong một người.

Tiêu chuẩn cao này của đạo đức liên quan đến sự đáp lại của một người với Đấng Christ, và nó trở nên khả thi bởi vì sự đáp lại đó. Đời sống Cơ Đốc Nhân vừa là một sự ban cho và vừa là một nhiệm vụ. Đức Chúa Trời qua Đức Thánh Linh của Ngài không chỉ ban cho các mạng lệnh mà còn sức mạnh để sống đời sống được thay đổi. Con người không phải làm nó một mình; chúng ta có sự trợ giúp thánh. Một phần của sự trợ giúp thánh này đến từ sự hỗ trợ của cộng đồng đã được cứu chuộc. Đời sống mới của một người là được sống trong Hội Thánh. Đó là sứ đồ trong cộng đồng của những người mà cùng chia sẻ ân điển của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Một phần của kế hoạch của Đức Chúa Trời đó là họ sẽ lớn lên trong sự cứu rỗi trọn vẹn. Để làm được điều này, việc liên kết với các Cơ Đốc Nhân khác trong cộng đồng của đức tin là cần thiết.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Phép báp-têm duy trì mối quan hệ nào với đời sống Cơ Đốc Nhân?
  2. Hội Thánh quan trọng đối với đời sống Cơ Đốc Nhân theo cách nào?
  3. Nêu ra một vài đoạn trích Tân Ước về nguyên tắc thảo luận về phẩm chất đạo đức của Cơ Đốc Nhân.
  4. Việc “nhận biết Đức Chúa Trời” quan trọng với phẩm chất Cơ Đốc Nhân như thế nào?
  5. Hậu quả của việc không nhận biết Đức Chúa Trời là gì?
  6. Phẩm chất nào của Đức Chúa Trời quyết định nhân phẩm của dân sự Ngài?
  7. Thảo luận sự dạy dỗ của Kinh Thánh về sự thánh hóa.
  8. Tìm các đoạn trích nơi mà Đức Thánh Linh thiết lập tiêu chuẩn của đạo đức.
  9. Tại sao Cơ Đốc Nhân phải yêu thương?
  10. Thảo luận vị trí của các quy tắc trong đời sống Cơ Đốc Nhân. Làm thế nào để đời sống Cơ Đốc Nhân vượt hơn việc chỉ giữ gìn luật pháp đơn thuần?

BÀI 7: SỰ THÔNG CÔNG CỦA HỘI THÁNH

“Gọi anh em được thông công với Con của Ngài” (1 Cô-rinh-tô 1:9)

Một điều trong những khía cạnh đầy ý nghĩa của đời sống Cơ Đốc Nhân, và một điều mà nằm gần với ý nghĩa cơ bản của Hội Thánh, là sự thông công của các thánh đồ của Đấng Christ. Khái niệm về sự thông công nhấn mạnh tính cộng đồng (mối quan hệ nhóm) của Hội Thánh và kêu gọi tập trung vào ý thức của sự phụ thuộc và sự góp phần.

Sự thông công dịch từ koinonia, có nghĩa sự góp phần chung, có chung, sự giao thiệp, chia sẻ, sự phụ thuộc lẫn nhau. Điểm nổi bật của khái niệm này trong Tân Ước được chỉ ra không chỉ bởi nhóm các từ liên quan đến koinonia, mà còn bởi số lượng lớn các từ ghép được lập với giới từ “với,” gợi đến một mối liên kết chặt chẽ (chúng thường đặc biệt có trong Phi-líp). Một nhóm đáng chú ý của các từ ghép này là những danh từ đó mà được dịch thành tiếng anh “fellow worker (đồng nghiệp),” “fellow servant (đồng hầu việc),” “fellow disciple (đồng môn),” “fellow citizen (đồng dân tộc),” và giống như vậy.

Sự Thông Công Trong Đấng Christ

Trong những ngày còn trong xác thịt của mình, Đức Chúa Giê-su đã kêu gọi mọi người theo Ngài và trở thành một phần của sự thông công của Ngài (Ma-thi-ơ 4:18-22). Ngài kêu gọi họ đến với Ngài. Họ phải học về Ngài và gánh lấy ách của Ngài trên mình họ (Ma-thi-ơ 11:25-30). Không có bất cứ điều gì bâng quơ về lời kêu gọi đó, và mặc dù chúng ta không còn nhận biết Ngài “theo xác thịt,” thì lời kêu gọi của Ngài ngày nay cũng không phải là nói bâng quơ (2 Cô-rinh-tô 5:16-20). Đức Chúa Giê-su kêu gọi mọi người trở nên môn đồ của Ngài và học những gì Ngài dạy dỗ (Ma-thi-ơ 28:19-20). Sự khởi đầu vẫn đến từ Đức Chúa Trời, Đấng kêu gọi mọi người vào trong sự thông công của Con Ngài (1 Cô-rinh-tô 1:9; so sánh Hê-bơ-rơ 3:1).

Sự thông công này được dựa trên một lời tuyên bố. Đức Chúa Trời kêu gọi qua Tin Lành để cho một người có thể có được sự vinh hiển của Đức Chúa Giê-su (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:14; so sánh với 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:4-5). Trong bản chất của nó, lời thông điệp mà qua đó Đức Chúa Trời trong Đấng Christ kêu gọi mọi người có chính Đức Chúa Giê-su như chính nội dung của nó (1 Giăng 1:1-4). Một người không chỉ học về Đấng Christ, mà trong thông điệp còn học chính Đấng Christ (Ê-phê-sô 4:20-21). Theo cách này thì vẫn là chính Đấng Christ, Đấng kêu gọi mọi người đến với chính Ngài (Giăng 12:32).

Để hiểu về sự thông công một cách chính xác, vậy thì, một người phải bắt đầu bởi việc nhìn nó như điều gì đó được tạo dựng với Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Nó không phải là việc làm của chính chúng ta. Bằng việc đáp lại lời kêu gọi của Đức Chúa Trời (1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:12), mọi người trở nên những người chia sẻ trong bản chất thánh (2 Phi-e-rơ 1:3-4). Khi mọi người nhận thông điệp của Đấng Christ và trở nên được gắn kết, thì họ nhận Đấng Christ và bắt đầu một đời sống mà trong đó họ phải trở nên giống Ngài hơn (Cô-lô-se 2:6; so sánh 2 Cô-rinh-tô 5:17; 6:14; 7:1). Giờ đây cuộc đời của họ được hợp với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời (Phi-líp 4:7), vì ở trong Ngài họ chia sẻ một sự đổi mới của tâm trí (Rô-ma 12:2) và trải nghiệm sự bình an của Ngài trong lòng họ (Cô-lô-se 3:15). Họ đã giao phó chính họ hoàn toàn cho Chủ của họ đến nỗi mục đích của cuộc đời của họ đó là Đấng Christ được hình thành trong họ (Ga-la-ti 4:19) để cho họ không còn là người đang sống mà Đấng Christ là Đấng đang sống trong họ (Ga-la-ti 2:20).

Những người “được gọi theo ý muốn Ngài” (Rô-ma 8:28) đã được “buông tha” (Rô-ma 8:2) vào lúc khởi đầu của Đức Chúa Trời rồi (Rô-ma 8:3). Bởi việc sắp xếp tâm trí của họ “vào Thánh Linh” thì họ giờ đây có được “sự sống và bình an” (Rô-ma 8:6), được trở thành “con cái của Đức Chúa Trời,… kẻ kế tự của Đức Chúa Trời và người đồng kế tự với Đấng Christ” (Rô-ma 8:16-17). Vậy cuộc đời của họ bị chi phối bởi sự thông công của họ với Đấng Christ.

Sự Thông Công Của Các Môn Đồ

Về cơ bản, sự thông công Cơ Đốc Nhân là Đức Chúa Trời ban cho, không phải sự chọn lựa của con người. Các Cơ Đốc Nhân phải thông công với nhau bởi vì họ có sự thông công với Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Họ là “một” với nhau bởi vì họ là “một” với Ngài (Giăng 17:20-23). Sự thông công Cơ Đốc Nhân là một sự giao thiệp với Đức Chúa Giê-su Christ được chia sẻ bởi các Cơ Đốc Nhân khác. Sự giao thiệp này với Đấng Christ là nền tảng cho đời sống đoàn thể mà bày tỏ Ngài. Một sự thông công chung với Chúa sản sinh ra một mối thông công với những người chia sẻ nó.

Khi mọi người được kéo đến thập tự giá thì họ thấy rằng họ không một mình: họ đang đồng đi với những người khác có trải nghiệm tương tự. Sự thông công với các tín đồ khác đã được thành lập bởi Đức Chúa Trời rồi; đó là một phần của điều “được ban cho” khi tham gia vào trong sự thông công với Đấng Christ. Bổn phận của một người là phải thực hiện theo một cách thực tiễn mối thông công được Đức Chúa Trời ban cho này, để gìn giữ “sự hiệp một của Thánh Linh bằng dây hòa bình” (Ê-phê-sô 4:3). Tình anh em loài người được dựa trên việc ưa thích lẫn nhau và chọn ở cùng nhau. Các Cơ Đốc Nhân đã ở cùng nhau trong Đấng Christ rồi, vì vậy họ chọn để yêu mến nhau. Họ trở nên hiệp một cùng với nhau bởi đời sống của họ trong Chúa. Họ là một cộng đồng mà bắt đầu tồn tại và tiếp tục tồn tại bởi mối quan hệ của họ với Đấng Christ. Các mối quan hệ thông thường sẽ làm xa cách mọi người với nhau bị nhận chìm, trong việc chia sẻ mối thông công của Đấng Christ (Phi-lê-môn; Ga-la-ti 3:28; Cô-lô-se 3:11).

Vậy điều cơ bản của sự thông công trong Hội Thánh được tìm thấy trong một sự cứu rỗi chung bởi cùng Đấng Cứu Thế, và trong một lòng trung thành chung với một Chúa (Ê-phê-sô 4:4-5). Tất cả các ơn phước thuộc linh được chia sẻ cùng nhau (Rô-ma 15:27), và điều làm nên tất cả chúng là việc cùng chia sẻ của đức tin (Phi-lê-môn 6). Không có tài sản nào của Cơ Đốc Nhân quý báu hơn đức tin của họ. Một sự bày tỏ cụ thể của đức tin chung này là “tay hữu giao kết” (Ga-la-ti 2:9).

Các Cơ Đốc Nhân là những người cùng dự phần với Đức Thánh Linh (Phi-líp 2:1). Một Đức Thánh Linh làm một trong những điều cơ bản của sự hiệp một của Cơ Đốc Nhân (Ê-phê-sô 4:4). Một Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời đưa một người vào trong mối thông công của Hội Thánh tại phép báp-têm (1 Cô-rinh-tô 12:13), phân phát nhiều sự ban cho cho sự hầu việc của toàn bộ Hội Thánh (1 Cô-rinh-tô 12:4-7), và là nguồn của sự nuôi dưỡng và làm tươi mát linh hồn trong đời sống Cơ Đốc Nhân (1 Cô-rinh-tô 12:13).

Các nhân tố hiệp một trong sự thông công Cơ Đốc Nhân là tình yêu thương mà Đấng Christ đã bày tỏ cho chúng ta (Cô-lô-se 3:14). Khi các Cơ Đốc Nhân hiểu được bản chất của tình yêu thương đó quá đến nỗi nó thay đổi họ không chỉ như các cá nhân mà còn như một mối thông công, nó trở thành một dấu hiệu và bằng chứng của tình đồng môn của họ (Giăng 13:35; so sánh Công vụ các Sứ đồ 2:43-47). Họ có mối thông công với Đức Chúa Trời và tận hưởng sự thanh tẩy liên tục của Ngài (1 Giăng 1:5-7). Dựa trên nền tảng của Đức Chúa Trời, Đấng Christ và Đức Thánh Linh  một hội đồng loài người được thành lập (2 Cô-rinh-tô 13:14; so sánh Công vụ các Sứ đồ 2:42).

Các Hoạt Động Được Chia sẻ

Sự thông công đoàn thể này được tạo nên khi các Cơ Đốc Nhân chia sẻ cuộc sống trong Đấng Christ được mang một đặc tính được định nghĩa rõ ràng hơn bởi những biểu hiện cụ thể về  ý nghĩa cộng đồng của nó.

Trong sự thờ phượng của mình, Hội Thánh được dẫn dắt bởi Đấng Christ (Cô-lô-se 3:15-17). Vậy trong sự tham gia hay sự thông công trong lễ Tiệc Thánh, Hội Thánh tham dự trong Đấng Christ, và sự tham gia này đổi lại được kết quả trong một sự hiệp thông của các tín đồ (1 Cô-rinh-tô 10:16-17).

Khi Hội Thánh công bố về Đấng Christ, các thành viên của hội chia sẻ Tin Lành khi họ hổ trợ việc rao giảng (Phi-líp 1:3-8). Sự thông công này được thực hiện không chỉ trong việc hổ trợ những người rao giảng, mà còn trong một ý muốn chấp nhận nó như một sự dâng hiến cho Đức Chúa Trời (Phi-líp 4:14-19). Sự thông công có thể liên quan đến các mối quan tâm thực tiễn của việc rao giảng, như là những sự sắp xếp tài chính và sự ưng thuận trong vòng các Cơ Đốc Nhân về các phạm vi đặc biệt của trách nhiệm (Ga-la-ti 2:9-10), nhưng nó không bao giờ chỉ là một vấn đề thực tế. Các Cơ Đốc Nhân tìm cách để có sự thông công này vì cớ Đức Chúa Trời và để là những người chia sẻ cùng nhau trong lẽ thật (3 Giăng 6-8). Khi họ rao giảng thì họ làm như vậy không phải chỉ như những đối tác với nhau hay như những người truyền thông điệp của Hội Thánh, mà họ làm vậy còn bởi vì vinh hiển của Đấng Christ (2 Cô-rinh-tô 8:23; so sánh Cô-lô-se 1:27-28).

Sự thông công cũng được bày tỏ qua cách sử dụng các tài sản của Cơ Đốc Nhân. Thái độ được bày tỏ bởi tác giả của Hê-bơ-rơ 13:16 là một cơ sở cho toàn bộ Tân Ước: “Chớ quên việc lành và lòng bố thí, vì sự tế lễ dường ấy đẹp lòng Đức Chúa Trời.” Vậy các nhu cầu của các thánh đồ cung cấp một cơ hội để có mối thông công với họ (Rô-ma 12:13; 2 Cô-rinh-tô 8:4). Nó không chỉ là một cơ hội để làm giảm bớt sự khó nhọc, mà còn trở thành một dịp mà bởi đó Đức Chúa Trời có thể được làm vinh hiển (2 Cô-rinh-tô 9:13). Để việc đáp ứng thực tế này của các nhu cầu trên thành sự thông công thực sự, thì nó không chỉ phải được ban cho theo một cách đúng, nhưng nó cũng phải được nhận như một việc làm của sự thông công (Rô-ma 15:26, 30-31). Nghĩa gốc cho cả hai từ “đóng góp” và “tham gia” trong các đoạn trích này là sự thông công.

Sự Từ Chối Thông Công

Đó là một đặc tính của sự thông công thực sự mà nó muốn để bám chặt lấy những người nam và nữ chia sẻ trong Đấng Christ. Sự thông công là một phần tự nhiên của đời sống Cơ Đốc Nhân mà chúng ta phải tìm kiếm. Nhiều đoạn trích nói về bản chất quý báu này của sự thông công Cơ Đốc Nhân (1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:8-11, 20; 3 Giăng 3, 4; Phi-líp 4:1-3; Công vụ các Sứ đồ 20:36-38).

Hoàn toàn đúng bởi vì sự chia sẻ này trong Đấng Christ là rất quan trọng, nó là điều gì đó để được trân trọng và giữ tinh sạch. Nó có giá trị chỉ khi nó miêu tả một con đường tốt hơn, một đời sống cao hơn. Để tiếp tục trong sự thông công với Cha, Đấng gọi chúng ta vào trong Hội Thánh, chúng ta phải tiếp tục vâng phục các mạng lệnh của Ngài (1 Giăng 2:3-6) và phải giữ những gì mà chúng ta đã nghe từ ban đầu (1 Giăng 2:24-25; Hê-bơ-rơ 3:14). Bởi vì Đức Chúa Trời thành lập sự thông công trong Đấng Christ, trừ khi các mối quan tâm của chúng ta phù hợp với các việc làm của Ngài liên quan đến sự thông công thì chúng ta không mang gì vào trong sự thông công mà chỉ một dạng cụ thể của “sự thống nhất.”

Các Cơ Đốc Nhân không dự phần vào tội lỗi của những người khác (1 Ti-mô-thê 5:22). Bằng việc chấp nhận vào trong sự thông công với một người không có Đức Chúa Trời trong đời sống của mình, thì Hội Thánh sẽ có phần trong việc làm hung ác của người đó (2 Giăng 9-11). Trong mong muốn của Hội Thánh để chia sẻ Tiệc Thánh với Đấng Christ với những người khác, Hội Thánh biết được rằng mình không thể chia sẻ trong các công việc không kết trái của bóng tối, nhưng mình phải phơi bày nó (Ê-phê-sô 5:11). Vì lý do đó, Hội Thánh đang đề phòng điều tội lỗi và bóng tối, từ chối trở thành giống như họ bởi việc có sự thông công với họ (2 Cô-rinh-tô 6:14). Hội Thánh ban đầu đã sử dụng “các thư tín giới thiệu” để tự bảo vệ họ về mặt này (Công vụ các Sứ đồ 18:27; 2 Cô-rinh-tô 3:1-2).

Việc Rút Phép Thông Công

Bởi vì sự thông công của Hội Thánh là một bản biểu thị đặc tính của mình, Hội Thánh cũng phải được chú ý đến việc rút khỏi các yếu tố xa lạ với mình. Vậy một mục đích của việc rút phép thông công là để gìn giữ sự nhận dạng của Hội Thánh (1 Cô-rinh-tô 5:6-8, 12-13). Như một nhóm hội của các tín đồ, Hội Thánh phải hoàn toàn là của Chúa đến nỗi trong sự thông công của mình thì Hội Thánh làm chứng về Ngài. Khi sự bày tỏ của Đấng Christ bởi Hội Thánh bị gây hại bởi ai đó, thì Hội Thánh phải rút khỏi người đó. Một người như vậy là người từ chối giao phó chính mình cho đời sống của Đấng Christ, cho dù là trong đời sống đạo đức của mình (1 Cô-rinh-tô 5), hay bằng việc chối bỏ các sự dạy dỗ của Đấng Christ (Rô-ma 16:17-18; so sánh 2 Tê-sa-lô-ni-ca 3:6-15), hay bởi sự kiểm soát chung của người đó trong thân thể của Đấng Christ (Tít 3:10-11; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 3:11-12).

Nhưng việc rút phép chỉ có thể có ý nghĩa thực sự nếu sự thông công của Hội Thánh là thực. Nếu sự thông công của Hội Thánh cho đến nay không có các phẩm chất để gìn giữ, thì việc “rút phép thông công” là vô nghĩa, vì thực ra không có bất cứ điều gì về bản chất mà có thể bị rút ra. Sự thông công của Hội Thánh phải là một thực tế mà có thể được trải nghiệm và nhìn thấy bởi các Cơ Đốc Nhân và thế gian. Việc rút phép ngụ ý một sự tự ý thức lớn bởi Hội Thánh của tầm quan trọng của chính Hội Thánh với cả sự tôn trọng cho mối quan hệ đoàn thể của mình với Chúa và với sự tôn trọng cho mối quan hệ của Hội Thánh với cá nhân các Cơ Đốc Nhân. Mục đích thứ hai cho việc rút phép thông công là để kỷ luật người bị rút khỏi (1 Cô-rinh-tô 5:5; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 3:14). Được dựng nên bởi các anh chị em được liên kết lại, Hội Thánh có thể hình phạt, và cũng có thể tha thứ và an ủi (2 Tê-sa-lô-ni-ca 3:15; 2 Cô-rinh-tô 2:6-7). Nếu việc tự ý thức mà khiến cho việc kỷ luật này khả thi không phải trở thành tính kiêu ngạo, thì Hội Thánh phải tìm cách để phát triển cách đúng đắn của sự thông công, và phải xem sự rút phép theo viễn cảnh này.

Việc rút phép phải thực hiện thêm với sự nhận biết kính sợ và khiêm nhường vì sự thông công liên quan được tạo nên bởi Đấng Christ, nó cũng chỉ có thể được giải quyết bởi Ngài. Ngài không chỉ truyền lệnh trong việc rút phép được thực hiện và giải thích nó phải được làm như thế nào (Ma-thi-ơ 18:15-19), mà chính Ngài còn hiện hữu để cho nó mượn thẩm quyền của Ngài khi nó đang bị ảnh hưởng (Ma-thi-ơ 18:20; 1 Cô-rinh-tô 5:4; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 3:6, 12). Hội Thánh đang hoạt động cho Đấng Christ theo nổ lực này. Như Đức Chúa Trời qua Đấng Christ kêu gọi chúng ta đến sự thông công này, thì Ngài cũng tiếp tục quyết định đặc tính của nó.

Việc rút phép thông công bao gồm việc từ chối dự Tiệc Thánh (bài 9). Do đó, việc rút phép thông công sau được gọi là sự rút khỏi Tiệc Thánh (sự ngăn chặn khỏi lễ Tiệc Thánh). Hội Thánh không có quyền kỷ luật cao hơn hoặc quyền nào khác của việc thực hiện bảo vệ  ranh giới thành viên của mình. Nó làm như vậy trong tinh thần của việc thực hiện những gì mà Đức Chúa Trời thương xót nhưng thánh khiết sẽ làm.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Ý nghĩa của từ gốc được dịch là sự thông công là gì?
  2. Tham khảo một sách chỉ dẫn hay từ điển Kinh Thánh về một vài cách sử dụng của sự thông công trong Tân Ước.
  3. Sự thông công này trong Đấng Christ được căn cứ như thế nào trên một lời tuyên bố?
  4. Cách sử dụng tôn giáo của Tân Ước khác với các ý tưởng thế tục về sự thông công như thế nào? Nền tảng tín lý của sự thông công là gì?
  5. Nêu tên một vài điều được chia sẻ chung bởi các Cơ Đốc Nhân? Bạn có thể mở rộng danh sách được cho trong bài học không?
  6. Việc đóng góp tiền và tài sản là một sự bày tỏ của sự thông công như thế nào?
  7. Khi nào Hội Thánh nên từ chối chấp nhận một người vào trong sự thông công của nó?
  8. Những người nào là đối tượng của việc rút phép thông công trong Tân Ước?
  9. Các mục đích của việc rút phép thông công là gì?
  10. Liên kết chủ đề của bài học này với các đề tài khác trong chuỗi bài học này.

BÀI 8: SỰ THỜ PHƯỢNG CỦA HỘI THÁNH

“Bằng tâm thần và lẽ thật” (Giăng 4:24)

Mặc dù sự thờ phượng được thực hiện bằng các tấm lòng thành tâm và sự suy ngẫm cá nhân, nhưng theo cách diễn đạt đầy đủ nhất của nó thì sự thờ phượng là một việc làm theo nhóm. Hội Thánh bày tỏ chính mình khi nó thực sự đang ở trong sự thờ phượng. Có thể có những sự sai sót khi một Hội Thánh chỉ trở thành một hội thờ phượng thôi. Tuy nhiên sự thờ phượng thật sẽ không cho phép điều này xảy ra. Những sự bóp méo một phía sẽ không làm cho một người nhìn thấy được tầm quan trọng của sự thờ phượng đối với đời sống của Hội Thánh, vì trong sự thờ phượng, bản chất của Hội Thánh được phơi bày ra. Xuyên suốt lịch sử Cơ Đốc Nhân, việc nhóm họp để thờ phượng đã được gọi một cách thích hợp là một “buổi thờ phượng.” Đó không phải là một việc làm riêng biệt của sự hầu việc tách biệt khỏi các việc làm khác, nhưng là một cách hầu việc Đức Chúa Trời một cách thân mật được liên kết với các việc làm khác của sự hầu việc.

Đức Chúa Trời Là Đối Tượng

Sự thờ phượng được thực hiện cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ, bởi Đức Thánh Linh cho sự gây dựng của Hội Thánh. Trật tự của câu nói này rất quan trọng. Đức Chúa Trời là đối tượng của sự thờ phượng, và sự thờ phượng phải có Đức Chúa Trời là trung tâm, không phải con người là trung tâm. Chỉ mình Đức Chúa Trời là xứng đáng. Nếu ai đó đến thờ phượng cho những gì mà người đó có thể “thoát khỏi nó”, thì người đó đến với lý do sai trái. Một người đến để dâng sự vinh hiển lên cho Đức Chúa Trời. Người đó được thu hút bởi lòng biết ơn vì những gì Đức Chúa Trời đã làm cho mình trong Đấng Christ. Các lợi ích thuộc linh cho cá nhân những người thờ phượng chắc chắn có kết quả, và các phương thức cơ bản mà bởi đó Hội Thánh được dựng lên trong đức tin là sự thờ phượng tập thể. Sự thờ phượng có thể chắc chắn là một trải nghiệm cảm xúc, làm xúc động tâm hồn (và sự ảnh hưởng này không nên bị xem thường), nhưng, giống như sự hạnh phúc, sự nâng cao của sự thờ phượng không đến từ việc “tìm kiếm nó” nhưng như một sản phẩm phụ của các hoạt động đáng giá khác.  

Sự hiểu biết theo tín lý của sự thờ phượng phải được đặt nền trong Đức Chúa Trời. Sự thờ phượng được xác định bởi bản chất của Đức Chúa Trời. Một trong những cách miêu tả sâu sắc nhất về sự thờ phượng được tìm thấy trong Giăng 4:21-22. Vì Đức Chúa Trời là Thần, sự thờ phượng phải là bằng tâm thần và lẽ thật, tức là, nó phải là thuộc linh và có thật (từ Hy Lạp cho “lẽ thật” ở đây gợi đến “sự thực”). Sự thờ phượng phải là chân thành và thật. Vì Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Dựng và Đấng Cưu Mang của sự sống, vật tạo dựng phải đến trước Đức Chúa Trời về các thuật ngữ của Đức Chúa Trời. Thái độ cơ bản phải là sự khiêm nhường.

Phao-lô dựa các chỉ dẫn của ông trên phẩm chất đạo đức nhóm hội của sự thờ phượng trong 1 Cô-rinh-tô 11 theo trật tự về bản  chất được thiết lập bởi sự tạo dựng. Điều này cung cấp một cách giải thích theo tín lý cho vị trí được sắp cho người nữ trong sự thờ phượng. Hoạt động của người nữ trong Hội Thánh bị hạn chết trong sự thờ phượng công cộng nhưng không phải ở nơi khác (1 Cô-rinh-tô 14:34-36; 1 Ti-mô-thê 2:11-14 là những sự miêu tả về sự thờ phượng công cộng). Sự hạ thấp tầm quan trọng trong phạm vi này rõ ràng là dành cho bản chất của sự thờ phượng: nó được nhắm đến Đấng Tạo Dựng; vì một người quan sát trật tự tạo dựng – người nam trước, sau đó là người nữ. Một người đến với Đức Chúa Trời như Đấng tạo dựng nên mình, hay người đó không thờ phượng Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 11:3, 6).

Trong Đấng Christ

Đặc tính riêng biệt của sự thờ phượng của Hội Thánh là được cai trị bởi sự thật rằng nó là “trong Đấng Christ.” Thân thể của Đấng Christ là đền thờ mới (Giăng 2:19). Ngài là “lẽ thật” (Giăng 14:16). Cơ Đốc Nhân đến với Đức Chúa Trời không chỉ như Đấng Tạo Dựng mà còn như Cha của Đức Chúa Giê-su Christ. Sự cứu chuộc đã cho một mối quan hệ mới với Đức Chúa Trời và một động cơ mới cho sự thờ phượng. Vì vậy sự thờ phượng Cơ Đốc Nhân được liên kết một cách riêng biệt đến “danh của Đấng Christ.”

Các việc làm bên ngoài, hay đường phố, mà qua đó sự thờ phượng được bày tỏ, được thực hiện cho Đức Chúa Trời qua Đức Chúa Giê-su Christ. Đó là “nhân danh Ngài,” “với sự tôn kính dành cho Ngài,” “vì sự thờ phượng cho Đấng Christ” mà những điều này đã được làm. Trong việc làm trọng tâm và riêng biệt của sự thờ phượng của Hội Thánh, lễ Tiệc Thánh (được học đầy đủ hơn trong bài tiếp theo), mối quan hệ với Đức Chúa Giê-su là rõ ràng. Đức Chúa Giê-su thiết lập việc làm của sự tạ ơn này (Mác 14:22-25 và các đoạn tương tự). Sự lập lại là một sự tưởng niệm về Đức Chúa Giê-su, được thực hiện để nhớ đến Ngài (1 Cô-rinh-tô 11:24, 26). Bánh chia sẻ cùng sự chỉ định như làm với Hội Thánh – thân thể của Ngài (Ma-thi-ơ 26:26; Cô-lô-se 1:18). Vậy việc tham dự lễ Tiệc Thánh là một sự tham gia (thông công) trong Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 10:16-17). Trong việc tôn kính Đấng Christ như vậy, Hội Thánh đang tôn kính Đức Chúa Trời, và nhận biết việc làm của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ về sự cứu rỗi của Ngài.

Các việc làm khác của sự thờ phượng, mà đã được thực hiện bởi dân sự của Đức Chúa Trời trước khi Đấng Christ đến, giờ đây có một sự tập trung mới trong Đấng Christ, được bày tỏ bởi công thức “nhân danh Ngài.” Vậy việc cầu nguyện – dù là lời kính mến, xưng nhận, cảm tạ hay cầu xin – thì giờ đây được làm “cho Đức Chúa Trời, qua Đấng Christ, trong Đức Thánh Linh,” để tóm lại một trong những công thức của Hội Thánh xưa. (Xem 1 Ti-mô-thê 2:1-5; Giăng 14:13-14; Rô-ma 8:26-27) Cầu nguyện là một việc làm của cả Hội Thánh. Khi một người nói cho dân sự với Đức Chúa Trời, người đó chỉ mang một trách nhiệm ít nghiêm trang hơn và sẽ chuẩn bị ít hơn so với người nói cho Đức Chúa Trời với dân sự của Ngài. Các thành viên của Hội Thánh xác nhận lời cầu nguyện như của chính họ bởi cách phát âm trang trọng từ “Amen,” có nghĩa là “nguyện là như vậy,” “đây cũng là lời cầu nguyện của chúng ta” (1 Cô-rinh-tô 14:16).

Hát cũng dành cho Đức Chúa Trời “nhân danh Ngài” (Ê-phê-sô 5:19-20; Cô-lô-se 3:16-17). “Thi thiên, thánh ca, và các bài hát thuộc linh,” mặc dù có những hàm ý hơi khác nhau, nhưng chúng xuất hiện để được sử dụng mà không có sự khác biệt hoàn toàn. Đặc biệt ở đây rất quan trọng để không nhầm lẫn thẩm mỹ học với sự thờ phượng. Tuy nhiên, các bài hát được chọn nên phù hợp với bản chất thuộc linh của sự thờ phượng và nhấn mạnh đặc tính mục đích của sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.

Đức Chúa Giê-su là động cơ và tấm gương trong việc dâng hiến của chúng ta (2 Cô-rinh-tô 8:9). Sự dâng hiến là một của lễ, một sự cúng tế (Phi-líp 4:18; 1 Cô-rinh-tô 16:1-3; 2 Cô-rinh-tô 9:12). Đó là một trong những cách diễn đạt cơ bản về sự thông công trong Đấng Christ. Vậy nó có những liên kết về mặt tín lý rất quan trọng, và nó đáng chú ý rằng Kinh Thánh không yêu cầu các lý do thực tiễn trong việc khích lệ người ta dâng hiến (trong 2 Cô-rinh-tô 8-9 Phao-lô thậm chí không kêu nài sự thật rằng các Cơ Đốc Nhân Giê-ru-sa-lem là nghèo khó và cần giúp đỡ), nhưng luôn luôn đặt sự dạy dỗ về việc dâng hiến trong một bối cảnh về tôn giáo.

Đấng Christ là nội dung cốt yếu của việc đọc Kinh Thánh và rao giảng của Hội Thánh (Lu-ca 24:44-45; Công vụ các Sứ đồ 8:35; và lưu ý các bài giảng trong Công vụ các Sứ đồ). Các Cơ Đốc Nhân đọc toàn bộ Kinh Thánh theo các thuật ngữ của Đấng Christ. Sự giảng dạy của họ tất cả đều liên quan đến Ngài. Sự rao giảng trong một buổi nhóm thờ phượng lý tưởng là để trình bày về các nội dung của Kinh Thánh, vì trong dịp này lời của Đức Chúa Trời được phán với loài người và được đáp ứng các nhu cầu của họ.

Bởi Đức Thánh Linh

Đức Thánh Linh, là Đấng Thần Linh của Đấng Christ, soi dẫn và chỉ dẫn sự thờ phượng Cơ Đốc Nhân và dâng sự thờ phượng đó lên Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 12:3; 14:15; Rô-ma 8:26-27; Ê-phê-sô 5:18-19). Sự thờ phượng là “bằng tâm thần.” Đây là điều khiến nó thuộc linh. Đức Thánh Linh hiệp nhất các tín đồ trong một thân thể của Đấng Christ và mang sự thờ phượng của họ đến với Đấng Christ và Đức Chúa Trời.

Sự Gây dựng

Tôn giáo theo Kinh Thánh hầu như là tôn giáo độc nhất trong giới tôn giáo trong sự đặt việc đọc Kinh Thánh và dạy dỗ và rao giảng dựa trên Kinh Thánh trong giờ thờ phượng (1 Ti-mô-thê 4:13; Cô-lô-se 3:15-17). Phao-lô lấy sự gây dựng nhóm làm tiêu chuẩn để  xác định những gì chấp nhận được trong sự thờ phượng của Cơ Đốc Nhân và cách tiếp tục điều đó (1 Cô-rinh-tô 14:1-26).

Các Yếu Tố Của Sự Thờ Phượng

Mối quan tâm cơ bản trong sự thờ phượng thường là làm như thế nào chứ không phải nó là gì. Vậy có sự nhấn mạnh về các việc làm của sự thờ phượng hơn là về những gì làm được qua các việc làm này. Việc nghiên cứu tín lý về sự thờ phượng của Hội Thánh có thể giúp để liệt kê một vài khía cạnh hay yếu tố của sự thờ phượng. Không được mong đợi rằng đây sẽ là một danh sách toàn diện, hay tất cả sẽ quan trọng như nhau. Với các yếu tố này đang miêu tả về bản chất của sự thờ phượng sẽ được chỉ đến các con đường mà qua đó chúng có thể được bày tỏ.

Sự ngợi khen, hay sự kính mến, chắc chắn là một trong những khía cạnh quan trọng của sự thờ phượng. “Chúng ta trở nên giống với điều mà chúng ta thờ phượng” miêu tả ảnh hưởng lên chúng ta về sự kính mến. Sự ngợi khen có thể được truyền đạt qua việc đọc các đoạn Kinh Thánh về sự ngợi khen, trong các lời cầu nguyện, qua các lời được rao giảng, và qua việc hát các bài thánh ca về sự ngợi khen.

Sự tạ ơn là yếu tố nổi bật khác trong sự thờ phượng Cơ Đốc Nhân. Nó được đặt nền trong chính bản chất của sự đáp lời của các tín đồ đến Đức Chúa Trời trong Đấng Christ. Sự tạ ơn có thể được bày tỏ trong việc đọc các đoạn Kinh Thánh về sự tạ ơn, trong các lời cầu nguyện, trong các bài hát về lòng biết ơn, và hơn hết là trong lễ Tiệc Thánh (xem bài tiếp theo).

Sự tưởng nhớ có một vị trí lớn trong tôn giáo theo Kinh Thánh, còn là một tôn giáo mang tính lịch sử. Có lời nói rằng “người hay quên là người không thờ phượng.” Một lý do để việc đọc Kinh Thánh chiếm một vị trí lớn như vậy trong cả việc thờ phượng riêng tư và công khai của các Cơ Đốc Nhân đó là Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta về Đức Chúa Trời và lịch sử về dân sự của Ngài, những người đã làm chứng về việc đổ các ơn phước và những sự phán xét của Ngài. Sự tưởng nhớ không chỉ bao gồm các việc làm quá khứ mà còn trông chờ sự làm trọn các lời hứa của Đức Chúa Trời. Bên cạnh việc đọc Kinh Thánh, rao giảng và đặc biệt là lễ Tiệc Thánh là các việc làm mà qua đó sự tưởng nhớ chiếm phần cốt yếu.

Tế lễ hay sự dâng hiến luôn luôn là một sự bày tỏ về sự thờ phượng ở bất cứ nơi nào. Sự dâng hiến đã được làm tinh sạch về các động cơ của nó qua các lời rao giảng của Kinh Thánh, vì người của Đức Chúa Trời đặt lời thề và dâng các tế lễ của mình không phải để làm hài lòng Đức Chúa Trời hay dành được sự chiếu cố từ Ngài, nhưng để bày tỏ một sự hiến dâng chính bản thân mình để làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời và tình yêu thương của Ngài đối với loài người. Sự dâng hiến được thuộc linh hóa trong sự thờ phượng của Hội Thánh. Sự dâng hiến của Cơ Đốc Nhân được dâng lên qua bài hát, lời cầu nguyện, lễ Tiệc Thánh và sự dâng hiến tiền bạc và tài sản.

Sự xưng nhận tội lỗi và sự xưng nhận của đức tin cũng là các khía cạnh liên quan của sự thờ phượng. Yếu tố chung của chúng là sự nhận biết về sự thánh khiết và sự thương xót của Đức Chúa Trời. Sự nhận biết này sinh ra sự bày tỏ về đức tin và sự nhận biết về tội lỗi. Các câu phát biểu bằng lời nói của cá nhân, các lời cầu nguyện, các bài hát, và các bài đọc Kinh Thánh là các phương thức để trình bày những sự xưng nhận.

Sự dạy dỗ, như được xem xét ở trên, là một nét đặc biệt của sự thờ phượng theo Kinh Thánh. Đức Chúa Trời được tôn kính khi dân sự Ngài được dạy dỗ và chỉ dẫn. Sự dạy dỗ có thể được thực hiện bởi việc hát, đọc Kinh Thánh, và đặc biệt là bởi việc rao giảng.

Những lời cầu xin cũng thuộc về sự thờ phượng của Hội Thánh. Điều phân biệt những lời cầu xin của sự thờ phượng Cơ Đốc Nhân với lời cầu xin bình thường của những người không biết Đức Chúa Trời của Kinh Thánh là viễn cảnh lớn hơn mà trong đó những lời thỉnh cầu và những lời cầu thay của sự cầu nguyện Cơ Đốc Nhân được thiết lập. Tất cả đều được bao gồm trong lời cầu xin bao hàm toàn diện, “Ý Ngài được nên.” Có các bài hát cầu nguyện, và các đoạn Kinh Thánh cầu nguyện cũng như các lời cầu nguyện được nói ra. Có những cách khác nhau để nêu lên các thỉnh cầu của dân sự của Đức Chúa Trời.

Những Lời Trình Bày Sau Cùng

Các tác phẩm của Cơ Đốc Nhân sớm nhất sau Tân Ước phản ánh các hoạt động tương tự trong buổi nhóm họp của Cơ Đốc Nhân: việc đọc Kinh Thánh, rao giảng, cầu nguyện, lễ Tiệc Thánh, và dâng hiến (đặc biệt xem Justin Martyr, 1 Apology 67, khoảng năm 150). Chẳng mấy chốc vai trò lãnh đạo trong sự thờ phượng bị hạn chế trong giới tu sĩ, và thậm chí vai trò của mọi người trở thành vai trò của những người quan sát hơn là những người tham gia. Đúng lúc, các lời cầu nguyện và các trật tự của buổi nhóm trở nên không chỉ đơn giản là những sự chỉ dẫn cho những người lãnh đạo trong buổi nhóm mà đặt ra các nghi thức thường lệ được làm theo lịch của Hội Thánh. Sự phát triển đã hình thành để gìn giữ tín lý đúng đắn nhưng lại giới hạn tính ý thức và linh hoạt.

Các bài hát của Hội Thánh ban đầu không kết hợp với nhạc cụ âm nhạc. Trong những thời kỳ trung gian, đàn organ được đem vào trong buổi thờ phượng của Hội Thánh Công Giáo phương Tây, nhưng các Hội Thánh chính thống phương đông vẫn giữ âm nhạc bằng lời nói không có đệm.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Khi nào Hội Thánh thực sự là chính mình nhất?
  2. Điều gì quyết định bản chất của sự thờ phượng?
  3. Những thái độ cơ bản gì mà một người phải có khi đến thờ phượng Đức Chúa Trời?
  4. Đấng Christ đã thay đổi sự thờ phượng như thế nào?
  5. Có thể nói rằng sự thờ phượng của Cơ Đốc Nhân được thực hiện bằng tâm thần Theo cách nào?
  6. Tiêu chuẩn nào của sự thờ phượng được chấp nhận mà Phao-lô đã đặt ra với những người Cô-rinh-tô?
  7. Phân biệt các việc làm của sự thờ phượng với các yếu tố của sự thờ phượng.
  8. Nêu tên một vài yếu tố của sự thờ phượng được nêu ra trong bài học này.
  9. Các yếu tố khác nào mà bạn sẽ thêm vào danh sách này?
  10. Điều gì nên được nhấn mạnh hơn, các việc làm bên ngoài hay các yếu tố cốt yếu của sự thờ phượng? Có các việc làm bên ngoài cụ thể mà phù hợp hơn để bày tỏ về các yếu tố cốt yếu của sự thờ phượng của Cơ Đốc Nhân hơn những cái khác không?

BÀI 9: LỄ TIỆC THÁNH

“Đây là thân thể ta.”

(Ma-thi-ơ 26:26)

Tân Ước sử dụng từ “thân thể” để nói đến Đức Chúa Giê-su theo bốn nghĩa khác nhau: (1) thân thể xác thịt của sự hóa hình của Ngài (Hê-bơ-rơ 10:5; Lu-ca 23:52); (2) thân thể được vinh hiển của sự sống lại của Ngài (Phi-líp 3:21); (3) thân thể thuộc linh của Hội Thánh của Ngài (Cô-lô-se 1:18; Ê-phê-sô 1:23); và (4) bánh của lễ Tiệc Thánh (Ma-thi-ơ 26:26). Mỗi cách sử dụng này đều liên quan đến bản chất của Hội Thánh. Con của Đức Chúa Trời trở nên xác thịt và huyết (so sánh Giăng 1:14; 19:34; Hê-bơ-rơ 2:14) để qua sự chết và sự sống lại của Ngài thì Ngài có thể cứu chuộc một dân sự mới của Đức Chúa Trời (Cô-lô-se 1:18-20; Phi-líp 2:5-10; Công vụ các Sứ đồ 20:28). Những người này một ngày nào đó sẽ chia sẻ hình ảnh của sự vinh hiển Ngài (Phi-líp 3:21; 1 Cô-rinh-tô 15:44; 1 Giăng 3:2). Phao-lô kết hợp các khái niệm (3) và (4) khi ông tuyên bố rằng bởi việc tham dự vào một miếng bánh thì các Cơ Đốc Nhân trở nên một thân thể với Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 10:16-17). Nhưng trước tiên Đức Thánh Linh tại phép báp-têm phải hợp nhất họ vào trong thân thể của Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 12:13). Việc nhận được sự nuôi dưỡng thuộc linh từ Chúa (Giăng 6:35-40, 47-58, 63), họ được biến đổi vào trong sự vinh hiển của Ngài (2 Cô-rinh-tô 3:18).

Lễ Tiệc Thánh, hơn tất cả các việc làm khác của sự thờ phượng, diễn đạt về Hội Thánh là gì. Có rất nhiều ý tưởng liên kết với lễ Tiệc Thánh mà thích hợp cho tín lý của Hội Thánh.

Sự Tạ Ơn

Tại sự thiết lập của lễ Tiệc Thánh, Đức Chúa Giê-su “tạ ơn” (dạng động từ của eucharistia, sự tạ ơn). Đây cũng là ý nghĩa của “tạ ơn” (Mác 14:22). Đó là việc làm thông thường của dân Do Thái khi bắt đầu một bữa ăn để cầm bánh, nói một lời cầu nguyện, và bẻ nó. Đức Chúa Giê-su thường làm điều này trong các bữa ăn của Ngài với các môn đồ của Ngài (Mác 6:41) vì vậy Đức Chúa Giê-su được nhận biết bởi cách riêng biệt của Ngài về việc làm điều này (Lu-ca 24:30, 35). Vì vậy lễ Tiệc Thánh được biết đến trong Hội Thánh ban đầu như việc “bẻ bánh” (Công vụ các Sứ đồ 2:42; 20:7). Tại lễ Vượt qua của dân Do Thái, cũng có một “chén của sự tạ ơn (so sánh 1 Cô-rinh-tô 10:16) như một phần của bữa ăn trong lễ tưởng niệm về việc ra khỏi xứ Ê-díp-tô. Đức Chúa Giê-su lấy các hành động quen thuộc này và vào đêm của bữa ăn cuối cùng Ngài đã để lại chúng với một ý nghĩa mới.

Khi chúng ta lặp lại các việc làm của Đức Chúa Giê-su thì chúng ta cũng “tạ ơn”Đức Chúa Trời. Các yếu tố vật chất dùng để nhắc nhở chúng ta về tất cả các sự ban cho của Đức Chúa Trời. Nhưng vào thời điểm này, chúng ta phải lưu tâm đặc biệt về các sự ban cho mà liên quan đến sự cứu rỗi.

Lễ Tiệc Thánh là việc làm lớn của Hội Thánh về sự tạ ơn cho tất cả những gì liên quan đến đời sống của nó trong Chúa.

Kỷ niệm

Phao-lô trích những lời của Đức Chúa Giê-su về sự thiết lập như đang chứa mạng lệnh (làm điều này để nhớ đến ta” (1 Cô-rinh-tô 11:24, 26). Cụm từ theo nghĩa đen là “làm điều này để tưởng nhớ (anamnesis) về ta.”

Khía cạnh tưởng nhớ của lễ Tiệc Thánh được làm cho rõ ràng hơn bởi việc chỉ đến các việc làm của dân Do Thái. Các lời của Đức Chúa Giê-su “Đây là thân thể ta” có thể được liên kết với các từ của Xuất Ê-díp-tô ký 12:11, “Ấy là lễ Vượt Qua của Chúa.” Khi dân Giu-đa làm lễ tưởng niệm cho lễ Vượt Qua (mnemosunon) (Xuất Ê-díp-tô 12:14), thì nó còn hơn cả việc chỉ là sự tưởng niệm về một sự kiện đã qua. Mỗi người Giu-đa kỷ niệm lễ Vượt Qua làm chính mình trở thành một người tham gia trong sự kiện Xuất Ê-díp-tô. Sách Mishnah ra chỉ thị rằng, “Trong mỗi thế hệ, một người nam phải tự xem mình như thể mình đưa chính mình ra khỏi xứ Ê-díp-tô.” Sự giải phóng khỏi ách nô lệ trở thành trải nghiệm của chính mình. Vì vậy, thay vì nhìn về quá khứ để nhớ lại, thì quá khứ được mang đến hiện tại và những lợi ích của nó làm cho có hiệu lực.

Phao-lô nói thêm rằng trong việc lập lễ tưởng niệm này về Đức Chúa Giê-su chúng ta đang “rao ra sự chết của Ngài” (1 Cô-rinh-tô 11:26). Trong lễ Tiệc Thánh, có một sự mô tả, một sự rao ra, một sự thực hiện lại. Ở đây một khái niệm Cựu Ước khác sẽ giúp ích được trong việc đánh giá đúng tầm quan trọng về những gì Đức Chúa Giê-su đã làm tại Bữa Ăn Cuối Cùng. Trong việc so sánh, các việc làm quen thuộc của việc bẻ bánh và đổ nước của trái nho cho thân thể và huyết của Ngài thì Đức Chúa Giê-su đang thiết lập một điểm về sự tượng trưng mang tính tiên tri. Xác thịt của Đức Chúa Giê-su được bẻ ra và ban cho loài người (Giăng 19:34; 20:25-29; 1 Cô-rinh-tô 11:24) và huyết của Ngài được đổ ra cho sự tha thứ của tội lỗi (Ma-thi-ơ 26:28). Vì các phần có mặt tượng trưng của sự thật được lặp lại, khi chúng ta lặp lại việc làm của Đức Chúa Giê-su, thì chúng ta mang các lợi ích của sự chết của Ngài một lần nữa vào trong cuộc đời của chúng ta. Chúng ta tham dự vào sự hy sinh của Ngài (1 Cô-rinh-tô 10:16).

Giao Ước

Đó là sự hy sinh của Đấng Christ đã mang đến sự tha thứ của tội lỗi và thiết lập một giao ước mới giữa Đức Chúa Trời và loài người (Hê-bơ-rơ 8:6-9:26). Đức Chúa Giê-su đã tuyên bố rằng “nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước” (Ma-thi-ơ 26:28). Giao ước cũ đã được bắt đầu bởi sự dâng tế, rải rắc huyết của giao ước, và việc dự một bữa ăn giao ước (Xuất Ê-díp-tô 24:3-11). Đối với các Cơ Đốc Nhân, việc dự lễ Tiệc Thánh là một việc làm của lòng trung thành với giao ước đổi mới với Chúa. Đây là một mối quan hệ mà bao gồm tất cả các lòng trung thành khác thuộc tôn giáo (1 Cô-rinh-tô 10:21). Mối quan hệ giao ước là một trong những sự giao thông gần gũi với Chúa. Hội Thánh là dân sự của giao ước mới mà có một bữa ăn mới.

Sự Thông Công

Lễ Tiệc Thánh cũng được gọi bởi Phao-lô là một sự thông công hay lễ giao thông (koinonia) với thân thể và huyết của Chúa (1 Cô-rinh-tô 10:16-17; xem bài 7). Các Cơ Đốc Nhân gặp gỡ quanh bàn của Chúa (1 Cô-rinh-tô 10:21). Họ ăn “lễ Tiệc Thánh của Chúa” (1 Cô-rinh-tô 11:20). Ngài mời, và mục đích trong việc đến cùng nhau là để bẻ bánh với Ngài. Bàn thông công tràn đầy những sự kết giao phong phú của sự gần gũi trong thế giới Kinh Thánh. Đức Chúa Giê-su hiện hữu thuộc linh khi dân sự của Ngài gặp nhau nhân danh Ngài.

Đoạn trích trong 1 Cô-rinh-tô 10:14-21 chỉ ra việc ăn uống tại các đền thờ thần tượng đã thiết lập một sự giao thông với ma quỷ. Cũng vậy việc ăn uống các của cúng tế trong dân Do Thái khiến  họ trở thành người dự phần với bàn thờ. Khi các Cơ Đốc Nhân ăn bánh và uống chén, họ đang tham dự vào trong thân thể và huyết của Đấng Christ, tức là họ đang chia sẻ trong sự sống của Ngài và các lợi ích của sự sống đó.

Sự thông công này không chỉ với Đấng Christ đã sống lại. Nó cũng là với nhau. Chúng ta có sự hiệp một qua lòng trung thành của chúng ta với một Chúa chung. Đó là sự thông công của chúng ta với Đấng Christ mà thiết lập sự thông công của một người với người khác. Một sự diễn đạt cụ thể của việc chấp nhận lẫn nhau của chúng ta là việc chia sẻ của chúng ta trong lễ Tiệc Thánh. Lễ Tiệc Thánh bày tỏ sự tham dự của một người trong Hội Thánh, vì Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 12:12). Việc ăn “một miếng bánh” làm cho những người tham dự thành “một thân thể” trong Đấng Christ (1 Cô-rinh-tô 10:17). Đó chỉ là trong một thân thể mà chúng ta nhận được các lợi ích của sự chết của Đấng Christ (so sánh Ê-phê-sô 2:16).

Bữa tiệc lớn của Đấng Mê-si

Sự bày tỏ trước về sự chết của Chúa trong bữa ăn là “cho đến khi Ngài đến (1 Cô-rinh-tô 11:26). Lễ Tiệc Thánh hướng về thập tự giá và mang đến một sự thông công hiện tại. Nó còn tuyên bố thêm về một sự kiện tương lai. Thực vậy điểm lưu ý nổi trội hơn về bữa tiệc là sự mong đợi đầy vui mừng, vì đó không chỉ là một Đấng Christ đã bị đóng đinh, Đấng được tưởng nhớ đến nhưng là một vị Chúa hằng sống. Sự thông công hiện tại là một sự bảo đảm và sự hưởng trước của một sự thông công trọn vẹn hơn để được tận hưởng.

Một phần của niềm hy vọng theo thuyết mạt thế của Do Thái giáo được lập theo các thuật ngữ bữa tiệc của Đức Chúa Trời cho dân sự Ngài (Ê-sai 25:6; Lu-ca 13:29). Điều này cho thấy bối cảnh về các thí dụ bữa tiệc được chép trong Lu-ca (14:1-24), và có thể đằng sau sự ám chỉ đến “tiệc cưới của chiên con” (Khải huyền 19:9). Một cách trực tiếp hơn đến luận điểm, Đức Chúa Giê-su tại bữa ăn cuối đã nói về việc ăn và uống trong nước của Đức Chúa Trời (Ma-thi-ơ 26:29; Lu-ca 22:16, 18). Trong lễ Tiệc Thánh, chúng ta dự trước các ơn phước của thời kỳ cuối. Đây là một việc làm của thời kỳ cuối, mà bày tỏ đặc tính của Hội Thánh như dân sự mà tham dự vào các sự ban cho thời kỳ cuối của Đức Chúa Trời.

Lễ Tiệc Thánh không chỉ đem quá khứ vào trong hiện tại, mà nó còn mang tương lai vào trong hiện tại. Ở đây chúng ta nhìn thấy Hội Thánh như được đặt giữa trung tâm (thập tự giá) và đích (sự đến trở lại) của lịch sử.

Và vì vậy bóng tối của đêm phản bội đó,

Với sự đến cuối cùng mà chúng ta hiệp lại,

Bằng một chuỗi nghi thức yêu thương,

Cho đến khi Ngài đến!

Sự Dâng Tế

Đấng Christ hy sinh thân ngài Ngài một lần cho tất cả (Hê-bơ-rơ 10:10). Hội Thánh là một sự tiếp nối hằng sống của tế lễ đó. Lễ Tiệc Thánh là một sự nhắc nhở rằng chúng ta sống bởi thập tự giá. Sự sống lại cho sự bảo đảm rằng có sức mạnh trong sự sống tế lễ. Những người thờ phượng đã ăn con sinh tế trong thời kỳ Cựu Ước. Trong lễ Tiệc Thánh có một sự tham dự thuộc linh trong thân thể và huyết của Đấng Christ và các lợi ích của sự dâng tế đó (1 Cô-rinh-tô 10:16-22).

Chúng ta không chỉ tiếp tục một sự tham dự trong sự dâng tế của Chúa. Chúng ta còn dâng của lễ của riêng chúng ta ở đây. Tất cả sự thờ phượng là một việc làm của sự dâng tế – sự dâng tế dựa trên lý trí của sự ngợi khen và tạ ơn (Hê-bơ-rơ 13:15).  Lễ Tiệc Thánh như việc làm riêng biệt trọng tâm của Hội Thánh của sự thờ phượng là giây phút tuyệt vời của sự tự dâng tế lễ lên Đức Chúa Trời, Đấng đã cứu chuộc Hội Thánh.

Ngày của Chúa

Nó có thể có hoặc không quan trọng rằng tính từ Hy Lạp rút từ từ dành cho Chúa (kuriakos, có nghĩa “của hoặc thuộc về Chúa,” từ kurios) xảy ra trong Tân Ước chỉ hai lần – chỉ đến lễ Tiệc Thánh (1 Cô-rinh-tô 11:20) và ngày của Chúa (Khải huyền 1:10). Hội Thánh ban đầu gặp gỡ vào ngày đầu tiên trong tuần để tham dự lễ Tiệc Thánh (Công vụ các Sứ đồ 20:7). Điều này tiếp tục là hoạt động của Hội Thánh xưa, và một trong những sự định rõ thông thường của nó cho ngày đầu tiên được tiếp tục là ngày của Chúa. Lễ Tiệc Thánh và ngày của Chúa thuộc về nhau. Cả hai đều đặc biệt là của Đấng Christ, và điều kết hiệp chúng lại là sự sống lại.

Ngày đầu tiên trong tuần là ngày của sự sống (Mác 16:1-10; Lu-ca 24:1; Giăng 20:1). Dân Giu-đa giữ ngày Sa-bát để tưởng nhớ về sự giải thoát khỏi ách nô lệ của người Ê-díp-tô (Phục truyền Luật lệ Ký 5:1-15). Đối với các Cơ Đốc Nhân, ngày đầu tiên trong tuần có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt: nó là ngày giải phóng của họ khỏi ách nô lệ của tội lỗi. Vào ngày đó Đấng Christ đã bẻ gãy thanh chắn của sự chết. Vào ngày đó Cơ Đốc Nhân kỷ niệm bữa ăn của Chúa mình như một sự tưởng niệm về sự chết và sự sống lại, của sự tha thứ và đời sống mới. Ý nghĩa đặc biệt của ngày đầu tiên như ngày của sự sống lại cho nó tầm quan trọng thuộc tín lý như ngày của sự thờ phượng và kỷ niệm của lễ Tiệc Thánh.

Những Bày Tỏ Sau Đó

Trong thời kỳ sau Tân Ước, một vài tác giả bắt đầu xem lễ Tiệc Thánh không chỉ như một của lễ tạ ơn nhưng như một của lễ cứu chuộc. Sự hiện diện thực sự của Đấng Christ tại lễ Tiệc Thánh được nhấn mạnh và càng ngày càng được cho một sự nhận dạng thân thể với các yếu tố để cho bánh và nước nho được hiểu theo nghĩa đen như thân và huyết của Đấng Christ. Vì vậy đã đặt cơ sở cho tín lý thời trung cổ về sự biến thể, mà là một cách giải thích triết học về làm thể nào mà các yếu tố được thay đổi từ bánh và rượu thành thân và huyết trong khi đang giữ sự hiện diện vật chất của chúng. Những sự bày tỏ này không có sự chứng thực trong các đoạn trích Tân Ước nhưng chứng minh tầm quan trọng trọng tâm mà lễ Tiệc Thánh có với sự thờ phượng của Cơ Đốc Nhân đến nỗi có sự bày tỏ thần học về những gì đã làm.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Theo các nghĩa nào từ “thân thể” được sử dụng sự ám chỉ đến Đức Chúa Giê-su?
  2. Có đúng không khi nói Tiệc Thánh như “việc làm trọng tâm của sự thờ phượng của Cơ Đốc Nhân”? Nêu ra các lý do cho cả câu trả lời khẳng định và phủ định.
  3. Nêu tên một vài khía cạnh của lễ Tiệc Thánh liên quan đến ý nghĩa của Hội Thánh.
  4. Lễ Tiệc Thánh bày tỏ bản chất của Hội Thánh như thế nào?
  5. Từ “eucharist (lễ ban thánh thể)” thực sự có nghĩa gì? “Anamnesis”? “koinonia”?
  6. Các khái niệm và các việc làm Cựu Ước nào có liên quan đến sự hiểu biết về lễ Tiệc Thánh? Theo cách nào?
  7. Điều này có nghĩa gì khi một người nói rằng lễ Tiệc Thánh là một việc làm thời mạt thế?
  8. Có cách nào thích hợp để nói lễ Tiệc Thánh như một của tế lễ không?
  9. Trong Hy Lạp hiện đại, từ cho ngày chủ nhật là kuriake (ngày của Chúa). Đây có phải là bằng chứng cho ngày thờ phượng của Hội Thánh không?
  10. Tại sao ngày đầu tiên trong tuần lại quan trọng với các Cơ Đốc Nhân? Điều này nói gì về việc tham dự lễ Tiệc Thánh?

BÀI 10: CÔNG VIỆC CỦA HỘI THÁNH

“Được dựng nên trong Đức Chúa Giê-su Christ để làm việc lành” (Ê-phê-sô 2:10)

Các việc lành không sinh ra sự cứu rỗi cho con người hay đặt Đức Chúa Trời dưới một hình thức nghĩa vụ nào đó đối với con người. Nhưng những người được cứu làm việc. Các Cơ Đốc Nhân ở trong Đấng Christ để làm các việc lành (Ê-phê-sô 2:10). Hội Thánh tiếp tục sự hầu việc của Đức Chúa Giê-su trong thế gian. Hội Thánh là thân thể của Ngài, theo một cách là một sự mở rộng của chính Ngài trong thế gian. Công việc của Ngài được làm ngày nay qua dân sự của Ngài. Hội Thánh là một tổ chức thánh với một nhiệm vụ thánh.

Công việc của Hội Thánh là những gì mà các Cơ Đốc Nhân làm chung như một sự bày tỏ về đạo Đấng Christ của họ. Đó là những gì mà họ làm cùng với nhau “bởi vì họ là các Cơ Đốc Nhân.” Tân Ước không đưa ra một sự phân biệt rõ ràng giữa các cá nhân và Hội Thánh. Các thư tín được gửi đến các Hội Thánh nhưng nói về các việc làm của cá nhân (1 Cô-rinh-tô) hay gửi đến các cá nhân và nói về Hội Thánh (1 Ti-mô-thê và Gia-cơ). Hội Thánh là một nhóm của những người được cứu, và trong cách sử dụng Tân Ước thì Hội Thánh tồn tại và một người là một phần của Hội Thánh cho dù nó có nhóm lại hay không. Hội Thánh là sự bày tỏ về mặt nhóm hội của đạo Đấng Christ; nó là một phần không thể tránh được của việc “ở trong Đấng Christ.” Sự thờ phượng có thể được thực hiện một cách riêng tư hay trong Hội Thánh. Cũng vậy, công việc của Hội Thánh có thể được xem như một việc làm cá nhân hay việc làm tập thể của dân Chúa.

Tân Ước rõ ràng nhìn trước được sự hầu việc được làm bởi toàn bộ Hội Thánh, mặc dù nó cần thiết được tiến hành bởi các thành viên cụ thể (Công vụ các Sứ đồ 6:1; 11:28-29; Rô-ma 15:25-27; 1 Cô-rinh-tô 16:1-4). Nó miêu tả thêm về sự hầu việc là một vấn đề của trách nhiệm và sự chủ động cá nhân, mặc dù nó cũng là một sự đóng góp cho sự hầu việc toàn diện của Hội Thánh (Rô-ma 12:20; Ga-la-ti 6:2). Các cá nhân nên tham gia vào các công việc được thực hiện bởi Hội Thánh , nhưng người đó không bởi đó mà được thoát khỏi trách nhiệm hầu việc của chính mình như một Cơ Đốc Nhân riêng biệt; và Hội Thánh không thể tránh khỏi trách nhiệm của nó với lý do rằng đáp ứng các nhu cầu của những người khác là trách nhiệm riêng của các thành viên.

Chức Vụ Hầu Việc

Hầu hết những gì được viết ra về công việc của Hội Thánh được thực hiện từ một quan điểm thực tiễn. Mục đích ở đây phải nhìn vào nền tảng tín lý của sứ mệnh của Hội Thánh. Vì mục đích này, công việc của Hội Thánh có thể được kiểm chứng nhằm sinh lợi dưới tiêu đề của chức vụ hầu việc (diakonia). Nhóm từ “người hầu việc” (chấp sự), “chức vụ” và “cho người hầu việc” được sử dụng bởi người Hy Lạp cho việc làm của người ở hay thậm chí là nô lệ. Nó có thể được sử dụng theo một nghĩa bao quát về sự hầu việc chung được dành cho người khác hay theo một nghĩa thu hẹp là để hầu việc tại bàn hay chăm sóc các nhu cầu thuộc thể. Tân Ước tiếp tục các cách sử dụng không làm cho đặc biệt này. Nhưng mối quan tâm của chúng ta là trong các cách sử dụng về chuyên môn, tín lý của các từ. Ở đây thêm một lần nữa có một ý nghĩa bao quát của sự hầu việc của Đấng Christ với dân sự (Mác 10:45; Lu-ca 22:37) và của sự hầu việc của dân sự với Đức Chúa Trời (2 Cô-rinh-tô 6:4), với Đấng Christ (2 Cô-rinh-tô 11:23), với các anh em đồng đạo hay Hội Thánh nói chung (Mác 9:35; Ma-thi-ơ 23:11; Cô-lô-se 1:25). Trong Tân Ước, cũng có một cách sử dụng chuyên môn thu hẹp của nhóm từ, chỉ đến sự trợ cấp các nhu cầu thuộc thể và vật chất của các Cơ Đốc Nhân khác (Ma-thi-ơ 25:44; Rô-ma 15:25; Công vụ các Sứ đồ 6:2; 2 Cô-rinh-tô 8:19-20) và cho sự hầu việc của việc truyền giảng Tin Lành (Công vụ các Sứ đồ 6:4; 2 Cô-rinh-tô 3:6; Cô-lô-se 1:23; 1 Ti-mô-thê 4:6). Phép phân tích có thể được thực hiện một cách bao quát, vì các từ này xuất hiện trên một trăm lần trong Tân Ước.

Vậy “sự hầu việc” là thuật ngữ bao hàm toàn diện cho “công việc” của Hội Thánh. Điều đáng lưu ý đó là các thuật ngữ tương tự miêu tả sự hầu việc của Đức Chúa Giê-su và sự hầu việc của Cơ Đốc Nhân trong thế gian. Cũng đáng chú ý đó là một từ bình thường không trang trọng đã được đề cao với sự kêu gọi cao nhất của Đức Chúa Giê-su Christ. Công việc của Hội Thánh là một việc làm của sự vâng phục. Tôi tớ hầu việc như mình được truyền lệnh. Tôi tớ không sắp đặt các việc làm của mình. Tôi tớ cũng không cần phải biện hộ cho các việc làm của mình trong sự hầu việc hay nhận trách nhiệm cho các kết quả. Chủ của tôi tớ lo điều đó. Và không có động cơ thứ hai cho sự vâng phục; vâng phục là đủ rồi.

Đấng Christ là người như thế nào và chức vụ mà Ngài thực hiện quyết định tất cả các chức vụ Cơ Đốc Nhân. Ngài nhận lấy thân phận của loài người chúng ta toàn bộ trên mình Ngài – tất cả vì một mục đích cứu chuộc và tái sinh. Như Hội Thánh nhận được bản chất của nó từ Đức Chúa Giê-su, nên bản chất của chức vụ trong Hội Thánh cũng được quyết định bởi Chúa của Hội Thánh.

Theo thông lệ, để phân loại công việc của Hội Thánh thành ba tiêu đề bao quát: truyền giáo, từ thiện và gây dựng. Các dạng này của chức vụ là phụ thuộc qua lại lẫn nhau, và các sự khác biệt có một chút không tự nhiên, nhưng có ích lợi trong việc bày tỏ chức vụ của Hội Thánh được bắt nguồn từ Đức Chúa Giê-su như thế nào.

Sự Truyền Giáo

Sự hầu việc cá nhân của Đấng Christ được định rõ đặc điểm bởi việc rao giảng Tin Lành (Mác 1:14-15; Lu-ca 4:18-19; Công vụ các Sứ đồ 10:36-37). Một số ám chỉ đến sự rao giảng và sự dạy dỗ của Ngài có trong tất cả các bảng tóm tắt về sự hầu việc trên đất của Ngài. Các sự chỉ dẫn của Ngài với các môn đồ của Ngài là hãy rao giảng Tin Lành (Ma-thi-ơ 28:18-20; Lu-ca 24:46-49). Hội Thánh ban đầu được tìm thấy có liên quan đến các hoạt động này (Công vụ các Sứ đồ 8:4).

Công việc rao giảng của Hội Thánh thời sứ đồ không chỉ là một tấm gương để được noi theo. Sự truyền giáo là huyết mạch của Hội Thánh. Đây chính là lý do cho sự tồn tại của nó – để truyền đạt thông điệp cứu rỗi của Chúa của Hội Thánh đến với một thế giới hư mất. Núi Sọ không trọn vẹn nếu không có lễ Ngũ Tuần. Sự bày tỏ của sự kiện – Đấng Christ phải được truyền đạt đến mọi người. Đại Mạng Lệnh là một việc làm của Đấng Christ đã sống lại. Nó được đặt trong trung tâm của các việc làm cứu chuộc của Ngài – sự chết, sự sống lại, sự thăng thiên và việc đổ Đức Thánh Linh xuống. Nó đến một cách thích hợp vào phần cuối và cao trào của các sách Tin Lành. Việc rao giảng của Tin Lành cung cấp sự chuyển tiếp giữa các khía cạnh thánh và con người của sự cứu rỗi. Nó thiết lập sự thông công trong Đấng Christ. Việc rao giảng là con đường đã được định của Đức Chúa Trời để kết hiệp việc làm cứu chuộc của Ngài trong Đấng Christ và sự chiếm hữu thuộc con người về sự rao giảng. Người đưa ra một sự giải thích và cách áp dụng trung tín về các thông điệp của Đức Chúa Trời là đang mang Lời của Đức Chúa Trời đến với mọi người.

Việc Từ Thiện

Chức vụ của Đức Chúa Giê-su có thể được tóm tắt như làm việc tốt cho những người khác (Ma-thi-ơ 4:23; 11:4-5; Công vụ các Sứ đồ 10:38). Ngài cho người đói ăn, chữa lành kẻ bệnh, và giải thoát mọi người khỏi ách của ma quỷ. Các việc làm như vậy là một sự bày tỏ rằng thời kỳ Đấng Mê-si đang được bắt đầu (Lu-ca 4:18-21). Đức Chúa Giê-su đã chỉ dẫn các môn đồ của Ngài một cách tương tự để quan tâm đến những người đang túng thiếu (Lu-ca 10:29-37; Ma-thi-ơ 25:31-46). Hội Thánh ban đầu đã chứng minh chính nó đáp lại những nhu cầu của con người (Rô-ma 12:1; 15:25-28; 2 Cô-rinh-tô 8-9; Gia-cơ 1:27). “Việc viếng thăm” người bệnh, kẻ bị tù, và nghèo túng theo ngôn ngữ Kinh Thánh không có nghĩa là một “lời kêu gọi mang tính xã hội,” nhưng là một sự hầu việc cho các sự cần dùng.

Hội Thánh Tân Ước giải tỏa sự khốn cực của con người nơi mà nó được tìm thấy và cơ hội để bày tỏ chính nó và không chỉ ở trong sự thông công của chính nó thôi. Các sự dạy dỗ của Đức Chúa Giê-su là rõ ràng (Ma-thi-ơ 5:43-48; 7:12; Lu-ca 10:23-37). Những sự chỉ dẫn đến các Hội Thánh cũng liên quan đến cùng loại tình yêu thương này cho tất cả mọi người (1 Tê-sa-lô-ni-ca 3:12; 5:15; Rô-ma 12:9, 14, 20; Ga-la-ti 6:10). Không có hạn chế nào được đặt ra cho việc thực hành lòng từ thiện của Cơ Đốc Nhân bởi Hội Thánh.

Một tình yêu thương (Ma-thi-ơ 19:22) mà không giúp đỡ người túng thiếu sẽ là “bằng lời nói” mà không phải “bằng việc làm và lẽ thật” (1 Giăng 3:18; so sánh Gia-cơ 2:14-17). Một người có thể cầu nguyện một cách siêng năng rằng “Xin ban chúng tôi hôm nay đồ ăn đủ ngày” (Ma-thi-ơ 6:11) và loại trừ những người khác khỏi việc cầu xin.

Sự giúp đỡ này sẽ bao gồm tất cả các nhu cầu của con người – chẳng hạn như tấm gương của Đức Chúa Giê-su và điều đó được bao gồm trong sự dạy dỗ của Ma-thi-ơ 25:31-46. Các nhu cầu của con người có thể bao gồm những điều tất yếu của cuộc sống, bệnh tật, hay các vần đề về tinh thần và cảm xúc. Dường như không có cách nào để Hội Thánh có thể mặc cho kẻ trần truồng nhưng lại không thể chăm sóc cho người bệnh, hay nói rằng Hội Thánh có thể cho người đói ăn nhưng lại không thể nuôi dưỡng sự lớn lên về cảm xúc hay tư vấn các vấn đề hôn nhân.

Các Cơ Đốc Nhân ngày nay thiếu các sức mạnh siêu nhiên của Đức Chúa Giê-su để chữa lành và đuổi quỷ, nhưng trong các sự ban cho và các tài nguyên của họ thì họ có thể hầu việc người bệnh và chống lại các sức mạnh của ma quỷ.

Sự Gây Dựng

Đức Chúa Giê-su dành nhiều thời gian để chỉ dạy các môn đồ của Ngài, như trong Ma-thi-ơ 5-7. Ngài thường tìm cách để tránh xa đám đông để có thể được một mình với các môn đồ của Ngài và dạy họ các sự mầu nhiệm của vương quốc mà mọi người vẫn chưa sẵn sàng cho nó. Ngài đã chỉ các môn đồ này không chỉ rao giảng, mà còn phải dạy tất cả những gì mà Ngài đã dạy họ (Ma-thi-ơ 28:19-20). Hội Thánh thời sứ đồ sau đó thực hiện nhiệm vụ của việc giáo dục Cơ Đốc Nhân, gây dựng đức tin (Ê-phê-sô 4:11-16; 2 Phi-e-rơ 1:1-10; Ga-la-ti 6:6). Điều này cũng là một phạm trù bao quát của sự dạy dỗ đáng quan tâm, đang hoàn thiện, toàn bộ phạm vi của sự giáo dục Cơ Đốc Nhân, và phát triển các môn đồ thành ảnh tượng của Đấng Christ.

Một Vài Ngụ Ý

Hội Thánh không thể ở trong Đấng Christ trừ khi nó ở trong Ngài trong tất cả sự hầu việc của Ngài, trong tất cả sự tự hiến của Ngài, trong việc đáp ứng các nhu cầu về mọi mặt của loài người, dù là về thuộc linh hay thuộc thể. Hội Thánh Đấng Christ phải tiếp tục công việc của Đấng Mê-si. Các thành viên của nó được xức dầu và thánh hóa cho sự hầu việc trong phép báp-têm của họ, khi họ được sát nhập vào trong Đấng Christ và nhận Đức Thánh Linh.  Sự thánh hóa này của tất cả các thành viên không loại trừ một thẩm quyền đặc biệt nào của một số thành viên cho một số trách nhiệm nào đó thay mặt cho toàn thể. Nhưng nó nhấn mạnh rằng tất cả đều chia sẻ sự tự hiến của Đức Chúa Giê-su cho nhân loại.

Tất cả các cụm từ về công việc của Hội Thánh – sự truyền giáo, làm từ thiện, hay sự gây dựng – là một sự hầu việc hay một chức vụ. Khi những người dâng hiến hay những người thi hành các sự hầu việc này bị cám dỗ về tầm quan trọng cá nhân hay tính kiêu ngạo, thì công việc của họ không còn là một chức vụ như được định bởi tiêu chuẩn của Đức Chúa Giê-su. Chính Hội Thánh là nghèo túng và sống bởi ân điển và các sự ban cho của Đức Chúa Trời. Vì vậy, nó không thể bảo trợ những người mà nó rao giảng cho hay những người mà nó giúp đỡ. Bất kể là ơn phước gì mà Hội Thánh dành cho đều không đến từ chính bản thân nó. Hội Thánh đối xử với mỗi một người như một người, vì Hội Thánh nhìn thấy Đấng Christ trong họ (Ma-thi-ơ 25:35-45). Khi Hội Thánh thực hiện công việc của nó, thì không cần phải có kèn kêu lên (Ma-thi-ơ 6:2) dù là trước hay sau đó. Nếu dường như có sự mâu thuẫn giữa Ma-thi-ơ 5:16 và 6:1, thì hãy nhớ sự khác biệt khủng khiếp giữa việc làm vinh hiển Đức Chúa Trời và nịnh bợ con người.

Các chức năng này vốn có trong bản chất của Hội Thánh, như Hội Thánh của Đấng Christ. Vì vậy, các chức năng này, và các chức vụ để thực hiện chúng (những nhà truyền giáo, các chấp sự, các giáo sư), là cố định trong Hội Thánh (xem thêm bài 12). Các công việc này của sự truyền giáo, làm từ thiện, và sự gây dựng tiếp tục để định rõ đặc điểm sự hầu việc của Hội Thánh qua các đời.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Chức vụ tập thể của Hội Thánh khác với chức vụ cá nhân của các Cơ Đốc Nhân như thế nào?
  2. Bản chất của Hội Thánh (bài 3 và 4) quyết định công việc của Hội Thánh như thế nào?
  3. Với sự giúp đỡ của một sách dẫn, được giải thích chi tiết về các cách sử dụng khác nhau của các từ chức vụ hoặc sự hầu việc (diakonia), để phục vụ (diakonein), và tôi tớ, người hầu việc hay chấp sự (diakonos).
  4. Ba công việc chính truyền thống của Hội Thánh là gì? Bạn có thấy đây là một sự phân loại đầy đủ không?
  5. Thiết lập sự cần thiết của mỗi công việc chính từ việc làm của Đức Chúa Giê-su, các chỉ dẫn mà Ngài ban cho các môn đồ của Ngài, và ví dụ của Hội Thánh Tân Ước.
  6. Các hoạt động nào được bao gồm trong công việc từ thiện của Đức Chúa Giê-su? Cái gì có thể được bao gồm một cách chính đáng trong sự hầu việc của Hội Thánh?
  7. Theo cách nào mà tất cả các Cơ Đốc Nhân đều hầu việc?
  8. Một vài hoạt động có thể được bao gồm trong chương trình giáo dục là gì?
  9. Hội Thánh phải cư xử với những người mà mình hầu việc như thế nào? Với những người mà mình rao giảng?
  10. Cách diễn đạt thích hợp về mối quan hệ công khai liên quan đến chương trình của một Hội Thánh là gì?

BÀI 11: CHỨC VỤ TRONG HỘI THÁNH

“Ràng buộc vững bền bởi những cái lắt léo, khiến các phần giao thông với nhau”

(Ê-phê-sô 4:16)

Chức Vụ của Đấng Christ

Sự hầu việc thiết yếu trong Hội Thánh là sự hầu việc của Đức Chúa Giê-su. Ngài được gọi là một “chấp sự,” tôi tớ hay người hầu việc (Rô-ma 15:8). Ngài đến để hầu việc, hay người hầu việc, và Ngài đã bày ra chức vụ đó như một kiểu mẫu cho sự hầu việc của những người theo Ngài (Ma-thi-ơ 20:25-28). Công việc cốt yếu thực sự mà Ngài thực hiện là dâng “mạng sống Ngài như một giá chuộc cho nhiều người.” chức vụ chuộc tội và hòa giải của thầy tế lễ này được thực hiện một lần đủ cả (Hê-bơ-rơ 8:1-6; 9:11-14; 10:12-22; 1 Ti-mô-thê 2:5-6). Ngài vẫn hằng dâng của lễ đời đời và tiếp tục cầu thay cho các anh em mình, vì vậy không có điều khoản nào cho một người kế vị chức vụ tế lễ của Đức Chúa Giê-su và không cần cho bất kỳ chức năng nào để tiếp tục công việc thầy tế lễ và hy sinh của Ngài.

Đức Chúa Giê-su Christ là sự ban cho tuyệt vời nhất của Đức Chúa Trời cho dân sự của Ngài. Trong vòng các sự ban cho của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh là các sự ban cho của chức vụ hoặc sự phục vụ. Đặc biệt, các sự ban cho này được ban cho bởi Đấng Christ đã sống lại (Ê-phê-sô 4:7-11). Khi sứ vụ cá nhân của Đấng Christ trên đất được hoàn thành, Ngài giao phó các khía cạnh liên tục trong công việc của Ngài vào tay các môn đồ của Ngài. Các sách Tin Lành ghi chép về việc Đức Chúa Giê-su đã sống lại thể nào, trước khi thăng thiên ngự bên hữu Đức Chúa Cha, Ngài đã ra lệnh cho các sứ đồ rao giảng Tin Lành cho toàn thế gian (Ma-thi-ơ 28:18-20; Lu-ca 24:46-48). Như để trang bị cho nhiệm vụ này Ngài đã hứa về sự chỉ dẫn của Đức Thánh Linh (Lu-ca 24:49; Công vụ các Sứ đồ 1:8; Giăng 20:22-23). Đức Thánh Linh phải là “Đấng yên ủi khác,” “bản thể khác” của Đức Chúa Giê-su, trao quyền cho việc tiếp tục chức vụ của Đức Chúa Giê-su trong thế gian (Giăng 14:16-17; 14:26). Những người hầu việc khác của Hội Thánh được bổ nhiệm khi Hội Thánh phát triển. Họ tiếp tục các khía cạnh của chức vụ hầu việc của Đức Chúa Giê-su trong Hội Thánh.

Cần có những người hầu việc để truyền đạt các lợi ích của chức vụ thầy tế lễ này đến mọi người và để tiếp tục các khía cạnh khác trong chức vụ trên đất của Đức Chúa Giê-su. Ngài là Sứ Đồ thật (Hê-bơ-rơ 3:1), Tiên Tri (Công vụ các Sứ đồ 3:22-23), Thầy dạy đạo (Giăng 1:38; 3:2; 13:13), Nhà Truyền Giáo (Lu-ca 4:18), Mục Sư Hay Giám Mục (1 Phi-e-rơ 2:25), và Chấp Sự (Rô-ma 15:8). Tất cả chức vụ đều bắt nguồn từ Đấng Christ. Vì vậy mỗi chức vụ được đặt tên này tham gia vào sự hầu việc của Đấng Christ và nhận được chức năng của mình từ Đấng Christ. Theo một cách cục bộ, thì mỗi chức năng tiếp tục một vài khía cạnh của toàn bộ sự hầu việc của Đức Chúa Trời mà xuất phát từ Đấng Christ đến Hội Thánh. Mỗi chức năng tìm thấy kiểu mẫu hoàn hảo cho chức vụ của mình trong chính Đức Chúa Giê-su. Chỉ trong Đấng Christ thì chúng ta mới học được sự hầu việc thực sự là gì.

Sự Hầu Việc Của Các Tín Đồ

Đấng Christ thiết lập tiêu chuẩn cho việc thực hành chức vụ trong Hội Thánh. Và Ngài nói rõ ràng trong sự dạy dỗ của mình về con đường đến sự vĩ đại trong Hội Thánh (Ma-thi-ơ 20:20-28 và xem bên dưới về sự lãnh đạo của sự hầu việc). Thẩm quyền (như được thi hành trong chính quyền, hay quân đội, hay trong kinh doanh, v.v.) không thuộc về những nhà lãnh đạo loài người của Hội Thánh. Những từ trong tiếng Hy Lạp cho thẩm quyền thuộc chính quyền vắng mặt một cách đáng chú ý trong những thảo luận Tân Ước về sự hầu việc. “Các chức vụ” trong Hội Thánh không ban cho thẩm quyền; chúng là các chức vụ hay những sự phục vụ để được thực hiện (xem thêm trong bài học tiếp theo). Chúng là một “công việc ” (1 Ti-mô-thê 3:1; 2 Ti-mô-thê 4:5).

Đó là phù hợp để các từ “chấp sự” (diakonos, tôi tớ) và “chức vụ” (diakonia, phục vụ) nên được sử dụng bởi mọi người trong Tân Ước: Đấng Christ (Rô-ma 15:8), các sứ đồ (Ma-thi-ơ 20:26-28), các nhà truyền giáo (1 Ti-mô-thê 4:6), các Cơ Đốc Nhân (Giăng 12:26), các quan tòa dân sự (Rô-ma 13:4), những người hầu bàn (Giăng 2:5, 9), và một chức vụ trong Hội Thánh (Phi-líp 1:1). Đó là quan trọng để thuật ngữ về các chức vụ trong Hội Thánh nhất thiết liên quan đến một vài tiêu chuẩn của chức lãnh đạo có từ ban đầu là một từ mà biểu thị không phải sự ưu việt hơn hay quyền lực mà đơn giản là sự hầu việc khiêm nhường và là từ tương tự được sử dụng cho sự hầu việc của Đấng Christ với dân sự và về sự hầu việc được sở hữu bởi mỗi Cơ Đốc Nhân với Đức Chúa Trời, với Đấng Christ, và với anh em mình (bài 10).

Các Sự Ban Cho Của Ân Điển

Đấng Christ không chỉ là nguồn gốc và tiêu chuẩn cho sự hầu việc trong Hội Thánh, nhưng Ngài còn ban các sự ban cho giúp sự hầu việc này có thể làm được. Trước khi có sự hầu việc, thì có những sự ban cho, hay các tiêu chuẩn, mà Chúa trên trời đã ban cho tất cả các tín đồ (1 Cô-rinh-tô 12:4-7, 28-31; Rô-ma 12:3-8; Ê-phê-sô 4:7-8; 11-16; 1 Phi-e-rơ 4:10-11). Một chú ý từ các đoạn trích này là các chức vụ hay chức năng tương xứng với các tài năng hay khả năng của các cá nhân. Tuy nhiên, những gì chúng ta có thể lưu tâm đến như các khả năng tự nhiên (lưu ý danh sách trong Rô-ma 12:7-8), không ít các năng lực siêu nhiên của Đức Thánh Linh, được xem như các sự ban cho ân điển được Chúa ban cho Hội Thánh. Thực vậy các sự ban cho lớn nhất của Đức Thánh Linh mở ra cho tất cả (1 Cô-rinh-tô 12:31-13:13; Ga-la-ti 5:22-23). Bất cứ điều gì mà một người có được thì không có lý do gì cho sự kiêu ngạo và không có cơ sở cho sự tự cao. “Ngươi há có điều chi mà chẳng đã nhận lãnh sao? Nếu người đã nhận lãnh, thì sao còn khoe mình như chẳng từng nhận lãnh?” (1 Cô-rinh-tô 4:7). Sự khác nhau lớn của các sự ban cho được xem xét trong các đoạn trích này được tóm lại bởi Phi-e-rơ thành hai tiêu đề – bất cứ ai nói và bất cứ ai làm sự hầu việc (1 Phi-e-rơ 4:11). Có chức vụ giảng dạy và có chức vụ giúp đỡ, có chức vụ giảng lời và chức vụ của bàn tiệc (Công vụ các Sứ đồ 6:2-4), sự hầu việc của sự dạy dỗ và sự hầu việc của sự cứu trợ. Mỗi chức năng là một sự ban cho của ân điển.

Sử Dụng Các Sự Ban Cho

Đức Chúa Trời ban cho năng lực, và cùng với nó Ngài ban cho cơ hội và trách nhiệm để sử dụng các sự ban cho. Việc thi hành này phải vì “ích lợi chung” (1 Cô-rinh-tô 12:7), “cho lẫn nhau” (1 Phi-e-rơ 4:10). Các sự ban cho không phải để hưởng thụ ích kỷ nhưng cho sự gây dựng của toàn bộ nhóm hội. Mọi người phải là “quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Đức Chúa Trời” (1 Phi-e-rơ 4:10). Dù các sự ban cho là gì đi nữa, thì chúng cũng phải được sử dụng (Rô-ma 12:6).

Mỗi Cơ Đốc Nhân có một vài “sự ban cho.” Tất cả trong Hội Thánh đều có Đức Thánh Linh (Công vụ các Sứ đồ 2:38; 5:32; 1 Cô-rinh-tô 6:19; Ê-phê-sô 2:21). Vì vậy theo cách thuộc linh thì tất cả đều bằng nhau và có cùng địa vị. Nhưng sự bằng nhau này còn tính đến tính đa dạng của “những sự ban cho.” Sự khác nhau phù hợp với các ý định và các nhu cầu của tất cả mọi người. Không ai có thể cảm thấy rằng mình vô dụng hay không được cần đến. Tuy nhiên người đó có thể nghĩ sự ban cho của mình là tầm thường, nó được ban cho bởi Đức Chúa Trời và có một vị trí trong việc gây dựng thân thể và thực hiện các hoạt động của nó (1 Cô-rinh-tô 12:14-26). Mỗi người có thể phát triển điều mà mình làm tốt nhất, và tất cả đều góp phần của họ cho sự hiệp một và sự hoàn hảo của tập thể (Ê-phê-sô 4:12-16). Đây là một sự hầu việc, tiếp nối công việc của Đức Chúa Giê-su và được soi dẫn bởi các sự ban cho mà Ngài làm qua Đức Thánh Linh của Ngài.

Chức Vụ Lãnh Đạo

Vậy chức lãnh đạo được dựa trên những sự hầu việc đã được nêu ra. Lưu ý các đoạn trích sau: “Nhà ấy hết lòng hầu việc các thánh đồ. Vậy hãy kính phục những người thể ấy” (1 Cô-rinh-tô 16:15-16); “Hãy lấy lòng rất yêu thương đối với họ vì cớ công việc họ làm” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:13); “Hãy vâng lời kẻ dẫn dắt anh em và chịu phục những kẻ ấy – bởi các người ấy tỉnh thức về linh hồn các anh em” (Hê-bơ-rơ 13:17). Sự vâng phục được bày tỏ ra không phải bởi vì một vài chức vụ gây ảnh hưởng nhưng bởi vì sự hầu việc đã được thực hiện. Những người như vậy đã làm khó nhọc cho Chúa thì tự nhiên trở thành những người lãnh đạo, và một người vui vẻ đi theo những người thể hiện được năng lực của họ, mối quan tâm của họ, hay sự hầu việc của họ. Đức Chúa Giê-su, Con của Đức Chúa Trời, là một tấm gương trong việc không kiêu ngạo thẩm quyền với chính mình.

Vì vậy, chúng ta nhìn thấy rằng trong Kinh Thánh các ý tưởng về sự ban cho (tiêu chuẩn), sự hầu việc, hay chức lãnh đạo liên quan với nhau. Từ các nguyên tắc này thì các chức vụ đặc biệt xuất hiện. Các chức vụ được dựa trên những sự ban cho được sở hữu và loại hầu việc được thực hiện. Có một sự thừa nhận theo hình thức về chức lãnh đạo được thực hiện và đạt được.

Các Sứ Đồ Và Các Tiên Tri

Giờ Chúng ta có thể minh họa các nguyên tắc này với một vài từ về một số các chức vụ đặc biệt trong thời Tân Ước. Sau đó, trong bài học tiếp theo, chúng ta sẽ chuyển sang những chức năng  thuộc những công việc liên tục của Hội Thánh.

Trước tiên Đấng Christ chọn các sứ đồ để chia sẻ chức vụ của Ngài (Mác 3:14-15; Lu-ca 9:1-2; Ma-thi-ơ 28:16-20; Giăng 20:21). Từ sứ đồ có nghĩa là “người được sai đi,” đặc biệt người được sai đi với thẩm quyền như người đại diện cho người khác. Chúa Giê-su Christ là Sứ Đồ của Đức Chúa Trời, Đấng được sai bởi Đức Chúa Trời (Hê-bơ-rơ 3:1; Giăng 13:20). Mười hai sứ đồ là sứ đồ của Đức Chúa Giê-su, những người được sai đi bởi Ngài. “Sứ đồ” cũng được dùng cho những sứ giả của Hội Thánh (2 Cô-rinh-tô 8:23) và của những người hầu việc (Công vụ các Sứ đồ 14:4; 1 Cô-rinh-tô 9:5-6; Rô-ma 16:7). Bối cảnh của cách sử dụng theo Tân Ước hầu như chắc chắn được tìm thấy trong cơ quan luật pháp của dân Do Thái mà bởi đó một người có thể lập một “sứ đồ” như một người sai chính mình và có quyền lực đầy đủ của người ủy quyền. “Một người của shaliach (sứ đồ) giống với chính mình,” Mishnah nói.

Mười hai sứ đồ là những nhân chứng duy nhất về cuộc đời và sự sống lại của Đấng Christ (Công vụ các Sứ đồ 1:16-22). Các tiêu chuẩn của họ cho họ một chức vụ không thể lặp lại trong Hội Thánh. Đức Chúa Giê-su đặc biệt ban cho họ Đức Thánh Linh vì công việc của họ. Vậy có một sự thay đổi đáng lưu ý trong thân phận của họ sau sự sống lại. Họ hầu như thường được gọi là “các môn đồ” trong suốt sự hầu việc cá nhân của Đức Chúa Giê-su; thuật ngữ “sứ đồ” xuất hiện chủ yếu khi ám chỉ đến “mạng lệnh được giới hạn” mà Đức Chúa Giê-su đã truyền lệnh cho họ để mở rộng sự hầu việc của Ngài cho nhà Y-sơ-ra-ên (Ma-thi-ơ 10:1-23 và các đoạn song song). Sau sự sống lại, họ xuất hiện như các sứ đồ với sự hạn chế bị bỏ đi. Sau đó họ làm việc toàn thẩm quyền cho Đức Chúa Giê-su. Để chối bỏ thẩm quyền sứ đồ là để chối bỏ sự sống lại và để chối bỏ mạng lệnh của Chúa, Đấng đã sai họ (xem Lu-ca 10:16). Hội Thánh dựa vào chức sứ đồ (Ê-phê-sô 2:20; Khải huyền 21:14), mà đã đòi hỏi bằng chứng về sự sống lại (Công vụ các Sứ đồ 1:21-22). Như những nhân chứng về sự sống lại của Đấng Christ (xem bài 2 cho sự sống lại yếu tố cấu thành của Hội Thánh), mười hai sứ đồ đã trở thành nền tảng của Hội Thánh. Không chỉ kêu gọi sự tồn tại của Hội Thánh bằng cách rao giảng lời Chúa, mà còn đưa ra những chỉ dẫn có thẩm quyền cho những người mới cải đạo và sắp đặt trật tự các Hội Thánh (Công vụ các Sứ đồ 6:1-6; 14:23).

Hội Thánh Tân Ước cũng biết các đấng tiên tri (Ê-phê-sô 2:20; 3:5) và những người được soi dẫn khác (1 Cô-rinh-tô 12:28). Việc thực hiện các sự ban cho của họ nói lên sự gây dựng và khích lệ Hội Thánh (1 Cô-rinh-tô 4:3). Chúng là các chức năng tạm thời: đó là sự nhận biết của Hội Thánh sau thời Tân Ước; điều đó hàm ẩn trong những điều khoản được làm bởi các sứ đồ trong các sách Tân Ước sau này cho việc thiết lập chức vụ ổn định của những người nam có những phẩm chất tự nhiên và điều đó thuộc về bản chất của trường hợp, vì sau khi sự bày tỏ được ban cho và Hội Thánh được thiết lập, sự chỉ dẫn đặc biệt của những người được soi dẫn không được cần đến nữa.

Các sứ đồ và những người được soi dẫn khác, làm việc vì cớ Đấng Christ, đã thiết lập trong các Hội Thánh các trưởng lão, và các chấp sự, và những nhà truyền giáo và các giáo sư đã được chỉ dẫn để tiếp tục công việc trồng và gây dựng các Hội Thánh.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Chức vụ cốt yếu duy nhất trong Hội Thánh là của ai? Theo cách nào?
  2. Làm thế nào tất cả chức vụ trong Hội Thánh bắt nguồn từ Đức Chúa Giê-su?
  3. Các ngụ ý gì có thể được nhìn thấy trong thực tế rằng các thuật ngữ cho mỗi chức vụ trong Hội Thánh đều được áp dụng cho Đức Chúa Giê-su?
  4. Con đường đến sự vĩ đại trong nước Đức Chúa Trời là gì? Điều này trái ngược với các tiêu chuẩn của con người như thế nào?
  5. Từ “chấp sự” (người hầu việc) đã được sử dụng cho những người khác nhau nào?
  6. Tóm tắt sự dạy dỗ của 1 Cô-rinh-tô 12:4-7, 28-31; Rô-ma 12:3-8; Ê-phê-sô 4:7-16; 1 Phi-e-rơ 4:10-11 về sự hầu việc. Mối quan hệ giữa sự ban cho và sự hầu việc là gì?
  7. Cơ Đốc Nhân có chỗ nào để tự hào về thành tích và các tài năng của mình không? Các sự ban cho của Cơ Đốc Nhân phải được thực hiện như thế nào?
  8. Chức lãnh đạo trong Hội Thánh được dựa trên điều gì?
  9. Thảo luận về ý nghĩa và cách sử dụng Tân Ước của từ “sứ đồ”.
  10. Vị trí cố định của các sứ đồ trong Hội Thánh là gì?

BÀI 12: CÁC CHỨC VỤ VÀ SỰ SẮP XẾP

“Để riêng đặng làm công việc”

(Công vụ các Sứ đồ 13:2)

Tất cả các Cơ Đốc Nhân được ban cho một nhiệm vụ, vì sự hầu việc được bắt nguồn từ cấu trúc cơ bản của sự tồn tại của một người trong Đấng Christ (xem bài 10 và 11). Nhưng những người cụ thể được biệt riêng ra bởi một mạng lệnh cho các công việc cụ thể.

Sự hầu việc, như chúng ta đã nhìn thấy trong bài học trước, là sự ban cho của Đấng Christ đã sống lại. Các năng lực và sự ban cho khác nhau đến từ Đức Chúa Trời và phải được sử dụng vì lợi ích chung (1 Cô-rinh-tô 12:7; 1 Phi-e-rơ 4:10). Đấng Christ đứng đầu sau mỗi sự hầu việc và là một tấm gương hoàn hảo cho sự thực thi chức vụ đó.

Sự Tổ Chức

Cơ cấu tổ chức của Hội Thánh vốn có trong bản chất và công việc của Hội Thánh. Có các chức vụ cơ bản để được thực hiện: phải có sự giám sát và định hướng; phải có việc rao giảng và dạy dỗ đạo; và phải có sự tập trung đến các nhu cầu con người. Các chức vụ của sự gây dựng, sự truyền giáo, và việc làm từ thiện thiết lập các chức vụ cơ bản trong Hội Thánh. Vì vậy cơ cấu tổ chức của Hội Thánh không phải là tùy ý, nhưng có tổ chức. Nó liên quan đến những gì thiết yếu cho đời sống của Hội Thánh. Có cơ cấu tổ chức cho Hội Thánh, nhưng Hội Thánh không phải là một tổ chức. Có một kiểu mẫu được ban cho trong Tân Ước mà vốn có trong bản chất của Hội Thánh. Như Tít 1:5 tỏ ra, có một trật tự được thiết lập trong Hội Thánh. Đây không phải là một kiểu mẫu “theo pháp luật”, nhưng là một sự sắp xếp theo chức năng. Bên trong một kiểu mẫu cơ bản thì nó cho phép tất cả tính linh động cần thiết cho việc thực hiện sự hầu việc thiết yếu của Hội Thánh trong thế gian.

Mỗi Hội Thánh là Hội Thánh – đầy đủ và hoàn thiện trong chính nó. Mỗi Hội Thánh địa phương là Hội Thánh toàn cầu thu nhỏ. Nó là một biểu thị của toàn bộ. Vì vậy Phao-lô có thể gửi đến “Hội Thánh của Đức Chúa Trời ở tại Cô-rinh-tô” (1 Cô-rinh-tô 1:2). Đây là Hội Thánh của Đức Chúa Trời vì nó biểu hiện tại một nơi. Hội Thánh địa phương không phải là một “phần” của tổng thể như thể bản thân nó chưa hoàn thiện và cần thêm nữa. Mỗi biểu hiện địa phương của Hội Thánh là đầy đủ cho công việc thuộc linh của nó. Hội Thánh luôn là một thân thể nhìn thấy được trong Tân Ước. Cơ cấu tổ chức duy nhất có thể nhìn thấy được lớn nhất và lâu đời của Hội Thánh được cung cấp cho trong Tân Ước là thuộc về Hội Thánh. Vì vậy không có hội hay nhóm của các tín đồ nào có thể thực thi việc kiểm soát trên các nhóm khác (đây là một đặc quyền thuộc về Đấng Christ). Cũng vậy, không có ai là “thành viên tự do”, anh ấy hay cô ấy thuộc về nhóm địa phương nào đó của các Cơ Đốc Nhân.

Các Trưởng Lão

Chức năng về sự giám sát được đặt vào tay của những người khác nhau theo từng trường hợp được biết đến như các trưởng lão (người quản lý Hội Thánh ), những người giám hộ (giám mục), hay những người chăn chiên (mục sư). Những từ này được sử dụng thay thế cho nhau chỉ đến cùng nhóm người trong mỗi Hội Thánh trong Công vụ các Sứ đồ 20:17, 28; 1 Phi-e-rơ 5:1-4; và Tít 1:5-7. Thuật ngữ “các trưởng lão” bắt nguồn từ Cựu Ước và cơ cấu tổ chức nhóm hội của dân Giu-đa. Danh hiệu này gợi ý sự trải nghiệm, sự trưởng thành thuộc linh, và tấm gương của cuộc sống. Các trưởng lão sẽ là những người nam lớn tuổi được kính trọng được những người khác tìm kiếm cho chức lãnh đạo. Thuật ngữ “những người giám hộ” hay “các giám mục” xuất hiện ban đầu từ thế giới tiếng Hy Lạp, mặc dù dân Do Thái biết các chức năng tương tự về trách nhiệm. Từ ngữ không có các hàm ý tôn giáo đặc biệt và phải làm với bất cứ dạng nào của sự trông nom hay quản trị. Đó là một từ chung quen thuộc với người Hy Lạp mà có thể được tiếp quản bởi các Cơ Đốc Nhân và được ban cho một tầm quan trọng tôn giáo liên quan đến những người nam đó với sự giám sát của Hội Thánh. “Người chăn chiên” có một di sản giàu có trong thời xưa; nó đã là một vật tượng trưng cho các vua và những nhà lãnh đạo khác của dân sự của Đức Chúa Trời trong thời Cựu Ước rồi (Ê-xê-chiên 34:1-31). Trong đời sống đồng quê mà mỗi người gần như quen thuộc trong thời ban đầu, thì từ này nhanh chóng nhắc đến bức tranh của những điều mà một người chăn chiên làm để chăm sóc cho đàn chiên của mình.

Chức vụ của “trưởng lão” hay “giám mục” là một “công việc” hay “vị trí” (1 Ti-mô-thê 3:1) trong Hội Thánh, rõ ràng được định để là một phần cố định của Hội Thánh (Công vụ các Sứ đồ 14:23; Tít 1:5), vì công việc là một sự cần thiết liên tục cho Hội Thánh và các sứ đồ đã chỉ dẫn việc bổ nhiệm của những người như vậy trong các Hội Thánh riêng biệt khi sự giám sát cá nhân của họ phải được rút ra. Các sự chỉ dẫn về các phẩm chất của họ có thể được học từ 1 Ti-mô-thê 3 và Tít 1. Công việc của họ có thể được suy ra từ các phẩm chất này và từ các từ mô tả đã đặt tên cho chức vụ của họ.

Các Nhà Truyền Giáo Và Các Thầy Dạy Đạo

Trong các thư tín cho Ti-mô-thê và Tít, chúng ta tìm thấy những phẩm chất cho “các nhà truyền giáo” (so sánh 1 Ti-mô-thê 4:12-16; 5:22; 2 Ti-mô-thê 2:15-16, 24-26; 1 Ti-mô-thê 6:3-11; 2 Ti-mô-thê 4:1-5). Những người này cũng được gọi là “người thuyết giáo” (Rô-ma 10:14), “người hầu việc” (1 Ti-mô-thê 4:6 – cùng từ như “chấp sự”), “người của Đức Chúa Trời” (1 Ti-mô-thê 6:11). Những người này làm việc để thu hút được những người cải đạo mới dù là qua việc di chuyển hay ở cố định (Công vụ các Sứ đồ 8:40 và 21:8), làm vững mạnh đức tin của những người đã cải đạo  (1 Ti-mô-thê 4:6; Tít 1:13; 2:1, 5), bác bỏ sự sai lầm (1 Ti-mô-thê 1:3), tổ chức các Hội Thánh (Tít 1:5), và tham gia trong sự hầu việc chung của đạo (1 Ti-mô-thê 4:13). Vì vậy đây là một chức năng cụ thể (2 Ti-mô-thê 4:5) mà vốn có trong bản chất của Hội Thánh, và do đó nó là vĩnh viễn (2 Ti-mô-thê 2:2). Các nhà truyền giáo là những người hầu việc của Chúa thay cho con người (so sánh Cô-lô-se 1:7).

Mặc dù danh xưng “các thầy dạy đạo” không phổ biến trong Tân Ước (Gia-cơ 3:1), công việc của họ là ở khắp mọi nơi. Nó thuộc về bản chất của đạo Đấng Christ như một tôn giáo dạy dỗ nên luôn luôn cần đến điều như vậy (Ga-la-ti 6:6).

Các Chấp Sự

Người ta không nói gì nhiều về “các chấp sự.” Chính bản thân của từ đã chỉ đến bất cứ người nào làm việc phục vụ, của bất cứ loại nào, và vì vậy được sử dụng theo nhiều cách khác nhau trong Tân Ước. Như một chức vụ trong Hội Thánh thì nó xuất hiện với mối quan hệ gần gũi với các giám mục (Phi-líp 1:1; 1Ti-mô-thê 3:8-13). Các phẩm chất của họ trong 1 Ti-mô-thê 3 thêm sự liên kết này với các giám mục cho thấy rằng họ là những người giúp đỡ của các giám mục và hầu việc dưới sự giám sát của họ để làm bất cứ phương diện nào của công việc Hội Thánh mà có thể được định cho họ. Chấp sự theo một cách đặc biệt được làm gương cho sự hầu việc thấp kém của Đấng Christ. Theo nguyên tắc của Công vụ các Sứ đồ 6:2, các chấp sự được định một cách tự nhiên để xử lý các công việc thế tục và từ thiện của Hội Thánh, nhưng không có điều gì giới hạn họ làm như vậy. Nó có thể bị hồ nghi là liệu rằng bảy người trong Công vụ các Sứ đồ 6 là các chấp sự theo nghĩa sau hay không, nhưng chúng ta bắt đầu có sự phân biệt về chức năng trong Hội Thánh. Có một nhu cầu liên tục cho những người hầu việc được tín nhiệm như những người thay thế của chức trưởng lão cho việc thực hiện chương trình của Hội Thánh.

Sự Chọn Lựa Và Lễ Nhậm Chức

Các phương pháp khác nhau của sự chọn lựa các chức năng trong Hội Thánh được bày tỏ trong Tân Ước. Có sự chọn lựa bởi Đức Thánh Linh phán qua các đấng tiên tri được soi dẫn (Công vụ các Sứ đồ 1:1-3; 1 Ti-mô-thê 1:18 và 4:14; so sánh Công vụ các Sứ đồ 20:28). Có sự bổ nhiệm bởi các sứ đồ và các nhà truyền giáo (Công vụ các Sứ đồ 14:23 chắc chắn chỉ ra sự chọn lựa bởi Phao-lô và Ba-na-ba, hay toàn bộ quá trình của sự chọn lựa mà trong đó Phao-lô và Ba-na-ba dẫn đầu). Có sự chọn lựa bởi toàn bộ Hội Thánh (Công vụ các Sứ đồ 6:5; 2 Cô-rinh-tô 8:19; so sánh Công vụ các Sứ đồ 15:22). Trong mỗi trường hợp, nên được lưu ý rằng bất cứ ai làm đầu, thì các thành viên khác đã tán thành. Các thành viên khác của Hội Thánh đưa ra sự công nhận và tán thành của họ. Điều này là có thật thậm chí khi đó là một sự chọn lựa được Đức Thánh Linh soi dẫn: thì một sự tán thành của con người cho chọn lựa này phải kèm theo (Công vụ các Sứ đồ 13:3; 1 Ti-mô-thê 4:14).

Phương pháp của việc biệt riêng ra là không thay đổi trong các thí dụ được gìn giữ. Có sự cầu nguyện đi cùng với việc đặt tay trong sự bổ nhiệm của các nhà truyền giáo (1 Ti-mô-thê 4:14), những người hầu việc (Công vụ các Sứ đồ 13:1-3), có lẽ là các trưởng lão (1 Ti-mô-thê 5:22; Công vụ các Sứ đồ 14:23), và bảy người (Công vụ các Sứ đồ 6:6). Lễ nhậm chức này có thể được thực hiện bởi những nhà truyền giáo (Tít 1:5; 1 Ti-mô-thê 5:22), các trưởng lão (1 Ti-mô-thê 4:14), hay các sứ đồ và các nhà tiên tri đang làm việc cho Hội Thánh (Công vụ các Sứ đồ 6:6; 13:3).

Việc đặt tay thường được hiểu như tuyên bố về việc truyền Đức Thánh Linh (Công vụ các Sứ đồ 8:15, 17). Tuy nhiên, đây chỉ là một trong những ơn phước, mà có thể được truyền theo cách này, và điều đó dĩ nhiên phù hợp với nội dung của Công vụ các Sứ đồ 6:1-6 và 13:1-3 nơi mà những người nam đã đầy dẫy Đức Thánh Linh nhận được sự đặt tay. Một cái chạm nhẹ vào đầu của một người được ban phước đó là một việc làm thời Cựu Ước (Sáng thế ký 48:14). Động tác đặc biệt này dường như là một đặc thù của Đức Chúa Giê-su (Mác 5:23; 6:5; 8:23). Tầm quan trọng của việc đặt tay trên người khác được nói rõ trong Mác 10:16 – đó là một cách để truyền một ơn phước. Sự cầu nguyện kèm theo định rõ dạng ơn phước được định – có thể là một sự chữa lành (Mác 5:23), việc truyền Đức Thánh Linh (Công vụ các Sứ đồ 8:15, 17), hay sự bổ nhiệm cho một công việc trong Hội Thánh. Mặc dù việc đặt tay chỉ là một phong tục được chấp nhận một cách bình thường và được biết rõ, nhưng nó không tiếp nối rằng một người phải nhận động tác này để là một người hầu việc, nhưng những người muốn theo sát với các việc làm Tân Ước không tìm thấy cách thích hợp để bổ nhiệm chức vụ.

Do đó ‎‎‎ý nghĩa của “sự phong chức” theo Tân Ước, hay sự bổ nhiệm chính thức vào trong chức vụ, là rõ ràng. Đó là sự đồng thuận của Hội Thánh mà theo cách này đã cho phép Hội Thánh được hầu việc, và nó hầu việc như lời thỉnh cầu của Hội Thánh về sự ban cho thiêng liêng cho những người đảm nhận chức vụ cụ thể trong Hội Thánh. Công vụ các Sứ đồ 14:26 được xem xét với 13:1-3 cũng cho thấy điều này. Tóm lại, “sự bổ nhiệm” là một “sự biệt riêng” chính thức, mà trong đó một người được quyết định cho một công việc và được giao phó cho Đức Chúa Trời về việc thực thi của nó. Mặc dù “làm thế nào” không được định rõ về chi tiết nhưng nó nên được làm cho trang nghiêm và có trật tự.

Công vụ các Sứ đồ 6:1-6 đưa ra bức tranh đầy đủ nhất theo trình tự có trật tự về việc thực hành bổ nhiệm chức vụ trong Tân Ước, và nó có thể được coi là tiêu biểu cho các nguyên tắc mà chúng ta đã đặt ra. Có một sự dạy dỗ về nhu cầu và khả năng của những người nam để đáp ứng nhu cầu (Công vụ 6:2-3); một Hội Thánh “xem xét” (Công vụ các Sứ đồ 6: 3 – phương pháp “kiểm tra” không được đưa ra nhưng những người  nam được chọn là những người “được thử thách”); một sự lựa chọn (Công vụ các Sứ đồ  6: 5-một lần nữa phương pháp không được đưa ra nhưng sự lựa chọn đã tạo nên sự công nhận của Hội Thánh rằng những người nam này sở hữu những phẩm chất cần thiết); một buổi thuyết trình (Công vụ các Sứ đồ 6:6 – đây là sự chứng thực và cho phép của Hội Thánh, một sự công nhận chính thức); và sau khi được trình bày để các nhà lãnh đạo thuộc linh chấp thuận, một lời cầu nguyện và đặt tay (Công vụ các Sứ đồ 6: 6 – lời chúc phước của Hội Thánh và lời cầu xin của nó với Chúa). Tóm lại, chúng ta lưu ý rằng toàn bộ Hội Thánh đều dính líu đến; thủ tục có trật tự; nó theo nghi thức và trong sự hiện diện của tất cả; và cả những người lãnh đạo và dân sự đều biết lẫn nhau và các trách nhiệm chung của họ.

Ý Nghĩa Tín Lý

Các thủ tục này là một phần của bối cảnh tín lý. Lẽ thật quan trọng được truyền đạt đó là Đức Chúa Trời chọn những người hầu việc cho Hội Thánh của Ngài. Cho dù công cụ con người của sự chọn lựa này là ai đi chăng nữa, thì những người hầu việc là những ban cho của Đức Chúa Trời cho dân sự của Ngài. Từ cho “sự bổ nhiệm” (cheirotonia) thường được sử dụng trong các tác giả người Do Thái nghiên cứu về văn hóa cổ Hy Lạp cho tất cả những gì về sự bổ nhiệm của Đức Chúa Trời. Trong Hội Thánh Đức Chúa Trời thiết lập chức vụ, lập các phẩm chất, và làm cho kiến thức của chức vụ được khả thi. Chúng ta có Đức Thánh Linh bổ nhiệm các giám mục (Công vụ các Sứ đồ 20:28) ngày nay khi chúng ta có những người nam với các phẩm chất được đề ra bởi Đức Thánh Linh. Thậm chí vậy, phải có sự tán thành của những người mà họ dẫn dắt như thể cũng có sự tán thành của con người trong các thời kỳ Tân Ước. Sự nhận biết này nên hiểu rõ tầm quan trọng và nghiêm túc của việc là cơ quan của sự chọn lựa thánh. Đó là trách nhiệm của chúng ta để chọn lựa người mà Đức Chúa Trời sẽ chọn.

Thêm nữa, những người Ngài lập, thì Ngài ban phước cho. Vì vậy sự bổ nhiệm được lập trong bối cảnh của sự cầu nguyện. Sự ban phước của Hội Thánh tìm thấy sự đối ứng của nó trong sự trang bị của Đức Chúa Trời và sự ban phước trên người đó cho công việc của họ.

Cuối cùng, Hội Thánh lập các cá nhân đặc biệt cho công việc mà là công việc của toàn bộ Hội Thánh. Nó làm như vậy không phải bởi vì họ phải làm điều gì đó cho những người khác mà không phải là trách nhiệm của họ. Hay một người cũng không thể trả cho ai đó để hoàn thành công việc của mình cho Chúa. Hơn thế Hội Thánh bổ nhiệm họ bởi vì họ thể hiện cụ thể cho Hội Thánh sự hầu việc của chính nó trong thế gian. Hội Thánh hổ trợ họ trong công việc này bởi vì họ là một sự hiện thân hay đại diện của toàn bộ Hội Thánh là gì. Sự hầu việc đại diện cho Hội Thánh về bản chất của năng khiếu của chính nó. Những người hầu việc (các trưởng lão, các chấp sự, v.v. ) là hiện thân của công việc của toàn bộ Hội Thánh, và sự hầu việc của Hội Thánh là sự hầu việc của Đấng Christ.

Các Phát Biểu Sau Cùng

Các Hội Thánh trong thời Tân Ước mà chúng ta có thông tin được dẫn dắt bởi nhiều trưởng lão (cũng được gọi là các giám mục hay mục sư) được giúp đỡ bởi các chấp sự. Theo các tài liệu chúng ta có được, Sự tách biệt sớm nhất khỏi sự thực hành theo Tân Ước là cơ cấu tổ chức của các Hội Thánh địa phương. Trong đầu thế kỷ thứ hai thì một vài Hội Thánh đã có một giám mục (như trưởng lão) là đầu của ban các giám mục (các trưởng lão) rồi. Một hệ thống cấp bậc đã phát triển cùng lúc với giám mục của Hội Thánh theo nguyên tắc của một địa phận được định là một tổng giám mục, và người đó đã chỉ huy các hội đồng của các giáo sĩ trong địa phận của mình. Việc quy về trung ương của thẩm quyền lên đến cao trào với sự nhận biết về năm giáo trưởng (các giám mục của Rô-ma, Constantinople, Alexandria, An-ti-ốt, và Giê-ru-sa-lem). Giám mục của Rô-ma đã trở thành Giáo Hoàng trên các Hội Thánh nói tiếng La-tin của phía tây Châu Âu. Cùng với sự phát triển của hệ thống cấp bậc là sự giới hạn của ngôn ngữ linh mục và các bổn phận cho các giám mục trước thế kỷ thứ ba và sau đó là cho các trưởng lão.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Cách trình bày về các Hội Thánh địa phương trong Tân Ước ủng hộ khái niệm “sự tự trị của Hội Thánh” như thế nào?
  2. Liên kết các chức vụ của trưởng lão, nhà truyền giáo, và chấp sự với công việc ba phần của Hội Thánh.
  3. Các đoạn trích nào gợi ý rằng các thuật ngữ “trưởng lão,” “giám mục,” và “mục sư” có thể thay thế cho nhau trong Tân Ước? Điều này được bày tỏ bởi các đoạn trích khác như thế nào?
  4. Từ các từ mô tả này và từ các phẩm chất của họ thì điều gì có thể được suy ra về công việc của những người này?
  5. Nó có thể được bày tỏ như thế nào về các chức năng của mỗi chức vụ – trưởng lão, nhà truyền giáo, và chấp sự – thuộc về cấu trúc cố định của Hội Thánh?
  6. Các phương pháp khác nhau nào về sự chọn lựa cho công việc trong Hội Thánh được tìm thấy trong Tân Ước?
  7. Các phương pháp nào của sự nhậm chức vào chức vụ có thể được tìm thấy trong Tân Ước?
  8. Ý nghĩa của động tác “đặt tay” là gì?
  9. Miêu tả thủ tục của sự chọn lựa và biệt riêng bảy người trong Công vụ các Sứ đồ 6.
  10. Các bài học tín lý nào mà chúng ta có thể học được từ sự dạy dỗ về sự sắp xếp trong Tân Ước? Các kết quả thực tiễn mà điều này sẽ có là gì?

BÀI 13: VƯƠNG QUỐC VÀ HỘI THÁNH

“Làm chúng ta nên nước Ngài” (Khải huyền 1:6)

Ý Nghĩa Của “Vương Quốc”

Ý nghĩa cơ bản của các từ Hê-bơ-rơ và Hy Lạp được dịch thành vương quốc là vương quyền, quyền lực hoàng gia, sự cai trị hoàng gia. Vương quốc trong Kinh Thánh chủ yếu chỉ đến sự cai trị, không phải là lãnh địa vương quốc (Khải huyền 11:15). Một ví dụ của các đoạn trích (ví dụ như Đa-ni-ên 4:31, 36) sẽ bày tỏ ý nghĩa này. Vậy vương quốc là một dạng chủ động, không phải là một từ tĩnh, và vương quốc của Đức Chúa Trời là điều mà Đức Chúa Trời làm và không phải là điều mà con người đạt được. Nhưng dĩ nhiên sự cai trị của Đức Chúa Trời không thực thi ở một nơi trống không. Nó ý nói một dân sự sống dưới sự cai trị đó, do đó đôi khi từ vương quốc có ý nghĩa phát sinh của lãnh địa.

Khi một người nhận ra rằng vương quốc chỉ đến thẩm quyền làm vua của Đức Chúa Trời, thì rõ ràng là Đức Chúa Trời luôn luôn có một vương quốc, mặc dù có nhiều sự bày tỏ khác nhau về nó. Vương quốc là một thực tại hiện nay trong đức tin của Cựu Ước (Xuất Ê-díp-tô 15:18; 1 Sa-mu-ên 12:12; Thi Thiên 103:19; 145:11-13). Nhưng trong khi Đức Chúa Trời luôn luôn là vua, thì cũng có sự mong đợi về một sự bày tỏ tương lai của quyền tối cao của Đức Chúa Trời khi Ngài sẽ thực thi quyền làm vua theo một cách đầy đủ hơn trên muôn dân (Ê-sai 24:23; 33:22; Xa-cha-ri 14:16-17).

 Khi Đức Chúa Giê-su đến rao giảng rằng, “Kỳ đã trọn,” “Nước thiên đàng đã gần” (Ma-thi-ơ 4:17, 23; Mác 1:14-15; Lu-ca 4:43), dân sự đã nhận ra rằng hy vọng của Cựu Ước đang được thực hiện và Đức Chúa Trời đang bắt đầu bày tỏ quyền làm vua của Ngài theo một cách mới. Từ được dịch “đã gần” bày tỏ ý tưởng về “việc phá vỡ.” Vì vậy Đức Chúa Giê-su hầu như thường xuyên có thể trình bày về vương quốc cho đến tương lai (Ma-thi-ơ 6:10; Mác 9:1; Ma-thi-ơ 25:43; Lu-ca 13:29), nhưng trong một vài đoạn trích, Ngài nói về quyền lực của vương quốc như một thực tế hiện tại trong sự hầu việc của Ngài (Lu-ca 11:20; 17:21). Các phép lạ của Ngài là một dấu hiệu của thời kỳ Đấng Mê-si. Quyền lực làm vua của Đức Chúa Trời đang xảy ra qua Đức Chúa Giê-su.

Khía cạnh kép tương tự của hiện tại và tương lai có thể được nhìn thấy trong các thư tín Tân Ước. Các Cơ Đốc Nhân đã ở trong vương quốc rồi (Cô-lô-se 1:13), nhưng họ tìm kiếm lối vào trong vương quốc ở tương lai (2 Ti-mô-thê 4:18). Theo viễn cảnh này thì một người có thể kiểm chứng mối quan hệ giữa Hội Thánh và vương quốc. Có một vài đoạn trích nơi các thuật ngữ xuất hiện thay thế cho nhau (Ma-thi-ơ 16:18-19; Hê-bơ-rơ 12:23; Khải huyền 1:4, 6, 9). Nhưng từ các đoạn trích khác được cho ở trên thì rõ ràng Hội Thánh và vương quốc không đơn giản là các thuật ngữ giống nhau để cho bất cứ nơi nào một người nhìn thấy từ vương quốc thì người đó phải hiểu là Hội Thánh. Tuy nhiên, chúng có một điểm chồng lên nhau. Vương quốc tạo nên một nhóm hội; những người chấp nhận sự cai trị của Đức Chúa Trời thiết lập nên Hội Thánh.

Cơ Đốc Nhân có lợi thế là sống lâu hơn trong lịch sử cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Thời đại Đấng Mê-si đã bắt đầu.. Có một sự bày tỏ thêm về vương quốc của Đức Chúa Trời. Với sự đến của Đức Chúa Giê-su và sự chết, sự sống lại và việc đổ Đức Thánh Linh của Ngài có một giai đoạn mới trong lịch sử. Thời kỳ Đấng Mê-si (Giô-ên 2:28-32) được nhận ra trong con người của Đức Chúa Giê-su (Công vụ các Sứ đồ 2:36). Việc chấp nhận Ngài là sự chấp nhận vương quốc. Có một sự phá đổ các quyền lực cai trị thế gian này của bóng tối (Lu-ca 10:17-20; Cô-lô-se 2:15). Nhưng tầm ảnh hưởng của chúng vẫn chưa được xóa bỏ (Ê-phê-sô 6:10-17). Chúng ta vẫn sống trong “đời ác này” (Ga-la-ti 1:4). Nhưng “quyền phép của đời sau” (Hê-bơ-rơ 6:5) đã lan tỏa khắp thế gian này và sẵn sàng cho mọi người trong Đấng Christ. Chiến thắng cuối cùng là chắc chắn và sẽ được hoàn thành vào sự đến thứ hai (1 Cô-rinh-tô 15:24-28). Tại ngày lễ Ngũ Tuần quyền làm Chúa của Đức Chúa Giê-su đã được công bố và Hội Thánh được nhóm lại với những người nhận được các lời hứa của Đức Chúa Trời và đang sống cho tương lai.

Một Vài Ngụ Ý

Từ quan điểm này của “thuyết mạt thế được bắt đầu” (các sự kiện cuối đã bắt đầu) thì rất nhiều đoạn trích của Tân Ước nhận ý nghĩa mới. Thời kỳ Cơ Đốc Nhân là “những ngày sau rốt” (Công vụ các Sứ đồ 2:16-17; Hê-bơ-rơ 1:2). Đây là sự sắp đặt hay thời kỳ cuối cùng, vì các sự kiện của thời kỳ cuối đã được bắt đầu. Sự ban cho của Đức Thánh Linh là một “sự bảo đảm” (Ê-phê-sô 1:14; 2 Cô-rinh-tô 1:22), “các trái đầu mùa” (Rô-ma 8:23), một phần đầu tiên của các ơn phước của thế gian đã đến (Rô-ma 8:11) khi mà sẽ có một sự làm trọn của những gì bây giờ đã bắt đầu. Theo quan niệm này thì một người có thể hiểu được làm thể nào sự sống đời đời có thể được nói đến như một sở hữu hiện tại (1 Giăng 5:11, 13; Giăng 5:24) cũng như một hy vọng tương lai (Rô-ma 6:22; Giăng 12:25). Phẩm chất của đời sống thuộc về thế giới hầu đến giờ đây là của Cơ Đốc Nhân. Người đó quả thực có thể sa ngã khỏi nó, nhưng nếu người đó không có đời sống đó bây giờ, thì người đó sẽ không bao giờ có được nó. “Vật tạo dựng mới” bắt đầu trong Đấng Christ (2 Cô-rinh-tô 5:17).

Vì vậy có một sức ép dựng lên cho Cơ Đốc Nhân giữa “bây giờ” và “vẫn chưa.” Cơ Đốc Nhân có một cách nhìn thế gian khác biệt, vì người đó nhìn xa hơn thế gian này đến thế giới hầu đến. Nhưng người đó vẫn đang sống trong thế gian này, nhưng người đó làm vậy bởi các tiêu chuẩn và quyền phép của thế giới hầu đến.

Trong vòng các ngụ ý mà thông tin này mang lại cho sự hiểu biết về Tân Ước, thì sự đề cập có thể được nói đến về sự cầu xin trong lời cầu nguyện của Chúa “Nước Cha được đến” (Ma-thi-ơ 6:10). Việc nhận biết rằng nước của Đức Chúa Trời là một khái niệm bao quát hơn lãnh thổ hay địa hạt khiến cho sự cầu xin này luôn luôn phù hợp. Tuy nhiên, cấu trúc của các mệnh đề cho thấy nhiều hơn về sự cầu xin này. Ba thỉnh cầu, “danh Cha được thánh,” “Nước Cha được đến,” và “Ý Cha được nên,” tất cả đều được làm cho đạt tiêu chuẩn bởi câu, “Ở đất như trời.” Lời cầu nguyện xin rằng nước Đức Chúa Trời đến và danh Ngài được thánh, không khác gì ý muốn của Đức Chúa Trời được nên, trên đất cũng như trên trời. Quyền làm vua của Đức Chúa Trời là lớn nhất trên trời; môn đồ cầu nguyện cho sự làm trọn trên đất.

Tóm Lại

Bằng việc liên kết Hội Thánh với vương quốc, nó trở nên rõ ràng rằng Hội Thánh là nhóm hội thuộc thuyết mạt thế, dân sự được tạo nên bởi vương quốc, dân sự đang sống trong “bây giờ và vẫn chưa đến” dân sự của thời kỳ cuối những người có mục đích đặc biệt trong các kế hoạch của Đức Chúa Trời. Các viễn cảnh đạt được từ một sự xem xét về vương quốc có thể được sử dụng để tóm tắt các bài học của loạt bài này.

Đấng Christ như vua (Khải huyền 17:14) và quyền phép của Đức Chúa Trời (1 Cô-rinh-tô 1:24) mang vương quốc trong con người Ngài, vì vậy bất cứ nơi nào Ngài ở, thì có vương quốc trong con người (Ma-thi-ơ 12:28). Vương quốc là công việc độc quyền của Đức Chúa Trời; nó không thể được xây dựng bởi loài người. Nhưng hoạt động vương quyền của Đức Chúa Trời thiết lập một nhóm hội khi Ngài kêu gọi dân sự đến sự vâng phục. Vì vậy thay vì Đức Chúa Giê-su phục hồi vương quốc của Y-sơ-ra-ên (Công vụ các Sứ đồ 1:6) thì vương quốc của Ngài thành lập một dân Y-sơ-ra-ên mới. Quyền làm Chúa hay Vua của Đức Chúa Giê-su được xưng nhận và bày tỏ trong phép báp-têm của một người. Sự cai trị của Đức Chúa Trời đến với dân sự khi Đức Chúa Giê-su tha thứ tội lỗi (Ma-thi-ơ 18:21-23). Đức Chúa Giê-su ban sự sống mới, Ngài bày tỏ quyền lực thánh của Ngài trong sự tha thứ (Mác 2:1-12). Quyền phép của Sa-tan bị phá vỡ (Lu-ca 10:1-20), và điều này tiếp tục xảy ra khi các sứ giả của Ngài công bố vương quốc. Sự cứu rỗi giải thoát một người khỏi sự khuất phục “vua chúa của thế gian mờ tối này” (Ê-phê-sô 6:12). Quyền lực của chúng bị phá vỡ và cuối cùng sẽ bị hủy diệt (2 Ti-mô-thê 1:10; 1 Cô-rinh-tô 15:26). Cơ Đốc Nhân không còn khuất phục nữa (với luật pháp, sự chết, Ma quỷ, và tội lỗi ) nhưng được tự do trong Đức Chúa Giê-su Christ (Rô-ma 6-7; Ga-la-ti 4; 1 Cô-rinh-tô 15:51-57; Cô-lô-se 2:14-15). Một người ở “trong Đấng Christ” cai trị với Đấng Christ, vì người đó chia sẻ vương quốc của Ngài (Khải huyền 5:9-10) và “sẽ cai trị với Ngài” (2 Ti-mô-thê 2:12). Hội Thánh trong việc làm của nó tiếp tục chức vụ nhà vua của Đức Chúa Giê-su khi nó công bố lời quyền phép, thông điệp giải cứu (Rô-ma 1:16; Ê-phê-sô 3:7).

Các quy tắc đạo đức của Cơ Đốc Nhân là “quy tắc đạo đức của vương quốc,” không phải quy tắc đạo đức cho những người bên ngoài Hội Thánh. Chúng được ban cho những người đến dưới sự cai trị của Đức Chúa Trời, và thực ra chỉ có ý nghĩa với những người tìm kiếm làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Vương quốc là một dạng đạo đức cũng như dạng thuộc thuyết mạt thế trong Tân Ước (Rô-ma 14:17). Cơ Đốc Nhân cố gắng chuyển thành các tiêu chuẩn của mức độ khác của sự sống trong hoàn cảnh con người hiện tại.

Sự thông công được thiết lập trong Đấng Christ với nhau tiếp tục. Các sự kiện của thời kỳ cuối không phá vỡ sự thông công này (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:17; 1 Giăng 3:2). Thuyết mạt thế là phải “ở với Đấng Christ” (Phi-líp 1:21-23). Sự thông công hiện tại trong Đấng Christ cho hy vọng (Rô-ma 8:24-25; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:13). Sự đến của Chúa sẽ là một thời điểm của việc “tập hợp cùng nhau” (Ma-thi-ơ 24:31; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:1). Hội Thánh như nhóm hội của những người được cứu được tìm thấy trong sự nhóm họp bây giờ (Hê-bơ-rơ 10:25). Việc tụ hợp lại cùng với nhau hiện nay của nó cho thấy trước được sự nhóm lại sau cùng trong sự hiện diện của Chúa. Hội Thánh được nhóm lại trong sự thờ phượng là một sự cho thấy trước về sự đến của Đấng Christ. Vì vậy sự thờ phượng là một việc làm thuộc thuyết mạt thế; nó được hướng về thời kỳ cuối. Trong sự thờ phượng Hội Thánh nhóm lại quanh Đấng Christ được tiến hành theo một sự hình dung trước về sự thờ phượng trên thiên đàng (Khải huyền 4-5). Đặc biệt trong lễ Tiệc Thánh Hội Thánh chia sẻ cùng bữa ăn của thế giới hầu đến (Ma-thi-ơ 26:29; Lu-ca 22:16, 18).

Hội Thánh phải tiếp tục công việc của vua. Không có sự thất bại thế gian nào làm Hội Thánh chán nản được, vì sự thất bại thế gian lớn nhất là tại trung tâm đức tin của nó – thập tự giá. Nhưng đó là bởi chính thập tự giá này mà Đức Chúa Giê-su đã chiến thắng các thế lực của ma quỷ, để được đề cao như Chúa tại tay hữu của Đức Chúa Trời (1 Phi-e-rơ 3:21-22). Vì vậy Hội Thánh tận hưởng tính vững chắc của hy vọng (1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:3).

Sự đến của Chúa là một vấn đề của sự mong đợi đầy vui mừng cho Hội Thánh và một sự kiện mà Hội Thánh cầu nguyện cho (1 Cô-rinh-tô 16:22; Khải huyền 22:20). Không có sợ hãi, vì Hội Thánh đã dự vào đặc tính của sự đến đó (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:4-11). Đó là nhóm hội của những ngày sau rốt, nó thuộc về Ngày đó. Vì vậy, thời kỳ cuối sẽ tiếp tục với sự trải nghiệm hiện tại của Hội Thánh với Chúa. Sau đó vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn thành (1 Cô-rinh-tô 15:24-28; Khải huyền 21:5-22:5).

Trong Tân Ước vương quốc (sự cai trị) của Đức Chúa Trời là cả hiện tại và tương lai. Trong thế kỷ thứ hai, vương quốc được xem bởi các tác giả chính thống hầu như duy nhất về tương lai và cách sử dụng này của vương quốc chủ yếu như một thực tại thuộc thiên đàng mà tiếp tục đến hiện nay. Do đó, thực tế hiện tại của quyền làm vua của Đức Chúa Trời thường bị bỏ qua và tầm quan trọng của nó bị sao lãng. Quyền làm vua đó được định là phải được thi hành và trải nghiệm trong Hội Thánh.

Các Câu Hỏi Ôn Tập

  1. Định nghĩa các từ Hê-bơ-rơ và Hy Lạp được dịch cho vương quốc.
  2. Tham khảo một sách dẫn cho các đoạn trích trong Cựu Ước và Tân Ước sử dụng từ vương quốc. Với sự trợ giúp của một từ điển Kinh Thánh tốt hay một bách khoa toàn thư, chuẩn bị một sự phân loại về các cách sử dụng của từ vương quốc.
  3. Theo cách nào mà vương quốc của Đức Chúa Trời luôn ở cả hiện tại và tương lai cho con người?
  4. Các sự kiện của Công vụ các Sứ đồ 2 đánh dấu một giai đoạn thêm nữa trong quá trình của vương quốc của Đức Chúa Trời trong vòng con người như thế nào?

Các sự kiện này được thấy trước trong sự hầu việc của Đức Chúa Giê-su như thế nào?

  • Thuật ngữ “thuyết mạt thế được bắt đầu”  được dùng để miêu tả viễn cảnh của Tân Ước. Bạn thấy thuật ngữ này có thích hợp không?
  • Viễn cảnh này liên quan đến các ý tưởng như là sự ban cho của Đức Thánh Linh, sự sống đời đời, vật tạo dựng mới, và các thuật ngữ Tân Ước khác như thế nào?
  • Một Cơ Đốc Nhân có thể vẫn cầu nguyện với Chúa rằng bây giờ Hội Thánh hầu đến không? Trên cơ sở nào mà bạn nêu ra câu trả lời của mình?
  • Có bất cứ bằng chứng nào rằng sẽ có một sự cai trị đặc biệt của Đấng Christ trên đất sau sự đến thứ hai của Ngài không?
  • Liên kết ý tưởng của Hội Thánh như nhóm hội theo thuyết mạt thế để đi trước các bài học trong chuỗi này.
  • Mối quan hệ nào mà các Cơ Đốc Nhân giữ vững được cho thế giới hầu đến? Vậy thái độ của họ nên là gì đối với sự đến của Chúa?

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang