CÁC PHÉP LẠ THỜI NAY: PHÉP LẠ, NÓI TIẾNG LẠ, VÀ PHÉP BÁP TÊM BẰNG ĐỨC THÁNH LINH CÓ CÒN NGÀY NAY?
Chương I: GIỚI THIỆU
Rất nhiều nhóm tôn giáo thường tuyên bố về sự giúp đỡ của Đức Thánh Linh trong cuộc đời của họ. Các nhân vật truyền hình tôn giáo nổi tiếng mạnh mẽ tuyên bố về tác động tích cực của Đức Thánh Linh thậm chí ngay khi họ nói chuyện. Được cho là Đức Thánh Linh nói chuyện với họ một cách cá nhân, chữa lành những người xem ngay lập tức, và khiến cho họ có thể nói lảm nhảm một cách không kiểm soát bằng một “ngôn ngữ không được biết đến.” Tất cả những điều này được tuyên bố là “bằng chứng rõ ràng” cho phép báp-têm của Đức Thánh Linh. Nhưng các phép lạ vẫn còn xảy ra chứ? Mọi người có thể nói tiếng lạ ngày nay không? Đức Chúa Trời, trong thế kỷ thứ 21, có thu hồi một cách siêu nhiên các quy luật của tự nhiên và ngay lập tức chữa lành mọi người một cách đầy phép màu không?
“Bây giờ hãy đến, cho chúng ta biện luận cùng nhau” (Ê-sai 1:18). Đó hoàn toàn là bắt buộc để chúng ta kiểm chứng Kinh Thánh – không phải các cảm giác của chúng ta, hay những gì mà ai đó nói đã xảy ra với họ, và không phải trải nghiệm chủ quan của chính chúng ta.[1] Cách tiếp cận chắc chắn và bảo đảm duy nhất đó là hỏi rằng: Kinh Thánh dạy gì? Người đọc phải hỏi rằng: “Tôi có chân thành tin Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời không?” Các câu trả lời cho các câu hỏi then chốt về sự tồn tại của loài người đòi hỏi một người phải muốn dành thời gian trong Lời, “hãy lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật” (2 Ti-mô-thê 2:15). Một người phải “tra xem Kinh Thánh” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 17:11). Một người phải chân thành và mong muốn đi đến nơi bằng chứng đưa mình đến. Nếu bạn phải chọn giữa những gì mà bạn chân thành nghĩ là bạn đã trải qua hay đã nhìn thấy trực tiếp và những gì mà Kinh Thánh thực sự nói, thì bạn sẽ chọn cái nào? Bạn phải hỏi chính mình rằng: “Tôi sẽ thành thật chấp nhận Lời được viết của Đức Chúa Trời về vấn đề các phép lạ hay không?” Nếu bạn muốn, thì tôi mời bạn tham gia cùng tôi trong một cuộc kiểm chứng về những gì Kinh Thánh dạy liên quan đến các phép lạ.
Câu hỏi ôn tập
- Theo Ê-sai, để đến với lẽ thật của Đức Chúa Trời thì cần gì? Trích dẫn chương và câu Kinh Thánh,
- Trong việc tra xét Kinh Thánh để tìm đến lẽ thật, ba điều gì không được cần đến?
- Cách tiếp cận chắc chắn và bảo đảm duy nhất đến với lẽ thật là gì?
- Trước khi lẽ thật có thể được xác định, một người phải hỏi chính mình cái gì?
- Cho hai câu Kinh Thánh mà chỉ thị việc truyền đạt Kinh Thánh một cách chính xác.
- Lựa chọn nào mà mỗi người nên đưa ra khi đối diện với một sự xung đột giữa (1) những gì mà một người chân thành nghĩ là mình đã trải qua hay nhìn thấy trực tiếp và (2) những gì Kinh Thánh thực sự nói?
Chương 2: Định nghĩa của Phép Lạ
“Phép lạ” chính xác là gì? Kinh Thánh sử dụng từ này như thế nào? Ba thuật ngữ được sử dụng trong Kinh Thánh để chỉ rõ một biểu hiện siêu nhiên (như trái ngược với tự nhiên) là: (1) “phép lạ” (dunamis); (2) “dấu kỳ” (semeion); và (3) “sự lạ” (teras). Cả ba thuật ngữ xuất hiện cùng lúc trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2:22, 2 Cô-rinh-tô 12:12, và Hê-bơ-rơ 2:4. Các thuật ngữ liên quan bao gồm “việc làm” (ergon)[2] và “ quyền phép” (kratos – Lu-ca 1:51). Việc xảy ra của một phép lạ trong Kinh Thánh có nghĩa là Đức Chúa Trời đã làm việc ngoài các quy luật của tự nhiên. W.E.Vine , sự thông biết tiếng Gờ-réc của ông, theo F.F. Bruce, là “uyên bác, chính xác và hợp thời,”[3] đã phát biểu rằng “phép lạ” (dunamis) được sử dụng trong Tân Ước về “các việc làm của một nguồn và nhân vật siêu nhiên, như là không thể được sinh ra bởi các tác nhân và phương cách tự nhiên.”[4] Otfried Hofius đã chú giải rằng một “dấu kỳ” (semeion) là “trái ngược với con đường tự nhiên của mọi vật”[5] và, tương tự, “sự lạ” (teras) chỉ đến các sự kiện mà “trái ngược với tính thống nhất có trật tự của tự nhiên.”[6] Vậy một phép lạ trong Kinh Thánh không chỉ là một sự kiện mà gây ngạc nhiên, không thể tin được, đặc biệt, hay lạ thường – như sự ra đời của một đứa bé, hay vẻ đẹp của một bông hoa, hay sự thoát khỏi khó tin của một tai nạn. Một phép lạ trong Kinh Thánh là một việc làm siêu nhiên. Nó là một sự kiện trái ngược với con đường thông thường của tự nhiên.[7] Các điều kỳ diệu không được nhầm lẫn với sự phù hộ, nơi Đức Chúa Trời hành động bên trong con đường thông thường của tự nhiên.
Danh sách của các phép lạ thế kỷ thứ nhất
(Được rút ra từ 1 Cô-rinh-tô 12-13)
Lời khôn ngoan
Lời thông biết
Đức tin
Chữa bệnh
Nói tiên tri
Phân biệt các thần
Nói tiếng lạ
Thông giải tiếng lạ
Các bài ca được hà hơi
Sự dạy dỗ được hà hơi
Một vài khả năng kỳ diệu được ám chỉ đến trong Tân Ước được ban cho bởi Đức Thánh Linh như các món quà dành cho các tín đồ Đấng Christ đặc biệt (xem biểu đồ trên trang 4). 1 Cô-rinh-tô 12-13 cung cấp các danh sách của các sự ban cho này mà đáng để dẫn giải. Một “lời khôn ngoan” không nghi ngờ gì, là một sự hiểu biết được hà hơi mà được ban cho một cá nhân một cách trực tiếp vào thời điểm khi mà sự hiểu biết đó được cần đến để thúc đẩy mục đích của Đấng Christ. Một “lời thông biết” đơn giản là một thông tin được hà hơi được ban cho một cá nhân mà hoàn cảnh của người đó xứng với thông điệp. Trong khi tương tự với sự ban cho của việc nói tiên tri, người nhận không phải là một nhà tiên tri thực thụ, nhưng đúng hơn là chỉ đơn giản nhận một chút thông tin mà phù hợp với dịp đặc biệt mà cần đến sự nhận biết. “Đức tin” như một sự ban cho mầu nhiệm sẽ không dẫn đến đức tin cứu rỗi ban đầu mà được đòi hỏi từ mọi người để trở thành một tín đồ Đấng Christ (so sánh Mác 16:16; Lu-ca 8:24; Rô-ma 1:5; 16:26). Hơn thế, sự ban cho này được dành cho các tín đồ (những người đã “được xưng công bình bởi đức tin” rồi – Rô-ma 5:1), nhưng là những người được ban cho một lượng đức tin tăng lên để khiến cho họ có thể thực hiện được bất cứ nhiệm vụ nào được giao cho họ bởi Đức Thánh Linh.
Thuật ngữ “phép lạ” trong cụm từ “làm phép lạ” (1 Cô-rinh-tô 12:10) không nghi ngờ gì là một thuật ngữ “bao quát” mà chỉ đến mọi hình thức của phép lạ mà có thể được thực hiện, bao gồm khiến sống kẻ chết, làm cho người mù được nhìn thấy, khiến cho người tàn tật đi được, v.v. “Nói tiên tri” chỉ đến khả năng của người nhận để nói thông tin được hà hơi cho mục đích của sự chỉ dẫn. Định nghĩa của Kinh Thánh về nói tiên tri có thể bao gồm khả năng tiên đoán tương lai, nhưng việc chính của nhà tiên tri là phải công bố thông điệp của Đức Chúa Trời như được bày tỏ một cách trực tiếp với mình bởi Đức Thánh Linh. Hãy nhớ rằng Tân Ước vẫn chưa được bày tỏ đầy đủ, chứ nói gì đến việc viết chi tiết. Tuy nhiên, nhu cầu cho những người trong Hội Thánh mà có thể chỉ dẫn và truyền đạt các giáo huấn của Đạo Đấng Christ trước khi sự sẵn có thông thường của kinh Tân Ước được hoàn thiện. Nó khiến cho người sở hữu có thể phân biệt giữa lời tiên tri đáng tin và giả mạo.
“Tiếng lạ” chỉ đến khả năng kỳ diệu để nói một ngôn ngữ loài người được biết đến mà chưa từng học qua ngôn ngữ đó. “Sự thông giải tiếng lạ” bao gồm khả năng để chuyển ngữ (bằng lời nói) những lời của một người nói tiếng lạ thành ngôn ngữ của những người nghe, lại nữa, mà không có học qua ngôn ngữ mà mình đang thông dịch. “Có các bài hát” dẫn đến một người có khả năng được hà hơi để tạo ra một bài hát (giống những người trong Cựu Ước) mà lần lượt có thể được học hay học tập, được thuật lại bằng lời nói, hay được hát bởi Hội Thánh.[8] “Sự dạy dỗ” được hà hơi bao gồm khả năng của một người để phổ biến thông tin từ Đức Chúa Trời trước khi sự sẵn có thông thường của thông tin đó theo dạng được viết xuống. Nó cũng có thể bao gồm sự dạy dỗ về các khải thị trước (từ Cựu Ước) mà người dạy sẽ có thể trình bày một cách hoàn hảo, truyền đạt chính xác các ý nghĩa.
Tất cả các sự ban cho mầu nhiệm này tạo thành một môi trường trong Hội Thánh địa phương mà có ích cho các thành viên (và những người ghé thăm) để được “khai trí” (1 Cô-rinh-tô 14:17), tức là được gây dựng – “để các thánh đồ được trọn vẹn về các chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Christ” mà “làm cho thân thể lớn mạnh, và tự gây dựng trong sự yêu thương” (Ê-phê-sô 4:12,16). Sự thành nhân, sự khai trí và sự trang bị chỉ có thể xảy ra qua con đường đến Lời của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, các lợi ích then chốt, không thể thiếu được này xếp chính chúng bên dưới mục đích chính của các phép lạ, như được thảo luận trong chương tiếp theo.
Câu hỏi ôn tập
- Ba thuật ngữ chính được dùng để nói đến một việc làm siêu nhiên là gì?
- Trích một trong ba câu Kinh Thánh trong Tân Ước nơi cả ba thuật ngữ đều được dùng đến.
- Hai thuật ngữ khác cũng được dùng đến là gì?
- Đức Chúa Trời đang làm gì khi Ngài thực hiện một phép lạ?
- Cho một ví dụ về những gì mà nhiều người sẽ gọi là một “phép lạ.”
- Như một việc làm siêu nhiên, một phép lạ trong Kinh Thánh trái ngược với cái gì?
- Thuật ngữ điển hình nào mà chúng ta dùng để chỉ đến sự hoạt động của Đức Chúa Trời trong con đường thông thường của tự nhiên?
- Kể tên ba ví dụ từ danh sách các phép lạ thế kỷ thứ nhất.
- Sự ban cho nào giống như một sự ban cho “đồng hành” với sự ban cho nói tiên tri?
- Sự ban cho nào khiến cho người sở hữu có thể phân biệt giữa lời tiên tri chính xác và giả mạo?
- Dạng ngôn ngữ nào được định bởi thuật ngữ “tiếng lạ”?
- Sự lớn lên về thuộc linh và sự khai trí chỉ có thể xảy ra qua trung gian nào?
Chương 3: Ý ĐỊNH CỦA CÁC PHÉP LẠ
Đó là hết sức cần thiết để một người nhận ra mục đích của các sự mầu nhiệm. Hãy tưởng tượng sống trong thế kỷ thứ nhất và ngập tràn những người tuyên bố là đang nói lẽ thật – thậm chí các lẽ thật đến từ Đức Chúa Trời. Làm thế nào một người có thể xác định được ai đang thực sự cho thông tin đến từ Đức Chúa Trời? Các phép màu trong Tân Ước phục vụ cho chức năng cơ bản của sự xác nhận. Khi một người phát ngôn được hà hơi bước ra trước để công bố Lời của Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời phê chuẩn hay chứng thực các lời bình của người phát ngôn bằng cách cho phép người phát ngôn làm một phép lạ. Nhiều đoạn trích Tân Ước chỉ ra sự thật này một cách rõ ràng. Ví dụ, các sứ đồ “thì đi giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng làm với môn đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo” (Mác 16:20). Tác giả Hê-bơ-rơ đã hỏi rằng:
Nếu ta còn trễ nải sự cứu rỗi lớn dường ấy, thì làm sao tránh cho khỏi được? – là sự cứu rỗi Chúa truyền ra trước hết, rồi có những kẻ nghe chứng nghiệm nó cho chúng ta, Đức Chúa Trời cũng dùng những dấu kỳ sự lạ và đủ thứ phép màu, lại dùng sự ban cho của Đức Thánh Linh mà Ngài đã theo ý muốn mình phát ra, để làm chứng với các kẻ đó (Hê-bơ-rơ 2:3-4).
Ám chỉ đến lời tuyên bố ban đầu về Tin Lành với những người Sa-ma-ri, Lu-ca đã phát biểu rằng: “Đoàn dân nghe người giảng và thấy các phép lạ người làm, thì đồng lòng lắng tai nghe người nói” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 8:6). Các sứ đồ đã cầu nguyện với Đức Chúa Trời rằng: “Nầy, xin Chúa xem xét sự họ ngăm dọa, và ban cho các đầy tớ Ngài rao giảng đạo Ngài một cách dạn dĩ, giơ tay Ngài ra, để nhờ danh đầy tớ thánh của Ngài là Đức Chúa Jêsus, mà làm những phép chữa lành bệnh, phép lạ và dấu kỳ” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 4:29-30).
Các đoạn trích này, và nhiều đoạn trích khác (ví dụ, Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 13:12; 14:3; 15:12; Rô-ma 15:18-19; 1 Cô-rinh-tô 2:4; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:5; so sánh với Xuất Ê-díp-tô 4:30), chứng tỏ rằng mục đích của các phép lạ là để xác thực lời được nói ra là Lời của Đức Chúa Trời. Các phép lạ hợp pháp hóa và xác minh lời dạy của những người truyền đạt của Đức Chúa Trời, như trái ngược với nhiều thầy giáo giả (như Si-môn trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 8:9, hay các thuật sĩ của Pha-ra-ôn trong Xuất Ê-díp-tô 7:11) những người cố gắng lừa dối dân sự. Cuối thế kỷ 19, Nhà từ điển học tiếng Gờ-réc Joseph Thayer đã diễn đạt điểm này rất tốt khi ông đã ghi chú rằng “dấu kỳ” (semeion) được sử dụng trong Tân Ước về “các phép lạ và điều kỳ diệu mà bởi chúng Đức Chúa Trời xác thực những người được sai đi bởi Ngài, hay bởi chúng mà những người đó chứng minh nguồn mà họ đang nhận lấy là của Đức Chúa Trời.”(9) Thậm chí các phép lạ mà Đức Chúa Jêsus đã làm được định để chống đỡ cho tuyên bố của Ngài (tức là, những lời được nói ra) là Đấng Thánh. Hãy xem hai ví dụ: (1) Sử dụng thuật ngữ song song “công việc” (một từ khóa, như “dấu kỳ,” trong sách của Giăng), Đức Chúa Jêsus đã lưu ý với Phi-líp rằng, “Ngươi há không tin rằng ta ở trong Cha và Cha ở trong ta, hay sao? Những lời ta nói với các ngươi, chẳng phải ta tự nói; ấy là Cha ở trong ta, chính Ngài làm trọn việc riêng của Ngài. Khi ta nói rằng ta ở trong Cha và Cha ở trong ta, thì hãy tin ta; bằng chẳng, hãy tin bởi công việc ta” (Giăng 14:10-11; so sánh Giăng 6:26). (2) Ni-cô-đem đã nói với Đức Chúa Jêsus rằng: “Thưa thầy, chúng tôi biết thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến; vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được” (Giăng 3:2). Kiểu mẫu này được lập lại trong Tân Ước rất nhiều lần (ví dụ, Giăng 2:23; 5:36; 6:14; 7:31; 10:37-38, 41-42; 20:30-31; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2:22). Nói cách khác, Đức Chúa Jêsus làm các dấu kỳ, và phép lạ để chứng minh đặc tính thánh của Ngài và bởi đó xác thực thông điệp của Ngài. Thông điệp của Ngài, lần lượt, sinh ra đức tin trong những người chọn tin vào sự dạy dỗ của Ngài (so sánh Rô-ma 10:17). Đây là chuỗi không thay đổi được trình bày trong Kinh Thánh: (1) Các dấu kỳ xác thực Lời; (2) Lời được nói được trình bày cho những người nghe; và (3) đức tin được hình thành (bởi Lời) trong những người nhận nó.
MỤC ĐÍCH CỦA CÁC PHÉP LẠ

Một miêu tả tuyệt vời về quá trình này được nêu ra bởi Lu-ca trong báo cáo của ông về sự cải đạo của quan trấn thủ Rô-ma Sê-giút Phau-lút. Ê-ly-ma, thầy thuật sĩ đã cố gắng cản trở nổ lực của Phao-lô để dạy Sê-giút Tin Lành. Vì vậy Phao-lô đã làm một phép lạ bằng cách làm cho Ê-ly-ma bị mù. Lu-ca tiếp theo ghi lại rằng: “Quan trấn thủ thấy sự đã xảy đến, bèn tin, lấy làm lạ về đạo Chúa.” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 13:12). Một người cũng có thể trong mạch văn nói rằng Sê-giút lấy làm ngạc nhiên với phép lạ mà Phao-lô đã làm. Nhưng Lu-ca đã cẩn thận thông báo tình hình với tính chính xác. Phép lạ mà Phao-lô đã làm chiếm được sự tập trung của Sê-giút, khiến ông nhận ra nguồn gốc thánh của thông điệp Tin Lành của Phao-lô. Thông điệp Tin Lành, tiếp nối theo, sinh ra đức tin trong quan trấn thủ – tương xứng với lời xác nhận sau này của Phao-lô về các tín đồ ở Rô-ma rằng đức tin đến bởi việc nghe Lời của Đức Chúa Trời (Rô-ma 10:17). Hết lần này đến lần khác trong Tân Ước, một mối tương quan mật thiết được nhìn thấy giữa việc thực hiện các phép lạ và việc rao giảng Lời của Đức Chúa Trời (so sánh Mác 6:12-13; Lu-ca 9:2,6). [Xem biểu đồ sau.]
CÁC PHÉP LẠ XÁC THỰC ĐẠO
| Đoạn trích | Thông điệp | Sự Xác thực | Phản ứng lại |
| Mác 16:15-20 | “hãy đi…giảng Tin Lành… các môn đồ đi ra giảng đạo…” | “Chúa làm việc cùng với họ và xác thực đạo qua việc kết hợp với các dấu kỳ” | “Ai tin và chịu phép báp-têm sẽ được rỗi.” |
| Mác 6:12-13 | “Các sứ đồ đi ra và giảng…” | “Họ đuổi nhiều ma quỷ, xức đầu cho nhiều kẻ bịnh, và chữa cho được lành.” | “mọi người phải ăn năn.” |
| Ma-thi-ơ 9:6; Lu-ca 5:24-26 | “Vả hầu cho các ngươi biết Con người ở thế gian có quyền tha tội.” | “Ngài phán cùng người bại rằng: Hãy đứng dậy, vác lấy giường.” | “Người bại liền dậy mà trở về nhà mình… ngợi khen Đức Chúa Trời.” |
| Lu-ca 9:2,6 | “…giảng về nước Đức Chúa Trời…rao giảng Tin Lành…” | “…chữa lành kẻ có bịnh…chữa lành người có bịnh.” | |
| Lu-ca 9:11 | “…giảng cho họ về nước Đức Chúa Trời.” | “…chữa cho những kẻ cần được lành bệnh.” | |
| Giăng 2:22 | “…Kinh Thánh và lời Đức Chúa Jêsus đã phán.” | “khi Ngài từ kẻ chết sống lại” | “họ tin” |
| Giăng 2:23 | “danh Ngài” | “nhiều người thấy phép lạ Ngài làm” | “nhiều người tin” |
| Giăng 3:2-3 | “nếu một người chẳng sanh lại thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời” | “những phép lạ thầy đã làm” | “thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến” |
| Giăng 11:42; 12:10-11 | “Tôi nói vậy là vì cớ đoàn dân… để họ tin rằng ấy chính Cha là Đấng sai tôi đến.” | “để xem La-xa-rơ, là người Ngài đã khiến từ kẻ chết sống lại” | “nhiều người Giu-đa chia rẽ họ và tin theo Đức Chúa Jêsus.” |
| Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 4:29-32 | “rao giảng Đạo Ngài một cách dạn dĩ” | “giơ tay Ngài ra,…làm những phép chữa lành bịnh, phép lạ và dấu kỳ” | “Người tin theo đông lắm, cứ một lòng một ý cùng nhau.” |
| Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 8:5-12 | “…truyền giảng đạo Tin Lành… Phi-líp giảng về Đấng Christ.” | “nghe và thấy các phép lạ người làm” | “họ tin Phi-líp… đều chịu phép báp-têm.” |
| Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 13:7-12 | “…xin nghe Đạo Đức Chúa Trời.” | “…ngươi sẽ bị mù…” | “Quan trấn thủ thấy sự đã xảy đến, bèn tin, lấy làm lạ về Đạo Chúa.” |
| Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 14:2-3 | “đầy dẫy sự bạo dạn và đức tin trong Chúa” | “Chúa dùng tay của hai sứ đồ làm những phép lạ dấu kỳ, mà chứng về đạo ân điển của Ngài.” | “Có rất nhiều người tin theo” |
| Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 15:7,12 | “người ngoại được nghe Tin Lành” | “những phép lạ dấu kỳ…làm ra giữa người ngoại” | “lấy đức tin khiến cho lòng họ được tinh sạch” |
| Rô-ma 15:18-19 | “Tôi đã đem đạo Tin Lành của Đấng Christ đi khắp chốn.” | “bởi quyền phép của dấu kỳ phép lạ, bởi quyền phép của Thánh Linh Đức Chúa Trời.” | “khiến cho dân ngoại vâng phục” |
| 1 Cô-rinh-tô 2:4-5 | “lời nói và sự giảng của tôi” | “sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép” | “hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép Đức Chúa Trời.” |
| 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:5-6 | “Đạo Tin Lành chúng ta đã rao truyền cho anh em, chẳng những bằng lời nói thôi…” | “lại cũng bằng quyền phép, Đức Thánh Linh và sức mạnh của sự tin quyết nữa.” | “anh em cũng đã bắt chước tôi và bắt chước Chúa…tiếp nhận đạo” |
| Hê-bơ-rơ 2:1-4 | “sự cứu rỗi lớn dường ấy…là sự cứu rỗi Chúa truyền ra trước hết” | “Đức Chúa Trời cũng dùng những dấu kỳ sự lạ và đủ thứ phép mầu, lại dùng sự ban cho của Đức Thánh Linh” | “cho sự chú ý nhiều hơn” |
| Xuất Ê-díp-tô 4:8,15,17 | “ta sẽ ở cùng miệng ngươi…dạy các ngươi những điều gì phải làm” | “ngươi hãy cầm lấy cây gậy này nơi tay, để dùng làm các dấu lạ” | “để họ có thể tin” |
| Các quan xét 6:14; 36-40 | “ngươi sẽ giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi tay dân Ma-đi-an” | Sương trên lốt chiên, đất khô; lốt chiên khô, sương trên đất. | “Chúa dùng tay tôi giải cứu Y-sơ-ra-ên, y như Chúa đã hứa vậy.” |
| 1 Các vua 17:16,22,24 | “Lời của Đức Chúa Trời đã cậy miệng Ê-li mà phán ra” | “linh hồn của đứa trẻ trở lại trong mình nó và nó sống lại” | “bây giờ tôi nhìn biết ông là một người của Đức Chúa Trời, và lời phán của Đức Giê-hô-va ở trong miệng ông là thật.” |
| 1 Các vua 18:21, 38-39 | “Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài; nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn” | “lửa của Đức Giê-hô-va giáng xuống thiêu đốt của lễ thiêu…” | “Thấy vậy, cả dân sự sấp mình xuống đất, và la rằng: Giê-hô-va là Đức Chúa Trời! Giê-hô-va là Đức Chúa Trời!” |
| Ê-sai 7:9,14,16 | “nước của hai vua mà ngươi đương ghét sẽ bị bỏ hoang” | “chính Chúa sẽ ban một điềm cho các ngươi” | “nếu các ngươi không tin chắc sẽ không đứng vững được” |
Các mục đích khác: siêu thuộc linh?
Nhưng một số người cho rằng có các nguyên do khác cho việc chữa lành thuộc thánh và việc nói tiếng lạ. Một số người nói rằng nói tiếng lạ là một dấu hiệu rằng người nói tiếng lạ là “siêu thuộc linh.” Những người khác nói rằng việc chữa lành kỳ diệu đáp ứng mục đích làm cho tín đồ khỏe mạnh – chỉ một hành động của sự thương xót để làm dịu cơn đau và sự khốn khổ của người đó. Họ nói Đức Chúa Trời không muốn chúng ta chịu khổ, và vì vậy Ngài sẽ cứu chữa chúng ta chỉ để làm dịu sự đau đớn của chúng ta trong đời này bởi vì chúng ta là con cái của Ngài.
Liên quan đến tuyên bố đầu tiên, trong các lời nhắc nhở của Phao-lô đến Hội Thánh của Đấng Christ ở Cô-rinh-tô, ông đã nhấn mạnh rằng người có năng lực để nói tiếng lạ không phải là thuộc linh cao hơn người không có năng lực như vậy. Người nói tiếng lạ có một trách nhiệm sử dụng sự ban cho của mình một cách thích đáng, tức là, để giúp những người khác nhận ra rằng năng lực kỳ diệu của mình được dùng để xác thực thông điệp thánh mà mình truyền đạt (1 Cô-rinh-tô 14:6,9,12,19). Sự ban cho của người đó không đặt người đó vào một vị trí siêu thuộc linh hơn bất cứ sự ban cho nào khác mà được sở hữu bởi bất cứ thành viên nào khác – mặc cho năng lực có mầu nhiệm hay không mầu nhiệm (1 Cô-rinh-tô 12:11-27). Việc nói tiếng lạ đơn giản là một khả năng phép lạ trong số nhiều phép lạ được ban cho bởi Đức Chúa Trời mà không liên quan đến tình trạng thuộc linh của thành viên, không nói đến sự siêu thuộc linh của người đó hơn thành viên khác (1 Cô-rinh-tô 12:7-11, 28-30).
Các mục đích khác: Để được khỏe mạnh?
Về lời tuyên bố thứ hai, chắc chắn, sự thương xót của Đức Chúa Trời là rõ ràng khi mọi người nhận được sự chữa lành phép lạ trong thời kỳ Tân Ước. Và, chắc chắn, giải thoát khỏi sự đau khổ sẽ là một tác dụng /lợi ích phụ của việc được cứu. Nhưng Kinh Thánh dạy rằng việc làm dịu sự đau đớn không phải là mục đích của các phép lạ. Một mục đích như vậy sẽ trái ngược – thậm chí gây trở ngại – cho dự định thánh của Trái Đất được tạo dựng này như một nơi mà sự khó khăn tồn tại để chuẩn bị chúng ta cho sự đời đời. (10) Sự chết và tội lỗi đã vào trong thế gian do sự chọn lựa của con người, và Đức Chúa Trời cho phép các tình huống được gây ra bởi các quyết định của con người để chọn con đường của họ. Đức Chúa Trời sẽ không can thiệp vào trật tự tự nhiên của mọi vật để bày tỏ sự thiên vị cho một số người hơn những người khác. Các tín đồ cũng chịu các bệnh dịch tương tự, các thảm kịch tương tự, và cái chết thể xác tương tự mà xảy đến với những người không phải là tín đồ: “vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi” (Sáng Thế Ký 3:19). Kinh Thánh, thực tế, cảnh báo các tín đồ rằng họ có thể mong đợi là những người tiếp nhận của tất cả dạng của sự khó khăn, sự chống nghịch, sự cám dỗ, và sự đau khổ (ví dụ, 1 Cô-rinh-tô 10:13; 2 Ti-mô-thê 3:12; 1 Phi-e-rơ 4:12-17). Nhận xét về mục đích của phép lạ, J.W. McGarvey đã viết rằng:
[Để] nói rằng họ được rèn cho mục đích duy nhất của việc bày tỏ lòng thương xót thánh đối với người bệnh, và những người bị áp bức bởi ma quỷ, sẽ là phớt lờ đi một mục đích mà nó dễ dàng dính líu đến, mà được thừa nhận công khai bởi chính Đấng Christ, và là một trong những điều lớn hơn nhiều.(11)
Mục đích đó phải là “hỗ trợ lời tuyên bố của Ngài…bằng chứng cần thiết của lời tuyên bố của Đức Chúa Jêsus.”(12)
Nếu ý định của Đức Chúa Trời là để miễn cho các tín đồ khỏi bệnh tật và dịch lệ, thì Ngài chắc chắn đã thất bại trong công việc, vì rất nhiều tín đồ suốt 2000 năm qua đã trải qua các tai họa chính xác như nhau mà người không tin cũng chịu đựng. Nếu phép lạ trong thế kỷ đầu có mục tiêu của chúng là để cải thiện sức khỏe hay thể chất khỏe mạnh cho người nhận, thì Đức Chúa Jêsus và các sứ đồ đã thất bại, bởi vì họ đã bỏ lại rất nhiều người bệnh không được chạm đến và những người đang hấp hối! Đức Chúa Jêsus đã chữa lành một thiểu số của những người bệnh của Palestine, và đã không cứu chữa bất cứ ai bên ngoài vùng địa lý nhỏ bé đó ( với ngoại lệ của đứa con gái của người đàn bà Ca-na-an). Thực tế, một người bị ép phải kết luận rằng lòng thương xót của Đức Chúa Trời không mở rộng cho mọi người. Nhưng Kinh Thánh khẳng định rằng Đức Chúa Trời yêu toàn bộ loài người (Giăng 3:16; Rô-ma 5:8). Tuy nhiên, phép lạ không có mục đích chính của chúng là bày tỏ lòng thương xót của Đức Chúa Trời, hay để làm giảm đau đớn, bệnh tật, và sự đau khổ. Tác phẩm năm 1898, McGarvey đã đưa ra các nhận xét sau:
[K]hông giống những người biện hộ hiện đại này về “sự chữa lành thánh,” các sứ đồ không bao giờ được biết là ra đi để kêu gọi mọi người đứng ra đằng trước để được chữa lành. Họ đã thực hiện các việc chữa lành kỳ diệu trong một vài trường hợp cá biệt, “như một dấu cho những người không tin,” nhưng họ không bao giờ tuyên bố, dù là với các thánh đồ hay tội nhân, rằng việc chữa lành tất cả bệnh tật là một phần của Tin Lành mà họ được sai đến để rao giảng. Vì vậy, các Hội Thánh được gọi là đức tin -chữa lành và các nhà giảng đạo mà làm việc trong các Hội Thánh đó như “những người chữa lành thánh,” là không tuân theo mẫu của các sứ đồ, nhưng đang dẫn mọi người lầm lạc bằng trò lừa gạt. (13)
Thiếu đức tin?
Lời bác bỏ thông thường cho các nhận xét này đó là nguyên do mà một số người không nhận được một phép lạ là “họ không có đủ đức tin.” Nhưng lời biện hộ này cũng không theo Kinh Thánh. Đúng là có một số người trong Tân Ước bị nhận xét về đức tin mà họ có trước khi tiếp nhận một phép lạ (ví dụ: Mác 5:34). Tuy nhiên, nó không thể kết luận một cách máy móc rằng đức tin là một điều kiện tiên quyết cần thiết cho việc tiếp nhận phép lạ. Nhiều người không được yêu cầu phải có đức tin như một điều kiện tiên quyết. Ví dụ, tất cả những người được làm cho sống lại từ kẻ chết rõ ràng không thuộc phạm vi “có đức tin” (ví dụ, Giăng 11:44). Hay những người bị ma quỷ cưỡng chế không có đức tin trước khi được chữa lành, vì họ không ở trong tình trạng tỉnh táo (ví dụ, Lu-ca 9:42; 11:14). Người đàn ông mù bẩm sinh thực tế đã phơi bày sự không chắc chắn về nhận dạng của Đức Chúa Jêsus (Giăng 9:11-12,17,25,35-36). Người được chữa lành bởi Đức Chúa Jêsus khi ông đang nằm bên ao nước, thực tế thậm chí còn không biết ai đã chữa cho mình (Giăng 5:13). Trong một dịp khác, Đức Chúa Jêsus đã chữa lành người bị liệt sau khi nhìn thấy đức tin của những người khiêng ông, chứ không phải đức tin của ông (Mác 2:5). Các đoạn trích khác chỉ ra rằng nhiều người đã nhận được ích lợi của các phép lạ mà không được đòi hỏi đến việc có đức tin (Lu-ca 13:12; 14:4; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 3:1-10).
Điều ngược lại cũng chính xác. Có những người mà đã có đức tin, nhưng không được chữa khỏi bệnh. Sứ đồ Phao-lô rõ ràng có rất nhiều đức tin. Ông đã có một “căn bệnh” mà rất đau đớn đến mức ông đã gọi nó là “một cái giằm xóc vào thịt” và “quỷ sứ của Sa-tan” (2 Cô-rinh-tô 12:7-10). Nhưng những lời cầu nguyện tha thiết nhất của ông đến Đức Chúa Trời cho việc giảm bớt vẫn không có kết quả trong việc chữa lành của ông. Ti-mô-thê là một người hầu việc trung thành và có hiệu quả của Chúa. Ông có những bệnh “khó ở” (bệnh vặt) và bệnh dạ dày mà nghiêm trọng đến mức khiến cho Phao-lô phải nhắc đến chúng. Nhưng thay vì đơn giản chữa lành cho ông, hay nói ông “cầu nguyện cho việc chữa lành,” thì Phao-lô khuyên ông nên uống một chút rượu như một thứ thuốc bổ (1 Ti-mô-thê 5:23) (14). Một người tín đồ cùng làm việc và đồng hành khác với Phao-lô trong các chuyến truyền giáo của ông, Trô-phim (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 20:4; 21:29), đã bị để ở lại tại thành Mi-lê vì đang đau ốm (2 Ti-mô-thê 4:20). Ép-ba-phô-đích là một người làm công hết sức đáng giá trong vương quốc của Đấng Christ, đến mức Phao-lô đã nói đến ông như là “anh em tôi, bạn cùng làm việc và cùng chiến trận với tôi … cung cấp mọi sự cần dùng cho tôi” (Phi-líp 2:25). Khi ông mắc bệnh “gần chết” (Phi-líp 2:27,30) – có khả năng là do công việc của vương quốc và hầu việc cho Phao-lô đã làm ông kiệt quệ – nhưng Phao-lô đã không chữa lành cho ông. Các tấm gương này cho thấy rằng đức tin của cá nhân không phải là điều kiện tiên quyết cho việc tiếp nhận một phép lạ trong thế kỷ đầu tiên. Thay vào đó, các phép lạ được liên kết chặt chẽ với việc xác nhận Đạo được nói ra của Đức Chúa Trời.
Nhưng còn về những câu Kinh Thánh mà dường như ám chỉ rằng đức tin có liên quan gì đó đến việc liệu rằng một phép lạ sẽ đến trước hay không? Ví dụ, về lời nhận xét của Ma-thi-ơ khi Đức Chúa Jêsus đi đến quê hương của Ngài rằng Ngài “đã không làm nhiều phép lạ, vì chúng không có lòng tin” (Ma-thi-ơ 13:58) thì sao? Lưu ý rằng mạch văn không thể liên kết sự hiện hữu của phép lạ với sự hiện hữu của đức tin được. Cuối cùng thì, “không nhiều” ngụ ý rằng một vài phép lạ đã được thực hiện – dù cho việc không tin là đầy dẫy. Vậy, luận điểm mà Ma-thi-ơ nêu ra đó là khi Đức Chúa Jêsus thực hiện một vài phép lạ để xác nhận lời tuyên bố thánh của Ngài, thì bằng chứng bị từ chối, khiến cho nó trở nên thừa thãi để Đấng Christ thực hiện thêm bất cứ sự khẳng định bằng phép lạ nào. Albert Barners đã giải thích vấn đề này một cách ngắn gọn:
Chúng ta không nên cho rằng sức mạnh của Ngài (Chúa Jêsus) bị giới hạn bởi việc tin hay không tin của loài người; nhưng mà họ quá thành kiến, quá chống đối Ngài đến mức mà họ đã không ở trong một tình cảnh để đánh giá bằng chứng và được thuyết phục … Vì vậy, nó sẽ trở nên vô ích để chứng minh cho họ rằng Ngài đến từ Đức Chúa Trời, để làm các phép lạ … Ngài đã cung cấp bằng chứng đầy đủ cho sự hầu việc của Ngài, và để cho họ lại trong việc không tin tự chọn của họ mà không chối cãi được. (15)
Đức Chúa Jêsus chỉ đơn giản làm những gì mà Ngài đã chỉ dẫn 12 sứ đồ phải làm: “nếu có chỗ nào, người ta không chịu tiếp các ngươi, và cũng không chịu nghe các ngươi nữa, thì hãy đi khỏi đó, và phủi bụi đã dính chân mình, để làm chứng cho họ” (Mác 6:11). Ngài đã nói thêm rằng, “đừng quăng hột trai mình trước mặt heo” (Ma-thi-ơ 7:6). Nếu việc khẳng định thêm của Lời của Ngài (thêm các phép lạ) sẽ kích thích đức tin của những người nghe Ngài, thì Đức Chúa Jêsus sẽ thực hiện chúng.
Giăng thực ra đã giải quyết câu hỏi này cho người tìm kiếm không thành kiến. Ông đã diễn đạt câu nói chủ đề của sách Tin Lành của ông bằng những từ này: “Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách này. Nhưng các việc này đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống” (Giăng 20:30-31). Giăng đã nói rằng đức tin có sau phép lạ – không phải có trước để nhận được một phép lạ. Tân Ước dạy điều hoàn toàn ngược lại với những người mà tuyên bố rằng các phép lạ có xảy ra ngày nay. Họ nói một người phải có đức tin trước khi anh ấy hay cô ấy có thể nhận được một phép lạ. Tân Ước dạy rằng phép lạ được thực hiện để xác nhận nguồn gốc thánh của các thông điệp hay sự nhận diện của người nói. Tiếp theo, thông điệp tạo ra đức tin trong người nghe (so sánh với Rô-ma 10:17). Vậy, phép lạ có trước đức tin. Thậm chí việc nói tiếng lạ được định để thuyết phục người không tin chú ý vào thông điệp (1 Cô-rinh-tô 14:22).
Về các trưởng lão thì sao?
Một số người cho rằng Gia-cơ 5:14-15 nói rằng các trưởng lão có thể chữa bệnh ngày nay. Nhưng Gia-cơ chỉ đơn giản nói đến hiện tượng chữa lành siêu nhiên của thế kỷ thứ nhất mà được nhắc đến như một trong các sự ban cho có sẵn trong Hội Thánh thế kỷ đầu tiên (1 Cô-rinh-tô 12:9, 30; cũng xem Mác 6:13). Nhưng, như được giải thích phần đầu chương bốn, tất cả các sự ban cho phép lạ như vậy đã không còn nữa. Các trưởng lão trong các Hội Thánh thế kỷ thứ nhất sẽ có được năng lực chữa lành bằng tiếp nhận việc đặt tay của các sứ đồ (xem phần Việc đặt tay của các sứ đồ trong Chương 6). Dầu ô-li-ve, dù được sử dụng như một vì thuốc trong thế kỷ thứ nhất, chỉ đơn giản là một dấu hiệu của sức mạnh của Đấng Christ để chữa lành, mà các trưởng lão sẽ áp dụng cho người bệnh khi họ cầu nguyện Đức Chúa Trời để chữa lành ai đó. Việc chữa lành phép lạ không xảy ra bằng việc xức dầu hay việc đặt tay của các trưởng lão, nhưng bởi “sự cầu nguyện bởi đức tin” (câu 15). Sự can thiệp mầu nhiệm như thế về phía Đức Chúa Trời sẽ diễn ra ngay lập tức với sự phục hồi hoàn toàn và trọn vẹn. Những người tin rằng các câu Kinh Thánh này áp dụng cho ngày nay không thể tránh khỏi bị khó xử khi người bệnh không được chữa lành ngay tức thì, và sau đó phải dùng đến những lý do xin lỗi và các cách giải thích không theo Kinh Thánh. Rõ ràng từ mạch văn rằng căn bệnh được nói đến là một căn bệnh đe dọa đến mạng sống, vì từ “cứu” trong câu 15 có nói đến, không phải là sự cứu rỗi về thuộc linh, nhưng là sự cứu rỗi về thuộc thể, tức là, người đó sẽ được chữa lành (so sánh với “Chúa sẽ đỡ kẻ ấy dậy”). Trong thời đại của chúng ta, khi các trưởng lão cầu nguyện cho một người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư giai đoạn cuối, thì người ấy có lành được không? Còn nếu như các trưởng lão cầu nguyện và xức dầu cho một người đã mất bàn tay hay cánh tay trong một tai nạn thì sao? Cánh tay người đó có phục hồi lại được không? Lại nữa, khao khát có phép lạ chữa lành trong Hội Thánh ngày nay hoàn toàn không hiểu rõ được tại sao việc chữa lành đã xảy ra trong các thời kỳ trong Kinh Thánh: không chỉ để khiến cho mọi người được khỏe mạnh, nhưng là để gây sự chú ý đến giá trị của Lời của Đức Chúa Trời khi được truyền đạt bởi các phái viên của Ngài – một mục đích đã được hoàn thành từ rất lâu.
Tóm tắt
Một đoạn tóm tắt tốt mà xác định rõ ràng mục đích của các phép lạ xuyên suốt Kinh Thánh được nhìn thấy trong một tình huống về quả phụ thành Sa-rép-ta mà Ê-li được sai đến giúp đỡ để sống sót qua nạn đói trong thời cai trị của vua A-háp. Khi căn bệnh nặng của con trai bà đã chấm dứt cuộc đời của nó, Ê-li đã khiến đứa trẻ sống lại từ kẻ chết. Câu nói tiếp theo của bà đã tóm tắt ngắn gọn chức năng của phép lạ: “Bây giờ tôi nhìn biết ông là một người của Đức Chúa Trời, và lời phán của Đức Chúa Trời ở trong miệng ông là thật” (1 Các vua 17:24). Phép lạ đã làm trọn mục đích được định của nó: để xác minh rằng, như một phái viên đích thực của Đức Chúa Trời thực sự duy nhất. Ê-li là một người truyền đạt của Đạo Đức Chúa Trời. Việc phục hồi mạng sống của con trai bà – dù chính sự việc đó là mầu nhiệm và li kỳ – là thứ yếu với sự nhận biết đã được xác thực rằng Ê-li là một người truyền đạt hợp pháp của Đạo của Đức Chúa Trời thực sự duy nhất.
Câu hỏi ôn tập
- Phép lạ đã có chức năng duy nhất nào trong Kinh Thánh?
- Cái gì đã truyền sức mạnh cho một người phát ngôn để thực hiện một phép lạ khiến cho Đức Chúa Trời thực hiện nó?
- Trích dẫn ba đoạn Kinh Thánh mà bày tỏ rằng mục đích của các phép lạ là để gây chú ý đến các lời nói của người phát ngôn như Lời của Đức Chúa Trời.
- Thuật ngữ nào dùng để miêu tả những gì các phép lạ đã làm cho sự dạy dỗ của những người truyền đạt của Đức Chúa Trời?
- Ni-cô-đem đã dựa vào cái gì để có được niềm tin chắc chắn rằng lời tuyên bố của Đức Chúa Jêsus đến từ Đức Chúa Trời là thật? Trích dẫn câu Kinh Thánh.
- Trình bày quá trình làm sáng tỏ mục đích của các phép lạ khi chúng liên quan đến cả Đạo và đức tin.
- Giải thích quá trình này đã hoạt động như thế nào đối với thống đốc Rô-ma Sê-giút Phau-lút, và trích câu Kinh Thánh.
Các mục đích khác: Siêu thuộc linh?
- Trích hai đoạn Kinh Thánh thêm vào từ biểu đồ miêu tả các phép lạ đã xác thực Đạo như thế nào.
- Năng lực nói tiếng lạ ngụ ý gì về trạng thái thuộc linh của người nói tiếng lạ?
Các mục đích khác: Để được khỏe mạnh?
- Khi biết được mục đích của các phép lạ đã được trình bày từ Kinh Thánh, cũng như mục đích mà trái đất được tạo ra mà đã được trình bày từ Kinh Thánh, thì các phép lạ không được định để làm gì?
- Kinh Thánh cảnh báo các tín đồ là họ có thể mong đợi nhận được cái gì? Trích dẫn một câu Kinh Thánh.
- Nếu như mục đích của các phép lạ là để giải thoát các tín đồ khỏi đau yếu, bệnh tật, và sự đau khổ, thì kết quả sẽ là gì?
- Có bao nhiêu phần trăm những người sống ở Palestine được chữa lành bởi Đức Chúa Jêsus?
- Kết luận gì rút ra từ sự thật rằng (1) Đức Chúa Trời yêu thương mọi người, nhưng (2) Đức Chúa Trời đã không chữa lành mọi người?
Thiếu đức tin?
- Nhiều người đã không được đòi hỏi có cái gì để có thể nhận được một phép lạ?
- Nêu tên hai nhân vật trong Tân Ước mà có thể đã không có đức tin trước khi nhận được một phép lạ.
- Người nào đã bày tỏ sự không tin chắc về nhận dạng của Đức Chúa Jêsus nhưng lại được chữa lành? Trích dẫn chương nào.
- Cho biết hai tín đồ trung tín mà cần được chữa lành khỏi sự đau ốm của họ, nhưng họ đã không nhận được sự chữa lành phép lạ.
- Các tấm gương này chứng tỏ rằng đức tin cá nhân là không bắt buộc để có thể được sự ban cho nào?
- Khi Đức Chúa Jêsus xác thực thông điệp của Ngài bằng việc thực hiện một phép lạ, nếu những người đã nhìn thấy phép lạ mà từ chối chấp nhận thông điệp đã được xác nhận của Ngài, thì việc làm thêm nào sẽ là dư thừa?
- Hai câu Kinh Thánh nào trong sách Giăng chứng minh rằng dấu kỳ/phép lạ có trước đức tin?
- Nói tiếng lạ được định để thuyết phục ai chú ý vào thông điệp?
Về các trưởng lão thì sao?
- Các trưởng lão thế kỷ thứ nhất có thể chữa lành người khác như thế nào?
- Thuật ngữ “cứu” ám chỉ đến điều gì trong Gia-cơ 5:15?
Tóm tắt
- Kết luận gì từ quá phụ thành Sa-rép-ta đưa ra khi Ê-li khiến con bà sống lại?
Chương 4: Thời Gian Tồn Tại Của Các Phép Lạ
Các nhận xét này đưa chúng ta đến một nhận biết thứ ba hết sức quan trọng: một khi Đức Chúa Trời đã bày tỏ toàn bộ thông tin mà Ngài muốn truyền cho loài người (sau này được chứa trong thứ mà chúng ta gọi là Tân Ước), thì nhu cầu cho việc xác nhận bằng phép lạ của Đạo được nói ra đã đi đến kết thúc. Bây giờ, mọi người có thể ngồi xuống với Tân Ước, Lời được viết xuống của Đức Chúa Trời, và, với sự học tập nghiêm túc và chăm chỉ, kết luận được rằng nó là Lời của Đức Chúa Trời dựa trên các thuộc tính bên trong của sự hà hơi của nó. Nhiều nhà giảng đạo và thầy dạy đạo ngày nay đã không hiểu được yếu tố theo Kinh Thánh cốt yếu này. Họ không thể đối diện với sự thật rằng chúng ta hoàn toàn không còn cần đến phép lạ nữa. Vì mục đích của các phép lạ đã đạt được, chính các phép lạ đã chấm dứt. Tôi lặp lại: Kinh Thánh dạy rằng các phép lạ đã không còn cần thiết nữa. Chúng ta có mọi thứ cần thiết để dùng đến trong đời này, để làm hài lòng Đức Chúa Trời, và để sinh tồn một cách thuộc linh (2 Phi-e-rơ 1:3). Sự trưởng thành thuộc linh giờ đây ở trong sự nắm bắt của mỗi cá nhân mà chọn tiếp cận phương cách để trưởng thành: Lời được viết xuống của Đức Chúa Trời. Để khẳng định rằng chúng ta cần phép lạ ngày nay là làm suy yếu, là ném sự phỉ báng lên Lời được viết xuống của Đức Chúa Trời toàn năng (so sánh 1 Cô-rinh-tô 1:22; 2 Ti-mô-thê 3:16-17).
Hội Thánh tại thành Cô-rinh-tô
Sự đề cập chi tiết nhất về hiện tượng phép lạ trong Tân Ước, bao gồm nói tiếng lạ, chữa lành, và nói tiên tri, là 1 Cô-rinh-tô 12, 13, và 14. Ba chương này được viết cho các tín đồ tại thành Cô-rinh-tô bởi vì các phép lạ đã bị lạm dụng và dùng sai cách. Chương 12 định nghĩa về các phép lạ. Chương 13 nói đến thời gian tồn tại của chúng. Chương 14 giải thích khuynh hướng của chúng. Trong 1 Cô-rinh-tô 12, Phao-lô tranh luận rằng thân thể (Hội Thánh) nên hoạt động một cách hài hòa bằng việc sử dụng các sự ban cho phép lạ một cách thích hợp. Trong 1 Cô-rinh-tô 13, Phao-lô tranh luận rằng tình yêu thương là một đặc tính xuất sắc hơn nhiều so với các sự ban cho phép lạ. Cuối cùng, các sự ban cho phép lạ (tức là, nói tiên tri, nói tiếng lạ, sự hiểu biết siêu nhiên, v.v) sẽ không còn nữa, chấm dứt, biến mất đi, và bị dẹp bỏ (18). Các sự ban cho phép lạ này được định trong mạch văn với sự diễn đạt “chưa trọn vẹn” (13:9-10,12). Sự “chưa trọn vẹn,” hay các phép lạ, sẽ chấm dứt và bị bỏ đi khi “sự trọn lành” đã đến. Nhưng “sự trọn lành” này ám chỉ đến cái gì?
Từ Gờ-réc được dịch cho “sự trọn lành” là teleios. Thuật ngữ không nói đến “sự trọn lành” theo nghĩa đặc trưng được hiểu bởi đọc giả tiếng Anh phổ thông đương thời, tức là, sự vô tội. Tiếp nối khái niệm không hoàn hảo này, một vài người đã kết luận rằng “sự trọn lành” ám chỉ đến Đức Chúa Jêsus – vì Ngài là Đấng duy nhất trọn lành, tức là, vô tội. Các cách giải thích khác áp dụng “sự trọn lành” cho thiên đàng (nơi trọn lành duy nhất mà không có tội lỗi và sự không hoàn hảo), hay sự trưởng thành của tín đồ và tình yêu thương trọn lành (tình trạng hay phẩm chất thuộc linh hoàn hảo). Nhưng, trong mạch văn, Phao-lô đang không đối chiếu với các phẩm chất hay nơi chốn. “Sự trọn lành” được đặt để, không phải trong sự đối chiếu với tội lỗi hay sự không trọn lành về đạo đức, nhưng là với thứ gọi là “chưa trọn vẹn,” tức là, một phần hoặc chưa hoàn thành (19). Ông đang đối chiếu với số lượng, tức là, những thứ mà ko hoàn thiện hoặc chưa xong (đặc biệt được biết như là sự ban cho các phép lạ) với thứ mà sẽ là hoàn hảo hay hoàn thiện (Lời được bày tỏ hoàn toàn của Đức Chúa Trời).
Tính không chính xác của các cách giải thích này được nhìn thấy rõ hơn trong sự định nghĩa tiếng Gờ-réc của teleios. Từ này không phải nói đến sự hoàn hảo về đạo đức hay vô tội, nhưng là “sự toàn bộ,” “tất cả,” “hoàn thiện,” “không có gì thiếu sót,” “kết thúc, hoàn thành, không còn thiếu gì để hoàn thành” (20). Khi nói đến con người hay động vật, teleios nói đến sự trưởng thành, thành nhân, và phát triển đầy đủ (ví dụ, 1 Cô-rinh-tô 14:20) (21). Từ này được sử dụng ở hình thức trung tính (22), Phao-lô đang nói đến một thứ gì đó, không phải con người, một thứ gì đó mà khi nó đã hoàn thiện hay trọn vẹn, thì sẽ thay thế cho thứ không hoàn thiện hay không trọn vẹn, tức là, các sự ban cho phép lạ – mà rõ ràng chỉ có tầm quan trọng nhất thời mà thôi. Bình luận về việc bãi bỏ các sự ban cho phép lạ của việc nói tiên tri và sự nhận biết siêu nhiên (được nói đến trong câu 8 và 9), học giả tiếng Gờ-réc W.R. Nicoll đã nhận xét rằng “các sức hút quần chúng này chỉ là một phần về phạm vi và vì vậy chúng chỉ là nhất thời: các mảnh vỡ nhường chỗ cho sự hoàn thiện” (23). Kenneth Wuest đồng tình rằng: “Trong 1 Cô-rinh-tô 13:10, từ đó có nghĩa là ‘hoàn thiện,’ và nó trái ngược với những thứ mà không hoàn thiện” (24). Trong khi Gia-cơ đã dùng thuật ngữ teleios để nói đến tính Toàn Diện của Lời của Đức Chúa Trời trong khả năng của nó để đạt được mọi thứ mà nó được định để làm (Gia-cơ 1:25), nhà chú giải bị ép buộc kết luận rằng cách sử dụng của Phao-lô cho “sự trọn vẹn” nói đến sự bày tỏ đã được hoàn thành hay về các sách Tân Ước đã được bày tỏ toàn bộ (25). Sự bày tỏ ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ thông qua những người phát ngôn mà đã được hà hơi đã được hoàn thành toàn bộ khi cuốn sách cuối cùng của Tân Ước, sách Khải Huyền, được viết bởi Giăng vào trước năm 100 SCN.
Phao-lô đã đưa ra một minh họa hữu ích để làm rõ luận điểm của ông. Khi Hội Thánh chỉ có được các mảnh ghép ý muốn của Đức Chúa Trời, như đã bày tỏ qua các sự ban cho phép lạ rải rác và việc sản xuất tuần tự và sự lưu hành của các tài liệu được viết xuống từ các tác giả được hà hơi của Tân Ước trong vòng khoảng từ năm 57 SCN đến 95 SCN, thì đó là không thể để đạt được sự trưởng thành thuộc linh hoàn toàn. Vì vậy nó giống như là còn con trẻ (13:11). Nó thiếu mất các yếu tố thiết lập cần thiết để đạt được sự trưởng thành về thuộc linh. Tuy nhiên, khi sự trọn vẹn của ý muốn của Đức Chúa Trời, mà đã trở thành Tân Ước, đã được bày tỏ xong, thì Hội Thánh đã có các phương tiện sẵn có để trở thành “thành-nhân” (13:11). Một khi Hội Thánh có thể chạm được tất cả Lời được viết xuống của Đức Chúa Trời, thì các phương cách mà bởi đó Đạo được ban xuống (tức là, các sự ban cho phép lạ) sẽ là lỗi thời, vô dụng, và vì vậy bị “bỏ đi” (13:11). Lưu ý trong minh họa này, Phao-lô đã liên kết các phép lạ với “những điều thuộc về con trẻ” (13:11). Nói cách khác, các phép lạ là các núm giả thuộc linh mà cần thiết trong khi Kinh Thánh đang trong trạng thái trẻ sơ sinh. Giờ thì Hội Thánh đã chạm được đến “mọi lẽ thật” (Giăng 16:13), việc nói tiếng lạ và dùng các sự nâng cao phép lạ khác trong Hội Thánh ngày nay giống với việc một người nam hay nữ trưởng thành mà vẫn còn đang ngậm một cái núm giả vậy!
Sau đó Phao-lô lại minh họa thêm luận điểm của ông qua việc đối chiếu giữa sự cần thiết đầu tiên của các phép lạ để bày tỏ và khẳng định Lời của Đức Chúa Trời, và ý tưởng của việc đang nhìn qua một tấm gương mờ (26). Một khi toàn bộ nội dung của Tân Ước đã được bày tỏ, các sự ban cho phép lạ sẽ không còn cần thiết nữa. Việc có được tất cả Lời được bày tỏ của Đức Chúa Trời sẽ giúp cho một người có thể đối diện trực tiếp với Đạo thay vì “nhìn qua một tấm gương mờ,” tức là, chỉ chạm được một phần thôi. Phao-lô đã viết rằng (13:12): “Ngày nay tôi chưa biết hết [tức là, sự hiểu biết của tôi về sự bày tỏ của Đức Chúa Trời là chưa hoàn thiện và chỉ một phần thôi do cách tiếp cận bị giới hạn thông qua yếu tố phép lạ – DM], đến bây giờ [tức là, khi tất cả Lời của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ – DM] tôi sẽ biết như Chúa đã biết tôi vậy” [tức là, tôi sẽ được làm cho biết và dạy dỗ toàn bộ – DM.] (27)
Hội Thánh ở thành Ê-phê-sô
Phao-lô cũng cơ bản đưa ra luận điểm tương tự với người Ê-phê-sô như ông đã làm với người Cô-rinh-tô. Các phép lạ – “các sự ban cho” được ban tặng bởi Đấng Christ (Ê-phê-sô 4:8) – sẽ tồn tại “cho đến chừng … đức tin và … sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 4:13) đã được bày tỏ hoàn toàn. Hai nhận xét quan trọng rút ra được từ câu Kinh Thánh sau cùng này. Thứ nhất, từ được dịch thành “cho đến khi” là mechri, và được sử dụng như một liên từ để chỉ đến terminus ad quem [điểm hoàn thành] của các chức năng phép lạ (được nhắc đến trong câu 11) mà được truyền cho như các sự ban cho bởi Đấng Christ (28). Nicoll đã nhận xét rằng: “Câu nói về đối tượng chính của các sự ban cho của Đấng Christ và các sự chu cấp được đưa ra bởi Ngài cho sự làm trọn của nó giờ đây được tiếp nối bởi một câu nói về thời điểm mà các sự chu cấp và sự hầu việc kèm theo phải kéo dài” (29). Phao-lô đã “nói rõ thời điểm mà sự hầu việc này và sự ban truyền của các sự ban cho phải kéo dài cho đến lúc đó” (30).
Thứ hai, cụm từ “sự hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời” thường bị hiểu sai thành nói đến sự thống nhất cuối cùng của tất cả các tín đồ trong Đấng Christ (trong tín lý, niềm tin, hay việc làm). Nhưng kết luận này không thể chính xác được. Cả Kinh Thánh và sự hiểu biết thông thường đều loại bỏ một ý niệm như vậy. Sự hiệp nhất hoàn toàn bên trong thế giới tín đồ Đấng Christ sẽ không bao giờ xảy ra. Những người mà tự xưng là một thành viên trong Đạo Đấng Christ đang ở trong tình trạng vô vọng của sự không thống nhất. Công giáo và các giáo phái Tin Lành đã gãy thành các bè phái thừa thãi và các nhóm phân lập – chính xác là hàng ngàn sự phân chia và sự bất đồng. Bên cạnh đó, các giáo phái Tin Lành không hề tồn tại trong thời kỳ Tân Ước, và Tân Ước chưa bao giờ tán thành hay cho phép bất cứ “sự biểu lộ” nào của Đạo Đấng Christ. Hay sự hiệp một cũng không thể đạt được thậm chí ở trong vòng các Hội Thánh của Đấng Christ. Các Hội Thánh thể kỷ đầu tiên đã không đạt được sự hiệp một nội bộ hoàn toàn. Hay có các Hội Thánh sau thế kỷ thứ nhất có thể đạt được nó. Thậm chí cho đến Sự Đến thứ hai và Ngày Phán Xét, thì thế gian và Hội Thánh sẽ đứng trong một tình trạng của sự chia rẽ.
Trái ngược với cách giải thích này, lưu ý cách sử dụng của các tiêu đề trong cụm từ “đức tin” và “sự hiểu biết.” Về bối cảnh thì Phao-lô đang nói đến hệ thống của đức tin được ám chỉ rất thường xuyên trong Tân Ước. Giu-đe khuyên nài các đọc giả của ông “vì đạo mà tranh chiến” (Giu-đe 3). Phao-lô đã nói đến chính mình khi ông trích lời của những người khác khi nói rằng, “Người đã bắt bớ chúng ta ngày trước, nay đương truyền đạo mà lúc bấy giờ người cố sức phá” (Ga-la-ti 1:23). Lu-ca đã báo cáo rằng “có rất nhiều thầy tế lễ vâng theo đạo” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 6:7). Ê-ly-ma đã tìm cách để “làm cho quan trấn thủ không tin” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 13:8). Các môn đồ đầu tiên được khích lệ phải “bền đỗ trong đức tin” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 14:22). Qua các chuyến thăm xứ Lít-trơ và Y-cô-ni lặp lại của Phao-lô, “các Hội Thánh được vững vàng trong đức tin” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 16:5).
Vậy “đức tin” và “sự hiểu biết” nói đến toàn bộ thông tin đã hoàn thiện mà thiết lập nên Đạo Đấng Christ. Thực ra, tám câu Kinh Thánh đầu (Ê-phê-sô 4:5), Phao-lô đã nói đến “một đức tin” này rồi như là sự tóm tắt và tổng hợp về tín lý Đạo Đấng Christ – giờ đây đã đặt trong nhà kho Tân Ước. Một chú giải chân thật được rút ra để kết luận đó là một khi các lời dạy dỗ của Đạo Đấng Christ theo Tân Ước đã được bày tỏ trên đất, thì yếu tố phép lạ đã không còn cần thiết nữa. Các phép lạ chỉ tồn tại cho đến khi “Đạo” được bày tỏ hoàn toàn. Chúng đã phục vụ mục đích của mình, theo cùng một cách mà giàn giáo chỉ hữu dụng khi một tòa nhà còn đang xây dựng. Tuy nhiên, một khi việc xây dựng đã hoàn thành, thì giàn giáo bị dời đi và vứt bỏ như các đồ vật không cần thiết và thừa thãi. Biểu đồ ở trang tiếp theo cho thấy Phao-lô nhấn mạnh tính chất nhất thời của các phép lạ với Hội Thánh thành Ê-phê-sô cũng như ông đã làm với Hội Thánh thành Cô-rinh-tô.
TÍNH CHẤT TẠM THỜI CỦA CÁC PHÉP LẠ TRONG SÁCH CÔ-RINH-TÔ VÀ Ê-PHÊ-SÔ
1 Cô-rinh-tô 12-14 Ê-phê-sô 4
“các sự ban cho” (12:4,9,28,30,31) “các sự ban cho” (4:7-8)
“trong thân không có sự phân rẽ (12:25) “ràng buộc vững bền” (4:16)
“một thân, nhiều chi thể” (12:12,14,18-20,27) “cả thân thể, các phần” (4:16)
“các sứ đồ, các tiên tri, các thầy dạy đạo” (12:29) “sứ đồ, tiên tri, thầy giảng Tin Lành” (4:11)
“các lời tiên tri, sự thông biết” (13:8) “tiên tri, thầy giảng Tin Lành, mục sư” (4:11)
“hết, thôi, bị bỏ, bị bỏ” (13:8-10) “cho đến chừng chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin” (4:13)
“khi sự trọn lành đến” (13:10) “sự hiểu biết về Đấng Christ” (4:13)
“sẽ biết” (13:12) “sự hiểu biết về Đấng Christ” (4:13)
“con trẻ” (13:11) “trẻ con” (4:14)
“thành nhân” (13:11) “bậc thành nhân” (4:13)
“bèn bỏ những điều thuộc về con trẻ” (13:11) “lớn lên” (4:15)
“tình yêu thương” (13:1-8) “yêu thương” (4:15-16)
“sự khai trí của Hội Thánh” (14:3-5,12,17) “gây dựng thân thể của Đấng Christ” (4:12)
Câu hỏi ôn tập
- Điều gì thúc đẩy việc kết thúc nhu cầu cho việc xác nhận Đạo bằng phép lạ?
- Các tín đồ và Hội Thánh hiện nay hoàn toàn không cần đến cái gì?
- Trích dẫn một câu Kinh Thánh mà chỉ ra rằng chúng ta có mọi thứ mà chúng ta cần để sống sót một cách thuộc linh.
- Cái gì là phương cách duy nhất để trưởng thành về thuộc linh?
- Đặc tính nào của Lời của Đức Chúa Trời bị làm cho suy yếu khi ai đó cố khẳng định rằng cần phép lạ ngày nay? Trích một đoạn Kinh Thánh.
Hội Thánh ở thành Cô-rinh-tô
- Bốn thuật ngữ/cách diễn đạt nào được sử dụng để đoán trước được số phận của các sự ban cho phép lạ? Trích câu Kinh Thánh.
- Các diễn đạt nào được sử dụng để miêu tả địa vị của các sự ban cho phép lạ?
- Cái gì sẽ đến mà gây ra sự chấm dứt của phép lạ?
- Kể tên ba điều mà thuật ngữ “trọn vẹn” không ám chỉ đến.
- Cái gì mà Phao-lô xem như là không hoàn thiện và chỉ được một phần thôi?
- Cái gì mà Phao-lô xem như là hoàn thiện?
- Định nghĩa “teleios.”
- Phao-lô đã so sánh Hội Thánh trong thời kỳ của các phép lạ với cái gì?
- Phao-lô đã so sánh Hội Thánh với cái gì khi mà tất cả Lời của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ?
- Phao-lô đã liên kết các phép lạ trong 1 Cô-rinh-tô 13:11 với cái gì?
- Sự so sánh/minh họa thêm nào mà Phao-lô nêu ra để đối chiếu thời kỳ của phép lạ với tính tạm thời của các phép lạ?
Hội Thánh tại thành Ê-phê-sô
- Tầm quan trọng của “cho đến chừng” trong Ê-phê-sô 4:13 là gì?
- “Đức tin” và “sự hiểu biết” không ám chỉ đến cái gì trong Ê-phê-sô 4:13?
- “Đức tin” và “sự hiểu biết” ám chỉ đến cái gì trong Ê-phê-sô 4:13? Trích dẫn hai câu Kinh Thánh chứng thực.
- “Một đức tin” trong Ê-phê-sô 4:5 ám chỉ đến cái gì?
Chương 5: Trình Bày Về Các Phép Lạ
Việc sử dụng thực sự của các sự ban cho phép lạ bởi các tín đồ Đấng Christ thế kỷ thứ nhất được nhắc đến trong 1 Cô-rinh-tô 14. Trong bối cảnh này, Phao-lô đã sử dụng thuật ngữ “các sự ban cho” (charismata, từ charisma) theo một nghĩa chuyên môn (như pneumatika) để nói đến các năng lực kỳ diệu, được định nghĩa bởi Thayer “các sức mạnh phi thường … bởi Đức Thánh Linh” (31). Hans Conzelmann đã trình bày rằng thuật ngữ chỉ ra rằng “các việc làm là siêu nhiên” và mang “hiệu ứng siêu nhiên” (32). Từ này cũng được sử dụng như vậy trong các thư tín của Phao-lô, 10 trong số 16 sự xuất hiện của nó (Rô-ma 1:11; 12:6; 1 Cô-rinh-tô 1:7; 12:4,9,28,30,31; 1 Ti-mô-thê 4:14; 2 Ti-mô-thê 1:6). Sự xuất hiện duy nhất khác của từ này trong Tân Ước là cách sử dụng so sánh của Phi-e-rơ, tức là, để ám chỉ đến năng lực siêu nhiên (1 Phi-e-rơ 4:10) (33). Trong bối cảnh chương 14 của sách Cô-rinh-tô, sự chú ý đặc biệt được tạo ra bởi Phao-lô dành cho hai ơn ban cho phép lạ riêng biệt là: nói tiên tri và nói tiếng lạ. Một vài điểm có liên quan khác xuất hiện mà nói về sự ban cho nói tiếng lạ để giúp chúng ta hiểu được cả về bản chất tạm thời của các phép lạ cũng như tính không thích hợp của chúng với nhu cầu hiện nay và hoạt động của Đạo Đấng Christ theo Tân Ước.
Nói tiếng lạ
Trước tiên, trong 1 Cô-rinh-tô 14, thuật ngữ “lạ” (về ngôn ngữ) được in nghiêng trong bản Kinh Thánh KJV bởi vì nó không xuất hiện trong văn Gờ-réc gốc (14:2,4,13-14,19,27). Bằng việc lồng từ này vào trong bản dịch của họ, các dịch giả đang cố gắng giúp đỡ các đọc giả tiếng Anh. Không nghi ngờ gì là họ đang mong truyền đạt ý tưởng rằng các ngôn ngữ là Phao-lô đã nói đến là xa lạ đối với người nói, tức là, người nói chưa từng tham gia buổi huấn luyện nào để học hay biết về ngôn ngữ đó. Người đó đã nói ngôn ngữ đó một cách hoàn hảo qua việc truyền sức mạnh phép lạ của Đức Chúa Trời. “Lạ” chắc chắn không được định để truyền đạt ý tưởng rằng các ngôn ngữ là xa lạ với toàn thể loài người, và vì vậy chúng là các thứ tiếng không có trên trái đất, không thuộc về con người.
Thứ hai, các sự kiện đã được nói đến lúc bắt đầu Đạo Đấng Christ (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2) đã đặt ra tiền lệ để hiểu được bản chất của việc nói tiếng lạ. Việc nói tiếng lạ thế kỷ đầu tiên không có ý gì khác với năng lực nói một ngôn ngữ người nước ngoài – mà người nói chưa từng học qua. Sự cần thiết của dạng xác nhận thuộc thánh này qua phép lạ là tự chứng minh từ thực tế rằng những người nghe vào thời điểm đó bao gồm những người đến từ ít nhất 15 đất nước hay các vùng lãnh thổ khác (câu 9-11). Nhận ra được các sứ đồ là người Ga-li-lê, họ đã rất ngạc nhiên bởi năng lực nói các thứ tiếng ngoại quốc của họ như vậy. “Vậy thì, sao chúng ta nghe ai nấy đều nói tiếng riêng của xứ chúng ta?” (câu 8). Thực tế thì, Lu-ca đã sử dụng các thuật ngữ sau để miêu tả về sự kinh ngạc của đám đông: “sững sờ,” “lấy làm lạ,” “sợ hãi,” và “không biết nghĩ làm sao” (câu 6,7,12). Họ sẽ không bị làm cho ngạc nhiên bởi việc nói lắp bắp một cách vô ý thức và vô nghĩa. Họ đã ngạc nhiên bởi vì họ đã nhận ra rằng những người Ga-li-lê không được giáo dục này có năng lực phép lạ để nói các thứ tiếng ngôn ngữ ngoại quốc. Học giả, nhà phê bình văn bản, và nhà thần học người Anh thế kỷ 19, Henry Alford, đã tóm tắt các sự kiện này như sau:
Không thể có nghi vấn nào trong tâm trí không có thành kiến rằng, sự kiện mà câu chuyện này đã đề ra cho chúng ta, đó là các môn đồ bắt đầu nói các thứ tiếng khác nhau, tức là các ngôn ngữ của các quốc gia đã được liệt kê ở dưới, và có thể có các ngôn ngữ khác nữa. Tất cả các nỗ lực để né tránh điều này đều liên quan đến việc ép buộc mạch văn nào, hay một số cách giải thích xa vời và không xác thực (34).
Học viên không thành kiến phải kết luận rằng những gì được miêu tả một cách chi tiết trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2 là cùng một hiện tượng mà được ám chỉ đến trong 1 Cô-rinh-tô 14. Tất cả việc nói tiếng lạ trong Kinh Thánh bao gồm các ngôn ngữ loài người được biết đến (quen thuộc với chính người nghe mà được hướng đến) mà là xa lạ (tức là, chưa được học) bởi người đang nói thứ tiếng đó.
Thứ ba, đơn giản là không hề có sự việc như một “lời nói trong cơn mê” trong Tân Ước. Việc nói tiếng lạ của 1 Cô-rinh-tô 14 nói đến ngôn ngữ loài người – không phải là thứ tiếng vô nghĩa không rõ ràng. Việc đọc một chương đơn giản cho thấy rằng các ngôn ngữ loài người được biết đến là đang được cân nhắc. Ví dụ, Phao-lô so sánh việc nói tiếng lạ với việc dùng kèn trong chiến tranh (câu 8). Nếu như kèn thổi tiếng ồn ào không có ý nghĩa, thì quân đội sẽ rơi vào thế bối rối. Đó là cấp bách để kèn thổi lên các nốt và âm thích hợp, tức là, “ngôn ngữ” âm nhạc có ý nghĩa, để cho quân đội hiểu được những gì đang được truyền tải (có nên tấn công, tham gia hay rút lui)(35). Âm thanh mà không có ý nghĩa sẽ không truyền tải được chính mục đích của việc nói tiếng lạ. Phao-lô sau đó đã trình bày rằng:
Anh em cũng vậy, nếu dùng lưỡi nói chẳng rõ ràng cho người ta nghe, thì làm sao họ được biết lời anh em nói? Vì anh em nói bông lông. Trong thế gian này có lắm thứ tiếng, mỗi thứ đều có nghĩa. Vậy nếu tôi chẳng biết nghĩa của tiếng nói đó, thì người nói tiếng đó sẽ coi tôi là mọi, và tôi cũng coi họ là mọi nữa(1 Cô-rinh-tô 14:9-11).
Rõ ràng là Phao-lô đang ám chỉ đến ngôn ngữ loài người – những thứ tiếng mà có tồn tại “trong thế gian.” Ông đã mường tượng nên một viễn cảnh nơi có hai người mà đang nói các thứ tiếng khác nhau, cố gắng để giao tiếp với nhau. Nếu một người nói tiếng Tây Ban Nha và người khác thì nói tiếng Đức, khi họ đang cố gắng nói chuyện với nhau, thì người này sẽ là một “người ngoại” với người kia. Không có ai hiểu được những gì mà người kia đang cố gắng nói. Tuy nhiên, yêu cầu cho việc nói tiếng lạ, tức là, năng lực để nói ngôn ngữ loài người mà người nói chưa hề biết đến nhưng lại quen thuộc với người nghe.
Cuối chương này, Phao-lô đã trích Ê-sai 28:11-12 nơi là Đức Chúa Trời đã cảnh báo dân Y-sơ-ra-ên về việc mà họ đã không nghe lời Ngài (qua các lời được nói ra bởi các tiên tri của Ngài) có nghĩa là Ngài sẽ sớm giao tiếp với họ qua ngôn ngữ của những kẻ chinh phục người A-si – những kẻ chinh phục mà Đức Chúa Trời đã sai đến để nghịch cùng họ. Cách minh họa mạnh mẽ này ngụ ý sự thật rằng trong cả Ê-sai và 1 Cô-rinh-tô, thì các ngôn ngữ của loài người là được nghĩ đến. Sau khi trích sách Ê-sai, Phao-lô đã rút ra kết luận rằng việc nói tiếng lạ được Đức Chúa Trời định để nhằm vào những người không tin. Tại sao ư? Bởi vì nó sẽ chứng minh cho những người không tin rằng người đang nói tiếng lạ, người mà đã không có khả năng nói thứ tiếng đó, đã được trao sức mạnh bởi Đức Chúa Trời để nói được ngôn ngữ của người không tin. Người không tin sẽ nhận ra nguồn gốc thánh của khả năng nói tiếng lạ của người này, và bởi đó sẽ tự nguyện xem những lời được nói ra đó như là những chỉ dẫn của Đức Chúa Trời. Như đã được trình bày lúc đầu, các phép lạ phục vụ mục đích khẳng định Đạo. Lại nữa, một kiểm chứng của 1 Cô-rinh-tô 14 đưa ra kết quả là không hề có lý giải theo ngữ cảnh nào để rút ra kết luận rằng Kinh Thánh có ám chỉ, chứ chưa nói đến việc ghi rõ ràng, về khái niệm của lời nói “trong cơn mê.”
Các thứ tiếng của thiên sứ?
Nhưng còn về ám chỉ trước đó của Phao-lô về “các thứ tiếng của thiên sứ” trong 1 Cô-rinh-tô 13:1 thì sao?
Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chõa vang tiếng.
Liệu sự ám chỉ này sẽ không chứng minh được việc nói tiếng lạ có thể liên quan đến các thứ tiếng khác các ngôn ngữ được loài người nói không? Trước tiên, hãy xem xét vai trò, mục đích, và hoạt động của các thiên sứ được miêu tả trong Kinh Thánh. Từ “thiên sứ” (tiếng Gờ-réc – angelos; Hê-bơ-rơ – malak) đơn giản có nghĩa “người truyền tin” – người mà “nói và làm thay cho người đã gửi mình đi”(36). Nó không chỉ có nghĩa là “sai đi,” nhưng hơn thế là “gửi đi một thông điệp”(37). Đúng thật là các thiên sứ cả ở trong Cựu Ước và Tân Ước thực hiện rất nhiều việc ngoài truyền tin, bao gồm: thờ phượng Đức Chúa Trời (Khải Huyền 5:11-12); an ủi, giúp đỡ, và bảo vệ (Đa-ni-ên 6:22; Ma-thi-ơ 4:11; Lu-ca 22:43; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 5:19; Hê-bơ-rơ 1:14); thi hành phán xét và thực thi hình phạt và xử tử (ví dụ, Ma-thi-ơ 13:49; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 12:23). Nhưng nó vẫn đúng để nói rằng ý nghĩa của thuật ngữ “thiên sứ” là một người truyền tin – người mà truyền đạt một thông điệp. Vì vậy, vai trò chung của họ trong kế hoạch vạn vật của Đức Chúa Trời là làm việc như những người đưa tin đến loài người (38). Bởi đó, các thiên sứ luôn luôn được miêu tả trong Kinh Thánh như đang giao tiếp bằng ngôn ngữ loài người.
Thứ hai, có lý do hợp lý nào cho việc loài người nói một thứ tiếng được cho là của “thiên sứ” mà khác biệt với ngôn ngữ loài người không? Ích lợi thuộc linh sẽ là gì? Kinh Thánh chắc chắn không nói đến việc loài người giao tiếp với các thiên sứ theo một ngôn ngữ như vậy, hay không cần thiết để một thiên sứ giao tiếp với một con người bằng một ngôn ngữ không có trên thế gian. Toàn bộ luận điểm của 1 Cô-rinh-tô 12-13 là để nhấn mạnh nhu cầu để làm việc trong Hội Thánh theo các cách mà đầy ý nghĩa và dễ hiểu. Vì Đức Chúa Trời, bởi chính bản chất của Ngài, sẽ không bao giờ làm bất cứ điều gì mà dư thừa, không cần thiết, hay nông nổi, tức là Ngài sẽ không ban cho một con người khả năng để nói một ngôn ngữ không phải của loài người. Năng lực sẽ phục vụ không mục đích. Kinh Thánh đơn giản không đưa ra bất cứ lý do hợp lý hay chứng minh nào cho việc nhận dạng “các thứ tiếng của thiên sứ” trong 1 Cô-rinh-tô 13:1 với các ngôn ngữ trên trời, thế giới khác, không có trên thế gian nào đó.
Thứ ba, nếu, quả thật, “các thứ tiếng của thiên sứ” ám chỉ đến các ngôn ngữ loài người được biết đến, thì ý của Phao-lô là gì? Vì các thiên sứ là những người truyền tin được Đức Chúa Trời chọn, họ tự nhiên sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình theo một cách mà Đức Chúa Trời sẽ được bày tỏ như Ngài muốn. Các phái viên thiên sứ của chính Đức Chúa Trời sẽ làm theo cùng với trách nhiệm của họ theo một cách và phương thức mà họ được Đức Chúa Trời chấp thuận. Nói cách khác, các thiên sứ sẽ đọc rõ ràng thông điệp của Đức Chúa Trời tốt như nó có thể được diễn tả (tức là, một cách hoàn hảo). Khi Đức Chúa Trời hà hơi những người thường để truyền đạt ý muốn của Ngài, Ngài đã hợp nhất bối cảnh giáo dục của chính họ, phong cách riêng, từ vựng trong cách nói chuyện của họ và các tác phẩm văn học. Không còn cần đến thiên sứ nữa. Các cách giao tiếp của họ không thể chạm được con người. Các thông báo của họ sẽ là biểu hiện hoàn hảo và đỉnh cao của kỹ năng hùng biện.
Vậy, có lẽ Phao-lô hoàn toàn không đưa ra một sự trái ngược giữa các ngôn ngữ loài người và phi loài người. Trước khi nói đến “các thứ tiếng của thiên sứ,” ông đã nói đến “các thứ tiếng loài người.” Tại sao Phao-lô lại nói rằng, “Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người”? Sau tất cả, không phải rõ ràng đó là những gì toàn bộ loài người trưởng thành làm sao? Loài người chúng ta nói được ít nhất một ngôn ngữ loài người. Vậy, Phao-lô không phải đang ám chỉ đến năng lực nói được một ngôn ngữ loài người, mà là năng lực nói được tất cả ngôn ngữ loài người. Không có người nói tiếng lạ nào trong Hội Thánh thế kỷ thứ nhất có được năng lực để nói được toàn bộ ngôn ngữ loài người. Thực tế thì, bằng chứng bối cảnh chỉ ra rằng hầu hết những người nói tiếng lạ chắc chắn có năng lực để nói chỉ một ngôn ngữ loài người thôi – mà chính người nói còn không hiểu được – do đó mới cần đến một người thông dịch được hà hơi (1 Cô-rinh-tô 12:30; 14:26-28). Phao-lô có vẻ như có thể nói nhiều ngôn ngữ hơn bất cứ người nào (1 Cô-rinh-tô 14:18). Nếu “các thứ tiếng loài người” ám chỉ đến số lượng ngôn ngữ của loài người (hơn là nói đến năng lực để nói một thứ tiếng loài người), thì “các thứ tiếng của thiên sứ” sẽ không ám chỉ đến khả năng nói được một ngôn ngữ của thiên sứ mà là khả năng nói được các ngôn ngữ loài người theo cách mà các thiên sứ nói.
Vậy, đây sẽ là luận điểm của Phao-lô: thậm chí nếu một người nói tiếng lạ có thể nói được mọi ngôn ngữ loài người được biết đến (giống như thiên sứ), và thậm chí nếu người nói tiếng lạ đó có thể nói được các ngôn ngữ loài người với năng lực, sự thành thạo và hoàn hảo như các sứ giả thiên sứ của Đức Chúa Trời đã nói chúng trong lịch sử – mà không có tình yêu thương, thì năng lực đó sẽ là lãng phí. Với cách hiểu này về mạch văn, Phao-lô không phải đang đối chiếu giữa các ngôn ngữ loài người và phi loài người với nhau. Ông đang bao hàm cả về số lượng (dầu tôi nói được tất cả thứ tiếng loài người) và về chất lượng (nếu tôi có thể nói chúng một cách hoàn hảo) của việc nói tiếng loài người.
Một điểm cuối về vấn đề “các thứ tiếng của thiên sứ” đáng để nhắc đến. Thậm chí nếu cách diễn đạt thực sự ám chỉ đến các thứ tiếng thiên sứ mà phi loài người, thì nó vẫn có nghĩa là những người nói tiếng lạ đó là không có năng lực nói được các thứ tiếng như vậy. Tại sao ư? Phao-lô đang nói theo giả thuyết và ẩn dụ. Không có con người nào (ngoại trừ Đức Chúa Jêsus) có thể nói được tất cả các thứ tiếng của loài người. Vì Phao-lô đang đề ra khả năng là đặt ra một tình huống giả định. Đó là để thổi phồng các sự việc. Vậy ý của Phao-lô là: “Thậm chí nếu tôi có thể nói được tất cả thứ tiếng của loài người – điều mà tôi không thể.” Cũng vậy, không người nào có thể nói được các thứ tiếng của thiên sứ. Vậy ý của Phao-lô là: “thậm chí nếu tôi có thể nói được các thứ tiếng của thiên sứ – điều mà tôi không thể.” Kết luận này được hỗ trợ thêm bởi câu theo sau ám chỉ đến “tiếng thiên sứ.” Ở đó, Phao-lô đã dùng hai sự kiện giả định thêm vào khi ông nói rằng, “Dầu tôi … cùng biết đủ mọi sự mầu nhiệm và mọi sự hiểu biết” và “dầu tôi có cả đức tin đến nỗi dời núi được” (1 Cô-rinh-tô 13:2). Nhưng không có ai trên đất này (trừ Đấng thánh) hiểu được mọi sự mầu nhiệm và sự hiểu biết, hay có đức tin mà theo nghĩa đen có thể dời được núi. Lại nữa, Phao-lô chỉ nói rằng, “dầu tôi có thể làm những điều như thế – điều mà tôi không thể.”
Thứ tư, Phao-lô đã trình bày rất rõ ràng rằng việc nói tiếng lạ là một dấu hiệu đối với những người không tin – không phải với các tín đồ (14:22). Việc nói tiếng lạ phải được thực hiện trước mặt họ, để thuyết phục họ lẽ thật đang được nói ra, tức là, khẳng định Đạo. Việc nói tiếng lạ được thực hiện ngày nay được làm trước sự hiện diện của những người mà đã tin rằng việc nói tiếng lạ là đang diễn ra và, khi một người không tin, người mà hoài nghi tính chân thật của hành động này, xuất hiện trong một buổi nhóm như vậy, lời tuyên bố thường được đưa ra đó là việc nói tiếng lạ không thể xảy ra bởi vì có sự hiện diện của người không tin. Lại một lần nữa, Tân Ước dạy hoàn toàn trái ngược với những người mà tuyên bố có khả năng nói tiếng lạ ngày nay.
Thứ năm, người tiếp nhận của một ơn ban cho phép lạ trong Tân Ước có thể kiểm soát chính mình (14:32). Người đó không bị Đức Thánh Linh áp đảo đến nỗi người đó bắt đầu lẩm bẩm hay lải nhải. Việc nói tiếng lạ ngày nay thường được thực hiện trong một bối cảnh nơi mà những người mà tuyên bố đang thực hiện sự ban cho, đang nói một cách không kiểm soát cùng lúc với những người khác đang làm điều tương tự hay đang làm các việc khác. Hoạt động chồng chéo này là vi phạm trực tiếp đến ba lời răn của Phao-lô: (1) lần lượt từng người một; (2) không có hơn ba người nói tiếng lạ trong mỗi buổi nhóm; và (3) những người nói tiếng lạ phải giữ im lặng nếu như không có người thông dịch (14:27-28).
Lời tuyên bố của nhiều người ngày nay về việc có thể nói được tiếng lạ đơn giản là không hiệp nhất với sự dạy dỗ của Tân Ước. Bất cứ người nào cũng có thể nói lảm nhảm, tạo nên các âm thanh, và tuyên bố là mình đang nói tiếng lạ. Nhưng việc làm như vậy không có dấu hiệu nào ngày nay. Rõ ràng nó là việc làm tương tự mà các tôn giáo dân ngoại đang thực hành qua hàng thế kỷ. Tuy nhiên, trong Tân Ước, không có ai nghi ngờ về tính xác thực của việc nói tiếng lạ. Tại sao? Người nói đang nói một thứ tiếng loài người được biết đến mà có thể được hiểu bởi những người có mặt mà biết thứ tiếng đó và cũng biết được rằng người đang nói đó đã không hề biết gì về ngôn ngữ này trước đây. Như McGarvey đã nhận xét về Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2 rằng: “Các sứ đồ không chỉ nói các thứ tiếng ngoại quốc mà được hiểu bởi những người nghe, người này hiểu tiếng này và người kia hiểu tiếng khác, nhưng sự thật là điều này được thực hiện bởi những người Ga-li-lê, những người mà chỉ biết được ngôn ngữ mẹ đẻ mà thôi, là sự thật duy nhất quan trọng mà khiến cho bài giảng của Phi-e-rơ đạt được sức ảnh hưởng mạnh nhất đến đám đông”(39). Nếu và khi một người tự xưng nói được tiếng lạ ngày nay giải thích rằng chứng minh được tính chân thực của sự ban cho theo Tân Ước đó, thì thông điệp của họ có thể được chấp nhận là đến từ Đức Chúa Trời. Nhưng không có người nào ngày nay có thể chứng minh được tính chân thật của sự ban cho đó.
Câu hỏi ôn tập
Nói tiếng lạ
- Ý nghĩa của một ngôn ngữ “lạ” như được sử dụng trong 1 Cô-rinh-tô 14 là gì?
- Chúng ta tìm thấy việc nói tiếng lạ được miêu tả chi tiết trong chương nào của Tân Ước?
- Tất cả việc nói tiếng lạ trong Tân Ước bao gồm các loại ngôn ngữ nào?
- Phao-lô so sánh việc nói một thứ tiếng loài người mà người nghe không thể hiểu với cái gì?
- Ba từ mà Phao-lô đã dùng trong 1 Cô-rinh-tô 14:10 giải thích việc nói tiếng lạ liên quan đến các ngôn ngữ loài người như phản bác “lời nói trong cơn mê”?
- Đoạn trích Cựu Ước nào mà Phao-lô đã trích dẫn mà ngụ ý sự thật rằng các thứ tiếng loài người là đang được nói đến?
- Việc nói tiếng lạ được Đức Chúa Trời định để hướng người nghe đến cái gì?
Các thứ tiếng của thiên sứ
- Đức Chúa Trời đã định các thiên sứ giao tiếp với ai và bằng thứ tiếng nào?
- Để cho rằng việc nói tiếng lạ không thể được thực hiện khi có mặt người không tin trái ngược với tuyên bố của Phao-lô rằng việc nói tiếng lạ được thực hiện cho ai?
- Ba hướng dẫn nào được Phao-lô nêu ra mà vạch trần tính vô lý của việc nói tiếng lạ ngày nay?
Chương 6: Khuynh Hướng Của Các Phép Lạ
Phép báp-têm của Đức Thánh Linh
Phép báp-têm của Đức Thánh Linh phù hợp với cuộc thảo luận này ở chỗ nào? Các nhà hành nghề tự xưng thời nay về cơ bản liên kết cách diễn đạt “phép báp-têm của Đức Thánh Linh” với hiện tượng mà khiến cho một tín đồ có thể nói được tiếng lạ, chữa lành ai đó, hay làm được các phép lạ khác. Nói cách khác, phép báp-têm của Đức Thánh Linh đơn giản là một sự ám chỉ chung đến việc truyền sức mạnh làm phép lạ. Bất cứ ai mà có thể nói một tiếng lạ hoặc thực hiện bất cứ dấu hiệu lạ lùng khác thì đều được nói là đã được báp-têm trong Đức Thánh Linh. Người đó được bảo là đang “đầy dẫy Đức Thánh Linh.” Tuy nhiên, nó có thể khiến cho người đọc ngạc nhiên khi thấy rằng Kinh Thánh ám chỉ đến phép báp-têm của Đức Thánh Linh với một ý nghĩa rất hạn chế, chuyên biệt, thậm chí là kỹ thuật. Chỉ bởi vì một người có thể nói tiếng lạ hay làm các phép lạ không nhất thiết có nghĩa là người đó đã chịu báp-têm trong Đức Thánh Linh.
Chính ám chỉ đầu tiên đến phép báp-têm của Đức Thánh Linh trong Tân Ước là câu nói của Giăng: “Về phần ta, ta lấy nước mà làm phép báp-têm cho các ngươi ăn năn; song Đấng đến sau ta có quyền phép hơn ta, … Ấy là Đấng sẽ làm phép báp-têm cho các ngươi bằng Đức Thánh Linh” (Ma-thi-ơ 3:11). Từ câu nói này, một người có thể bị cám dỗ để cho rằng các tín đồ nói chung sẽ được báp-têm bằng Đức Thánh Linh. Nhưng sự giả định này sẽ là một kết luận quá vội vàng. Giăng đã không nhắm đến một người nghe là tín đồ Đấng Christ. Ông đang nói chuyện với dân Giu-đa. Không có bất cứ thứ gì trong mạch văn để cho người diễn giải phân biệt những người nhận được lời hứa về phép báp-têm Đức Thánh Linh của Giăng – dù là tất cả loài người, tất cả dân Giu-đa, tất cả tín đồ Đấng Christ, hay chỉ là một số người trong một hoặc nhiều hơn của các nhóm này. Cũng vậy, những người tiếp nhận phép báp-têm bằng lửa (tức là, địa ngục – Lu-ca 3:16-17) cũng không được nói rõ. Tuy nhiên, như trường hợp thường thấy trong Kinh Thánh, những người tiếp nhận cụ thể của lời hứa này được nói rõ trong các đoạn trích theo sau.
Ngay trước khi Ngài thăng thiên, Đức Chúa Jêsus đã bảo các sứ đồ đợi ở thành Giê-ru-sa-lem cho đến khi “được mặc lấy quyền phép từ trên cao” (Lu-ca 24:49). Trong Giăng chương 14-16, Đức Chúa Jêsus đã phán các lời hứa rất đặc biệt với các sứ đồ về sự đến của Đức Thánh Linh – “Đấng an ủi” hay “Đấng giúp đỡ” (parakletos) – lên trên họ, truyền sức mạnh cho họ để làm công việc chuyên biệt của một sứ đồ (tức là, để nhớ lại các lời mà Đức Chúa Jêsus đã phán với họ, để nói [và viết] bởi sự hà hơi, và để bắt đầu Đạo Đấng Christ). Nếu các câu này áp dụng cho tất cả tín đồ Đấng Christ, thì tất cả tín đồ Đấng Christ phải được chỉ dẫn riêng “vào mọi lẽ thật” (Giăng 16:13), và vì vậy sẽ hoàn toàn không cần đến Kinh Thánh được viết xuống nữa (Giăng 14:26). Tuy nhiên, trong mạch văn, các câu này rõ ràng nói đến người mang chức vụ sứ đồ thôi.
Đức Chúa Jêsus làm rõ thêm về cách áp dụng phép báp-têm Đức Thánh Linh khi Ngài bảo các sứ đồ rằng câu nói lúc đầu trong Lu-ca 24:49 là dành cho họ, và sẽ xảy ra “trong ít ngày” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:4-5). Đức Chúa Jêsus cũng phán rằng “sức mạnh” mà họ sẽ nhận được sẽ đến từ Đức Thánh Linh, mà sẽ khiến cho họ có thể làm chứng với thế gian những gì mà họ đã trải qua khi ở cùng với Đức Chúa Jêsus (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:8). Chú ý hết sức cẩn thận rằng trong lúc này, Đức Chúa Jêsus đưa ra một ám chỉ rất rõ ràng về chính câu nói mà Giăng đã truyền đạt trước đó trong Ma-thi-ơ 3: “Vì chưng Giăng đã làm phép báp-têm bằng nước , nhưng trong ít ngày, các ngươi [các sứ đồ] sẽ chịu phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:5). Đức Chúa Jêsus phân biệt rõ ràng và cụ thể phép báp-têm Đức Thánh Linh mà Ngài sẽ ban cho (để giữ lời tiên tri của Giăng) sẽ xảy trong vài ngày tới, và sẽ bị hạn chế cho các sứ đồ thôi.
Tất cả những gì một người cần làm là lật đến trang Kinh Thánh để thay được lời hứa về phép báp-têm của Đức Thánh Linh được làm trọn một cách đầy kịch tính và cao trào trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2 khi Đức Thánh Linh được đổ ra chỉ trên các sứ đồ thôi. Tiền ngữ của “họ” trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2:4 là “các sứ đồ” trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:26. Các sứ đồ là những người đã nói tiếng lạ và dạy dỗ dân chúng. Họ là những người tiếp nhận phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh, như được chứng minh từ những người có sau đó: (1) “hết thảy người nói đó, há chẳng phải là người Ga-li-lê sao?” (2:7); (2) “Phi-e-rơ đứng ra cùng mười một sứ đồ” (2:14); (3) “Chúng … bèn hỏi Phi-e-rơ và các sứ đồ khác” (2:37); (4) Phi-e-rơ đã trích dẫn Giô-ên 2:28-32 và áp dụng nó cho tình huống đó như bằng chứng rằng các sứ đồ không phải đang say xỉn; và (5) mạch văn thậm chí nói rõ ràng rằng các dấu kỳ và phép lạ “được làm ra bởi các sứ đồ” (2:43). Kiểu mẫu này tiếp tục trong sách Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ: “Bấy giờ, có nhiều phép lạ dấu kỳ được làm ra trong dân bởi tay các sứ đồ” (5:12); “Chúa dùng tay của hai sứ đồ làm những phép lạ dấu kỳ, mà chứng về đạo ân điển của Ngài” (14:3); “Phao-lô và Ba-na-ba thuật lại những phép lạ dấu kỳ mà Đức Chúa Trời đã cậy mình làm ra giữa dân ngoại” (15:12).
Ám chỉ trực tiếp tiếp theo về phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh có trong lời kể của Phi-e-rơ về trải nghiệm với dân ngoại trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 10. Nói về việc được truyền sức mạnh để nói tiếng lạ của họ, Phi-e-rơ đã xác định rõ sự việc này giống với trải nghiệm của các sứ đồ trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2. Hãy lưu ý cách giải thích của ông: “Ta mới khởi sự nói, thì có Đức Thánh Linh giáng trên họ, cũng như ban đầu [trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2] Ngài đã giáng trên chúng ta [các sứ đồ]. Ta bèn nhớ lại lời Chúa đã truyền rằng: Giăng đã làm phép báp-têm bằng nước, nhưng các ngươi sẽ chịu phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh. Vậy nếu Đức Chúa Trời đã ban cho họ một ơn như cho chúng ta [các sứ đồ]…” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 11:15-17). Phi-e-rơ rõ ràng đã liên kết phép báp-têm của Đức Thánh Linh được tiên đoán bởi Giăng trong Ma-thi-ơ 3:11, và được áp dụng bởi Đức Chúa Jêsus với các sứ đồ trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:5, với sự ban cho độc nhất và riêng biệt tương tự lên các ứng cử viên dân ngoại đầu tiên của sự cứu rỗi. Nếu phép báp-têm của Đức Thánh Linh đã xảy ra giữa Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2 và Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 10, thì tại sao Phi-e-rơ lại so sánh trải nghiệm của dân ngoại với trải nghiệm của các sứ đồ – thay vì so sánh nó với nhiều tín đồ Đấng Christ khác mà đã tự cho là nhận được nó trong những năm trung gian đó? Câu trả lời nằm trong sự thật rằng phép báp-têm của Đức Thánh Linh đã không xảy ra trong suốt những năm trung gian đó. Phép báp-têm của Đức Thánh Linh là độc nhất và không xảy ra thường xuyên mà đến trực tiếp từ Đấng Thánh.
Sự hiểu biết này hòa hợp với các sự kiện thêm vào. Lời tiên tri lớn của Cựu Ước, mà đưa ra ám chỉ đặc biệt đến thời kỳ Tân Ước đang đến gần như là sự phân phát của Đức Thánh Linh, đã kết hợp thành một sự bày tỏ đáng chú ý nhất. Đức Chúa Trời đã phán rằng, “Ta sẽ đổ Thần ta trên cả loài xác thịt” (Giô-ên 2:28). Phi-e-rơ đã lặp lại nó vào ngày lễ Ngũ Tuần (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2:17). Đức Chúa Trời đã có ý gì khi nói đến “cả loài xác thịt”? Các thành viên của hội phép lạ khẳng định rằng “cả loài xác thịt” có nghĩa là “tất cả tín đồ Đấng Christ”. Họ nói rằng mọi tín đồ Đấng Christ đều có thể nhận được phép báp-têm của Đức Thánh Linh. Họ tuyên bố rằng để giới hạn việc áp dụng lời hứa về phép báp-têm Đức Thánh Linh với một nhóm người được chọn lựa thôi sẽ cướp đi cơ hội của tất cả các tín đồ Đấng Christ khác để nhận được sức mạnh phép lạ. Tuy nhiên, một lời tuyên bố như thế có thể được dựa trên cơ sở Kinh Thánh nào?
Những người mà tuyên bố sự hiện hữu của các ơn ban cho phép lạ là phạm vào chính lỗi mà họ đang lên án – giới hạn cách diễn đạt “cả loài xác thịt.” Chắc chắn không có ai sẽ chọn nó có nghĩa là tất cả xác thịt loài thú – vì thú vật không phải là các đối tượng tiếp nhận các sự ban cho thuộc linh của Đức Chúa Trời. Cũng không có bất cứ ai dám chắc rằng nó có nghĩa là tất cả xác thịt loài người – vì tất cả những người hung ác, không vâng phục, không tin sẽ khó mong đợi, chứ chưa nói đến khao khát, để nhận được Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Tất cả những ai mà tán thành cách diễn đạt “cả loài xác thịt” chắc chắn phải đủ điều kiện để loại trừ các loài thú và những người không tin, tuy nhiên, lại không nhất quán khẳng định rằng việc giới hạn ý nghĩa ít hơn thành “tất cả các tín đồ Đấng Christ” là không công bằng.
Để hiểu được ý nghĩa và cách áp dụng thích hợp của cách diễn đạt “cả loài xác thịt,” một người phải kiểm chứng cách sử dụng theo Kinh Thánh về cách diễn đạt đó. “Cả loài xác thịt” thường được dùng trong Kinh Thánh để nói đến một số lượng lớn loài người (ví dụ, Sáng Thế Ký 6:12-13). Nó cũng có thể bao gồm tất cả loài thú xác thịt (ví dụ, Sáng Thế Ký 6:17,19). Tuy nhiên, với cách sử dụng đặc biệt của Đức Chúa Trời về con cháu của Áp-ra-ham trong kế hoạch cứu rỗi của Ngài, thì “cả loài xác thịt” thường có nghĩa chuyên môn nhiều hơn của “tất cả các dân tộc.” Lý do ban đầu cho cách sử dụng đặc biệt này của cách diễn đạt liên quan đến sự thật rằng hầu hết Cựu Ước được viết dựa trên phông nền là sự hiện diện của dân Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời chắc chắn không “vị nể ai đâu” (Rô-ma 2:11; Ê-phê-sô 6:9; Cô-lô-se 3:25; 1 Phi-e-rơ 1:17; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 10:34-35). Ngài không thiên vị một nhóm dân tộc này hơn nhóm dân tộc khác (so sánh với Giô-na). Tuy nhiên, vì dự định cứu chuộc của Ngài bao gồm việc mang Đức Chúa Jêsus vào trong thế gian vì lợi ích của tất cả, ai đó phải được chọn mà qua người đó sự đến của Đức Chúa Jêsus có thể được thực hiện. Người đó là Áp-ra-ham (Ga-la-ti 3:8,16) và, do đó, là con cháu của ông (Rô-ma 9:6 và các câu theo sau).
Như kết quả của trường hợp này, các tác giả người Do Thái của Kinh Thánh thường chia loài người chỉ thành hai nhóm người thôi, tức là, người Do Thái và không phải người Do Thái (dân ngoại). Ví dụ, trong một đoạn trích về Đấng Mê-si rất chắc chắn, Ê-sai (“nhà tiên tri về Đấng Mê-si) đã tiên đoán về sự đến của Giăng Báp-tít, người sẽ dọn đường cho Đức Chúa Jêsus. Ông đã thốt lên rằng: “Bấy giờ sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra, và mọi xác thịt đều sẽ xem thấy” (40:5). Sự ám chỉ về “mọi xác thịt” là một ám chỉ rất chắc chắn về khả năng có được sự cứu rỗi cho cả dân Do Thái và dân ngoại trong thời kỳ tín đồ Đấng Christ, như được tỏ ra bởi sự trích dẫn của Lu-ca về đoạn trích này (Lu-ca 3:6). Điều tương tự cũng đúng như vậy trong lời tiên tri khác rằng Ê-sai đã nói ra liên quan đến thời kỳ tín đồ Đấng Christ sắp đến: “mọi xác thịt sẽ đến thờ lạy trước mặt ta” (Ê-sai 66:23). Dân Do Thái của thời Ê-sai đã không rất lấy làm vui lòng với các lời tuyên bố của Ê-sai, vì họ hầu như chắc chắn hiểu được ông đang nói tiên tri về việc sáp nhập của dân ngoại vào trong dân được ưa thích của Đức Chúa Trời – điều mà cảm thấy chỉ mình họ mới hưởng được.
Phao-lô đã nêu ra ý nghĩa của “cả loài xác thịt” này trong bài luận đầu tiên của ông về việc xưng công bình bởi đức tin. Ông đưa ra một sự phân biệt rõ ràng giữa hai nhóm dân tộc bằng việc nói về tội lỗi của dân ngoại trước (Rô-ma 1:18-32) và sau đó nói về tội lỗi của dân Do Thái (Rô-ma 2:1-3:8). Hãy lưu ý cẩn thận các nhận xét kết luận của ông khi ông đưa phần mở đầu của sách đến cao trào của nó: “Thế nào! Chúng ta (dân Do Thái) có điều gì hơn (dân ngoại) chăng? Chẳng có, vì chúng ta đã tỏ ra rằng người Giu-đa và người Gờ-réc thảy đều phục dưới quyền tội lỗi” (Rô-ma 3:9). Sau đó ông đã trích dẫn hàng loạt các câu Kinh Thánh Cựu Ước, mà làm rõ sự nhấn mạnh của ông về hai (và chỉ hai) nhóm người này của xác thịt loài người, sử dụng hai thuật ngữ quan trọng: “Chẳng có” và “thảy.” “Chẳng có” có nghĩa là không phải dân Do Thái hay dân ngoại. “Thảy” có nghĩa là cả dân Do Thái và dân ngoại. Sau đó ông nói rõ ràng kết luận vĩ đại và cao trào của mình rằng: “vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài” (Rô-ma 3:20). “Chẳng có một người nào” ám chỉ đến dân Do Thái và dân ngoại. Nói cách khác, cả dân Do Thái và dân ngoại đều không thể được xưng công bình bởi luật pháp thôi (40). “Chẳng có một người nào” và “cả loài xác thịt” là các cách nói bóng chuyên môn về hai nhóm người xác thịt, tức là, dân Do Thái và không phải dân Do Thái (so sánh Giăng 17:2).
Vậy, những người tiếp nhận đầu tiên của phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh, như chúng ta đã thấy, là các sứ đồ người Do Thái vào ngày lễ Ngũ Tuần trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2. Trong việc thiết lập Hội Thánh, nó trang bị cho họ để nói và khẳng định lẽ thật được hà hơi. Các người tiếp nhận thứ hai của phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh là các thành viên dân ngoại của nhà Cọt-nây trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 10. Bằng cách xác nhận nhiệm vụ thiêng liêng được truyền miệng của Phi-e-rơ, nó đã thuyết phục các tín đồ Đấng Christ dân Do Thái rằng dân ngoại là những khách hàng tiềm năng cho việc tiếp nhận Tin Lành, và là các ứng cử viên sáng giá để đi vào vương quốc (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 10:34-35,45; 11:18). Vậy câu nói của Giô-ên, rằng Đức Chúa Trời sẽ đổ Thần Linh của Ngài ra trên “mọi xác thịt,” áp dụng cho việc đổ Đức Thánh Linh trên dân Do Thái trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2 và trên dân ngoại trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 10. Duy nhất một tình huống tiếp nhận phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh khác là Phao-lô, người mà cũng đã được nhận trực tiếp năng lực làm phép lạ từ Đức Chúa Trời. Việc tiếp nhận của ông rõ ràng là độc nhất bởi vì (1) ông không phải một sứ đồ khi mười hai sứ đồ nhận được Đức Thánh Linh, và (2) ông là một “thai sanh non” (1 Cô-rinh-tô 15:8). Vậy, phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh đã làm trọn hai mục đích độc nhất và riêng biệt: (1) để sắm sẵn cho các sứ đồ cho các vai trò sứ đồ của họ (không phải tín đồ Đấng Christ), và (2) để ban sự bày tỏ thánh rằng dân ngoại phải được cho phép để trở thành tín đồ Đấng Christ (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 10:47).
Một xem xét bổ sung đáng được nói đến liên quan đến lời tiên tri của Giô-ên. Nếu “mọi xác thịt” ám chỉ riêng biệt đến các sứ đồ dân Do Thái và các người cải đạo dân ngoại đầu tiên thôi, thì tại sao Giô-ên lại bao gồm cả “con trai, con gái, người già cả, những kẻ trai trẻ, đầy tớ trai và đầy tớ gái” trong việc tiếp nhận Thần Linh của Đức Chúa Trời (Giô-ên 2:28-29)? Như là điển hình của lời tiên tri tiếng Hê-bơ-rơ, sự ứng nghiệm dần dần, tuần tự và đầy đủ sẽ sắp xảy ra. Một lời tiên tri có thể bao gồm nhiều đặc điểm mà được ứng nghiệm qua các tình huống khác nhau. Rõ ràng là, về cơ bản của các ám chỉ mà đã được thảo luận (ví dụ, Ma-thi-ơ 3:11; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:5; 11:15-17), thì chỉ có phần đầu tiên của lời tiên tri của Giô-ên đã ứng nghiệm vào ngày lễ Ngũ Tuần. “Những ngày sau rốt” nói đến toàn bộ các tín đồ Đấng Christ kéo dài từ ngày lễ Ngũ Tuần cho đến ngày Phán Xét. Vậy, việc đổ Đức Thánh Linh sẽ bao hàm nhiều hơn chỉ là phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh mà bị hạn chế cho các sứ đồ người Do Thái và các dân ngoại một vài năm sau đó. Dù hiện tượng đặc biệt của phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh bị giới hạn với hai nhóm dân tộc cụ thể đó (tức là, mười hai sứ đồ và cả nhà Cọt-nây), thì hoạt động bổ sung của Đức Thánh Linh sẽ bao gồm việc truyền các sự ban cho phép lạ qua việc đặt tay của các sứ đồ (được thảo luận ở sau). Kết luận này là rõ ràng từ sự thật rằng không có “con gái” hay “đầy tớ gái” nào đã nhận được Đức Thánh Linh vào ngày lễ Ngũ Tuần. Hay có bất cứ bằng chứng nào cho việc xảy ra “chiêm bao” hay “sự hiện thấy” vào ngày lễ Ngũ Tuần. Với sự hiện diện được mở rộng của Đức Thánh Linh trong quá trình khởi xướng của Đạo Đấng Christ trong thế kỷ đầu tiên dẫn đến việc truyền năng lực làm phép lạ sau cùng mà tách biệt với phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh. Ứng nghiệm mở rộng của lời tiên tri của Giô-ên (tiếp sau Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2) được thấy trong các ám chỉ nói đến các con gái của Phi-líp mà đã nói tiên tri (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 21:9) và xuất hiện các chiêm bao (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 9:10; 10:3,10; 16:9). Tuy nhiên, các biểu hiện phép lạ này, dù được nói đến trong lời tiên tri của Giô-ên, không phải là một dạng của phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh. Liên kết chung trong việc đổ Đức Thánh Linh vào ngày lễ Ngũ Tuần và các sự bày tỏ của Đức Thánh Linh về sau chính là phép báp-têm của Đức Thánh Linh trên các sứ đồ – những người là chìa khóa cho việc phân phát thêm các sức mạnh làm phép lạ trong những năm đầu của Đạo Đấng Christ.
1 Cô-rinh-tô 12:13?
Nhưng về câu nói của Phao-lô với người Cô-rinh-tô thì sao? Ông đã viết rằng: “Vì chưng chúng ta … đều đã chịu phép báp-têm chung một Thánh Linh để hiệp thành một thân; và chúng ta đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa” (1 Cô-rinh-tô 12:13). Một số người đã khẳng định rằng câu Kinh Thánh này dạy rằng phép báp-têm của Đức Thánh Linh được truyền cho tất cả các tín đồ Đấng Christ. Tuy nhiên, khi cẩn thận phân tích câu Kinh Thánh này, thì thấy rằng Phao-lô không đang ám chỉ đến phép báp-têm của Đức Thánh Linh mà chỉ được nhận hai lần trong Tân Ước (ngoại trừ Phao-lô). Nếu những người Cô-rinh-tô đã chịu phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh, thì Phao-lô có thể sẽ viết như thế này: “Chúng ta đều đã chịu phép báp-têm trong một Đức Thánh Linh để hiệp thành một thân.” Cách nói này sẽ khiến cho nó rõ ràng rằng phép báp-têm của họ là phép báp-têm của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên, Phao-lô đã liên kết việc “chịu phép báp-têm” với “hiệp thành một thân,” và đặt “chung một Thánh Linh” trước cả “chịu phép báp-têm” và “hiệp thành một thân.” Có phải ông muốn nói rằng phép báp-têm của họ đòi hỏi việc ở trong Đức Thánh Linh, hay có Đức Thánh Linh đầy dẫy trên họ (tức là, nhận chìm), hay đến trên họ, tức là, chính Đức Thánh Linh, là những gì mà những người Cô-rinh-tô đã nhận được hay đã chịu phép báp-têm trong Ngài không?
Cấu trúc ngữ pháp của đoạn trích cung cấp một câu trả lời dứt khoát và cuối cùng. Từ “Thánh Linh” là từ trong lĩnh vực nhạc cụ của tiếng Gờ-réc, ám chỉ đến tác động của con người. Tác động con người trong đoạn trích mà đã làm phép báp-têm là Đức Thánh Linh. Việc làm phép báp-têm của Ngài kết quả trong việc sắp đặt những người đó vào trong một thân thể của Đấng Christ. Động từ là bất định, cho thấy rằng Phao-lô đang nói đến một hành động một lần cho tất cả trong quá khứ. Giáo sư Gờ-réc Tân Ước và một trong các dịch giả của NASB, Kenneth Wueth, đã giải thích rằng: “Đó không phải là phép báp-têm với Đức Thánh Linh hay của Đức Thánh Linh, theo nghĩa là Đức Thánh Linh là yếu tố mà được áp dụng cho chúng ta. Nó là phép báp-têm bởi Đức Thánh Linh. Phép báp-têm này không mang Đức Thánh Linh đến với chúng ta theo nghĩa là Đức Chúa Trời đặt Đức Thánh Linh trên chúng ta hay trong chúng ta. Hơn thế, phép báp-têm này mang người tin vào trong sự hiệp một sống còn với Đức Chúa Jêsus Christ” (41). Những người Cô-rinh-tô là những thụ hưởng – không phải Đức Thánh Linh – mà là sự chỉ dẫn hay giúp đỡ của Đức Thánh Linh. Họ đã chịu phép báp-têm bởi Đức Thánh Linh (so sánh các bản Kinh Thánh KJV, NKIV, NASB, RSV, NIV).
Bằng chứng về ngữ pháp bổ sung trong mạch văn bổ trợ cho kết luận này. Đầu chương này, Phao-lô đã nói rằng không có người nào có thể nói rằng Đức Chúa Jêsus là Chúa mà “không cảm Đức Thánh Linh” (câu 3). Một người có thể nói Đức Chúa Jêsus là Chúa mà không ở trong Đức Thánh Linh hay có Đức Thánh Linh ở trên hay trong mình. Nhưng một người không thể nói Đức Chúa Jêsus là Chúa nếu Đức Thánh Linh đã không bày tỏ thông tin như vậy về Đức Chúa Jêsus – như Ngài đã làm qua việc truyền sức mạnh cho các sứ đồ để viết ra các sự bày tỏ. Một vài câu Kinh Thánh sau, Phao-lô đã xác định một số sự ban cho mà được ban “nhờ Đức Thánh Linh,” “nhờ một Đức Thánh Linh,” và “bởi một Đức Thánh Linh ấy” (câu 8-9). Tất cả ba cụm từ này là như nhau, và ám chỉ đến việc làm của Đức Thánh Linh, không phải trạng thái ở trong Đức Thánh Linh. Tóm tắt phần này của Phao-lô làm rõ ràng ý nghĩa này được định là: “Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người” (câu 11) (42).
Theo các chi tiết bối cảnh này, một người sẽ bị ép buộc đưa ra kết luận đó trong câu 13, Phao-lô có thể không đang ám chỉ đến một phép báp-têm khác ngoài phép báp-têm được chỉ thị bởi Đức Chúa Jêsus trong Đại Mạng Lệnh, tức là, “một phép báp-têm” của Ê-phê-sô 4:5, phép báp-têm mà Phao-lô, chính ông, đã thực hiện với những người Cô-rinh-tô (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 18:8), phép báp-têm bằng nước. Đức Thánh Linh là tác nhân mà qua Đấng này Đấng Christ đã chỉ thị phép báp-têm bằng nước theo phương thức của thông điệp được rao giảng. Khi một người tuân theo chỉ dẫn để chịu phép báp-têm trong nước, thì người đó chịu phép báp-têm vào trong một thân thể của Đấng Christ. Các câu Kinh Thánh khác trong Tân Ước khẳng định sự hiểu biết này.
| Ý nghĩa của 1 Cô-rinh-tô 12:13 | |||
| 1 Cô-rinh-tô 12:13 | Đức Thánh Linh | Chịu báp-têm | Thân thể |
| Giăng 3:5 | Đức Thánh Linh | Nước | Vương quốc |
| Ê-phê-sô 5:26 | Đạo | Rửa bằng nước | Hội Thánh được tẩy sạch |
| Tít 3:5 | Đức Thánh Linh | Đổi mới | Được cứu |
- Đức Thánh Linh là tác giả của Tin Lành; Ngài “sinh ra” và “đổi mới” chúng ta bằng Đạo được rao giảng ra.
- Tin Lành sinh ra đức tin ăn năn dẫn đến việc nhận chìm trong nước.
- Kết quả: được cứu, các công dân của vương quốc, và các thành viên của thân thể của Đấng Christ, Hội Thánh.
Kiểm chứng các câu Kinh Thánh tương ứng trong biểu đồ trên (43). Đức Chúa Jêsus đã tuyên bố rằng: “Nếu một người chẳng nhờ nước và Thánh Linh mà sanh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời” (Giăng 3:5). Ý của Đức Chúa Jêsus cũng như ý của Phao-lô: rằng khi một người vâng phục sự dạy dỗ của Thánh Linh để chịu phép báp-têm trong nước, thì người ấy được ban cho lối đi vào vương quốc. Phao-lô đã lặp lại lời dạy dỗ tương tự này trong hai dịp khác. Với Hội Thánh Ê-phê-sô, ông đã chỉ ra rằng Đức Chúa Jêsus đã phó mạng sống của Ngài cho Hội Thánh “để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch” (Ê-phê-sô 5:26). Ông muốn nói rằng một người được sát nhập vào trong Hội Thánh được tẩy sạch của Đấng Christ khi người đó làm phép báp-têm bằng nước theo Đạo được hà hơi của Đức Thánh Linh. Cũng vậy, Phao-lô đã bảo Tít trẻ tuổi rằng Đức Chúa Jêsus “không phải cứu vì việc công bình chúng ta làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài, bởi sự rửa về sự lại sanh và sự đổi mới của Đức Thánh Linh” (Tít 3:5). Lại nữa, ông muốn nói rằng một người được cứu (và do đó được thêm vào Thân Thể) vào thời điểm nhận chìm trong nước, mà lúc đó sự đổi mới thuộc linh được thực hiện bởi Đức Thánh Linh.
Chúng ta buộc phải kết luận rằng 1 Cô-rinh-tô 12:13 không nói đến phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh (44). Hai trường hợp của phép báp-têm Đức Thánh Linh đã được thảo luận rõ ràng (tức là, Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2 và 10) đứng vững chắc trái ngược hoàn toàn với phép báp-têm được nói đến bởi Phao-lô trong 1 Cô-rinh-tô 12:13. Phép báp-têm của người Cô-rinh-tô đặt để những người Cô-rinh-tô vào trong Thân Thể của Đấng Christ, tức là, vào lúc cải đạo của họ. Nhưng khi các sứ đồ chịu phép báp-têm trong Đức Thánh Linh vào ngày lễ Ngũ Tuần, thì họ đã được cứu rồi. Khi cả nhà Cọt-nây chịu phép báp-têm trong Đức Thánh Linh, thì họ chưa được cứu và chỉ được gia nhập vào Thân Thể của Đấng Christ sau khi Phi-e-rơ kêu đem “nước” đến (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 10:47-48). Thực vậy, phép báp-têm Đức Thánh Linh trong Tân Ước không liên quan gì đến sự cứu rỗi cả.
Việc đặt tay của các sứ đồ
Nếu Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2 và 10 là các trường hợp duy nhất của phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh trong Tân Ước, thì làm thế nào chúng ta giải thích cho sự thật rằng có rất nhiều người trong Tân Ước đã thực hiện các phép lạ hay nói tiếng lạ? Nếu họ không phải là người tiếp nhận phép báp-têm Đức Thánh Linh, thì làm thế nào họ có được năng lực đó? Tân Ước cho biết chỉ một cách duy nhất khác để nhận được năng lực làm phép lạ: qua việc đặt tay của các sứ đồ. Chỉ có các sứ đồ mới có khả năng truyền năng lực làm phép lạ cho những người khác. Hiện tượng này được miêu tả ngắn gọn bởi Lu-ca:
Phi-e-rơ và Giăng bèn đặt tay trên các môn đồ, thì đều được nhận lấy Đức Thánh Linh. Si-môn thấy bởi các sứ đồ đặt tay lên thì có ban Đức Thánh Linh xuống, bèn lấy bạc dâng cho, mà nó rằng: Cũng hãy cho tôi quyền phép ấy, để tôi đặt tay trên ai thì nấy nhận được Đức Thánh Linh. Nhưng Phi-e-rơ trả lời rằng: Tiền bạc ngươi hãy hư mất với ngươi, vì ngươi tưởng lấy tiền bạc mua được sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ngươi chẳng có phần hoặc số trong việc nầy, vì lòng ngươi chẳng ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 8:17-21).
Sự miêu tả này đã thiết lập hai sự thật: (1) chỉ có các sứ đồ được chỉ định để có được khả năng truyền cho những người khác năng lực để làm phép lạ; và (2) những người ngoài các sứ đồ mà có thể thực hiện được các phép lạ đã nhận được năng lực của họ gián tiếp qua các sứ đồ – thay vì nhận trực tiếp từ Đức Chúa Trời qua phép báp-têm Đức Thánh Linh.
Đặc điểm hấp dẫn này của sự tồn tại của phép lạ trong thế kỷ đầu tiên giúp ta có thể hiểu được làm thế nào mà những người khác nhận được sức mạnh siêu nhiên của họ. Ví dụ, Phi-líp, người không phải là một sứ đồ, có năng lực thực hiện các phép lạ (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 8:6,13). Nếu ông không phải là một sứ đồ, và vì vậy không được nhận trực tiếp năng lực từ Đức Chúa Trời qua phép báp-têm của Đức Thánh Linh, vậy thì, ông đã có được năng lực của mình ở đâu? Lu-ca cho chúng ta biết rằng Phi-líp rõ ràng đã nhận được sự đặt tay của các sứ đồ (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 6:5-6). Cũng vậy, các tín đồ Đấng Christ ban đầu ở Ê-phê-sô được cho khả năng nói tiếng lạ khi sứ đồ Phao-lô đặt tay của ông trên họ (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 19:6). Thậm chí Ti-mô-thê đã nhận được sự ban cho của mình từ việc đặt tay của Phao-lô (2 Ti-mô-thê 1:6).
Một số người đã thách thức tính độc quyền của vai trò của các sứ đồ trong năng lực độc nhất của họ để truyền yếu tố phép lạ bằng việc kêu gọi chú ý đến lời dặn dò của Phao-lô với Ti-mô-thê: “Đừng bỏ quên ơn ban trong lòng con, là ơn bởi lời tiên tri, nhân hội trưởng lão đặt tay mà ban cho con vậy” (1 Ti-mô-thê 4:14). Mặc dù Phao-lô rõ ràng khẳng định là “ơn của Đức Chúa Trời ban cho” mà Ti-mô-thê đã có được, được truyền “bởi sự đặt tay của ta “ (2 Ti-mô-thê 1:6), thì một người giải thích như thế nào sự thật rằng Phao-lô cũng đã nói rằng ơn ban cho của Ti-mô-thê cũng là qua hội trưởng lão (tức là, các trưởng lão)?
Một lần nữa, văn phạm của mạch văn đưa ra câu trả lời trong 2 Ti-mô-thê 1:6, nơi Phao-lô đã tuyên bố công trạng duy nhất cho việc truyền ơn cho Ti-mô-thê, ông đã sử dụng giới từ Gờ-réc dia dạng thuộc cách, mà có nghĩa là “qua” hay “bằng cách” (45). Tuy nhiên, trong 1 Ti-mô-thê 4:14, nơi mà Phao-lô đã bao gồm vai trò trưởng lão trong việc làm truyền ơn này, ông đã dùng một giới từ Gờ-réc hoàn toàn khác – meta. Ý nghĩa chính của meta là “ở giữa” (46). Nó biểu thị tình huống tham gia của thứ gì đó mà đang xảy ra – hiện tượng đồng hành (47). Nó có nghĩa là “cùng với” hay “đồng hành với” (48). Nói cách khác, Phao-lô – như một sứ đồ – đã truyền ơn phép lạ cho Ti-mô-thê. Nó đến từ Đức Chúa Trời qua Phao-lô. Tuy nhiên, vào lúc đó, các trưởng lão địa phương của Hội Thánh cũng có mặt và tham dự cùng với Phao-lô trong sự kiện này, cùng trao sự hỗ trợ và khen thưởng kèm theo. Sau khi kiểm chứng dữ liệu văn phạm của nan đề, Nicoll đã kết luận rằng: “Đó là sự đặt tay của Thánh Phao-lô, là công cụ được sử dụng bởi Đức Chúa Trời trong sự giao tiếp đầy lôi cuốn với Ti-mô-thê” (49). Bởi đó, 1 Ti-mô-thê 4:14 không đưa ra bằng chứng nào cho việc năng lực làm phép lạ có thể nhận được qua các cách thức khác ngoài việc đặt tay của các sứ đồ và hai trường hợp cụ thể của phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh.
Có các sứ đồ thời hiện đại không?
Nhưng các sứ đồ có tồn tại ngày nay không? Những người mà tuyên bố là các sứ đồ có các năng lực làm phép lạ không? Quan điểm về sự đa dạng đáng kinh ngạc mà đang tồn tại trong giới tôn giáo ngày nay làm cho ta giật mình và hốt hoảng.
Định nghĩa của một sứ đồ
Chúng ta phải tìm đến Kinh Thánh để xác định ý muốn của Đức Chúa Trời về các sứ đồ thời hiện đại. khi chúng ta làm như vậy, chúng ta trước nhất biết được rằng từ “sứ đồ” đến từ từ Gờ-réc apostolos, mà có nghĩa là một người được sai đi, một sứ giả, phái viên, đại diện (50). Thuật ngữ được sử dụng trong Tân Ước theo hai nghĩa riêng biệt. Nó có thể được sử dụng theo một nghĩa thông tục, không chính thức để ám chỉ đến một cá nhân mà được sai đi bởi những người khác để hoàn thành một nhiệm vụ hay vai trò cụ thể. Ví dụ, thuật ngữ cũng được sử dụng như vậy với Ba-na-ba (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 14:14). Ông là một “sứ đồ” theo một ý nghĩa là ông đồng hành cùng với Phao-lô trong một chuyến đi truyền đạo. Đức Chúa Jêsus đã nói là “sứ đồ” của chúng ta với một ý nghĩa là Ngài đã được sai đến để chuộc tội lỗi cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 3:1).
Thuật ngữ “sứ đồ” cũng được sứ đồ với một ý nghĩa thứ hai – mà chúng ta có thể gọi là một nghĩa chức vụ. Tức là, “sứ đồ” có thể ám chỉ đến các cá nhân mà được chọn lựa một cách chính thức và thiêng liêng để phục vụ như những người đại diện ban đầu của Đức Chúa Jêsus – “các khâm sai” (2 Cô-rinh-tô 5:20). Đức Chúa Jêsus đã tự tay chọn lựa mười hai sứ đồ ban đầu (51). Trong số mười hai sứ đồ ban đầu này, Giu-đa đã phản bội Chúa như được nói tiên tri trong Cựu Ước (Thi Thiên 41:9; Giăng 13:18-19; 18:1-5). Thay vì ăn năn, ông đã từ bỏ chức vụ sứ đồ của mình bằng việc tự tử (Ma-thi-ơ 27:3-5; Giăng 17:12). Bởi đó, một người thay thế Giu-đa đã được chọn bởi sự ưng thuận thánh (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:16-26).
Chỉ có một sứ đồ khác mang nghĩa chức vụ được tính đến trong Tân Ước: Phao-lô. Sự bổ nhiệm lên chức sứ đồ của ông là độc nhất là không thể so sánh vì ông được chọn cho một nhiệm vụ đặc biệt trong thế kỷ thứ nhất (52). Đấng Christ đã chọn ông để giới thiệu thông điệp của Đạo Đấng Christ đến thế giới dân ngoại (53). Phao-lô đã cẩn thận viết lại sự thật rằng chức sứ đồ của ông là bởi sự bổ nhiệm thánh (54).
Các tiêu chuẩn của một sứ đồ
Khi một người tập hợp tất cả các dữ kiện có liên quan của Tân Ước, thì có ít nhất ba tiêu chuẩn nảy sinh như là điều kiện trước nhất để một người trở thành một sứ đồ theo nghĩa chức vụ (55). Trước tiên, một sứ đồ phải từng nhìn thấy Chúa và là nhân chứng của sự sống lại của Đấng Christ (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:22; 22:14; 1 Cô-rinh-tô 9:1). Thứ hai, một sứ đồ phải được chọn một cách đặc biệt bởi Chúa hay Đức Thánh Linh (56). Thứ ba, một sứ đồ được truyền cho sức mạnh phép lạ đến mức mà người đó có thể thực hiện các phép lạ (Rô-ma 15:19; 1 Cô-rinh-tô 2:4; 2 Cô-rinh-tô 6:6; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 1:5). Sức mạnh để làm phép lạ bao gồm năng lực truyền khả năng làm phép lạ cho những người khác qua việc đặt tay của mình (57). Đức Chúa Jêsus đã ám chỉ đến việc ban cho năng lực làm phép lạ của Ngài trên các sứ đồ khi Ngài hứa là họ sẽ được “mặc lấy quyền phép từ trên cao” (Lu-ca 24:49).
Công việc của một sứ đồ
Chức vụ sứ đồ không nghi ngờ gì là một chức vụ tạm thời cho Hội Thánh ban đầu (dù việc bổ nhiệm chức sứ đồ là cả đời). Mục đích cốt yếu của nó có hai mặt. Thứ nhất, các sứ đồ được giao nhiệm vụ bởi Đức Chúa Jêsus để bắt đầu tôn giáo tín đồ Đấng Christ (58). Mục đích này đạt được qua bài thuyết trình lúc đầu về Tin Lành với toàn thế giới (Cô-lô-se 1:23), và sự thành lập Hội Thánh của Đấng Christ (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2). Thứ hai, các sứ đồ mang trách nhiệm lớn để làm cho Tân Ước có sẵn – trước tiên ở dạng truyền miệng và, đặc biệt hơn, là ở dạng viết (59).
Hai nhiệm vụ trọng yếu này được nêu rõ trong Tân Ước. Trong Ma-thi-ơ 16, Đức Chúa Jêsus đã phán rằng Ngài sẽ dựng Hội Thánh của Ngài sau khi Ngài sống lại từ nơi Âm Phủ (câu 18). Sau đó Ngài đã giải thích rằng các sứ đồ sẽ là những người khởi xướng lối đi vào trong Hội Thánh của Đấng Christ (vì tầm quan trọng của “chìa khóa” – câu 19). Sự bắt đầu này của tôn giáo tín đồ Đấng Christ và Hội Thánh của Đấng Christ sẽ đạt được qua việc các sứ đồ “buộc” và “tháo” các giáo lý và nguyên tắc tín lý của Đạo Đấng Christ mà các Tầng Trời đã “buộc” và “tháo” trước (60). Phi-e-rơ và các sứ đồ đã nói rõ các thuật ngữ của lối vào trong vương quốc của Đấng Christ lần đầu tiên vào ngày lễ Ngũ Tuần mà xảy ra sau sự sống lại của Đấng Christ (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2:14 và tiếp theo).
Trong Ê-phê-sô 4, sau khi tóm tắt Đạo Đấng Christ về bảy khái niệm cốt lõi (câu 1-7), Phao-lô đã miêu tả chuỗi sự kiện quan trọng mà thuật lại sự ra đời của Đạo Đấng Christ (câu 7-16). Phao-lô đã lưu ý rằng: (1) sau sự đóng đinh của Ngài, Đức Chúa Jêsus đã đi vào chốn Âm Phủ; (2) sau đó Ngài đã sống lại; (3) Ngài đã thăng thiên; (4) lúc Ngài thăng thiên, Ngài đã phân phát các ơn ban cho; (5) chức vụ sứ đồ có phần trong việc nhận được các năng lực làm phép lạ này; (6) mục đích của các sự ban cho này là để trang bị và thiết lập Hội Thánh; (7) sự sắm sẵn được cung cấp cho Hội Thánh con trẻ qua các ơn ban cho này là tạm thời (“cho đến khi” là một trạng từ thời gian bao hàm thời điểm các ơn ban cho phép lạ phải chấm dứt), trong đó sự sắm sẵn tương tự sớm sẽ có sẵn qua sự bày tỏ được làm trọn, tức là, “đức tin” (61). Hơn thế, ám chỉ đến “đức tin” trong Ê-phê-sô 4:13 không thể nói đến một thời điểm khi mà tất cả dân sự hay tất cả tín đồ Đấng Christ sẽ đạt được sự hiệp một trong đức tin. Như đã được ghi chú lúc đầu, một tình huống như vậy sẽ không bao giờ xảy ra. Phao-lô đang ám chỉ đến thời điểm khi tất cả dân sự có được cách tiếp cận đến tất cả thông điệp của Đức Chúa Trời với loài người, vì vậy cho họ tiềm năng để đạt được sự trưởng thành thuộc linh (“một người hoàn hảo” và “con trẻ”).
Một khi tất cả thông tin cần thiết để phát triển tôn giáo tín đồ Đấng Christ được bày tỏ cho Hội Thánh ban đầu (thông qua các phương thức truyền miệng được thực hiện bởi sự phân phát của các ơn ban cho), Hội Thánh sẽ có các phương thức có sẵn để phát triển và trưởng thành trong Đấng Christ (so sánh với 1 Cô-rinh-tô 13:8-13). Trong khi các tiên tri, các nhà truyền giáo, các mục sư, và các giáo sư (62) là một phần của sự phát triển ban đầu này của Đạo Đấng Christ (Ê-phê-sô 4:11), chức vụ của một sứ đồ là phương thức đầu tiên mà bởi đó Đấng Christ đã hoàn thành lễ khai mạc của tôn giáo của Ngài.
Các sứ đồ có trách nhiệm duy nhất để thực hiện ý muốn của Con Đức Chúa Trời trong việc thiết lập, tổ chức, và trang bị đầy đủ cho Hội Thánh của Đấng Christ ở trên đất, để cho Hội Thánh, ngược lại, có thể làm tròn thiên mệnh của mình, cho đến khi Đức Chúa Jêsus quay trở lại (63). Đó là lý do tại sao Phao-lô có thể nói hai chương đầu tiên là nhà của Đức Chúa Trời (tức là Hội Thánh) được xây dựng trên nền của các sứ đồ và các nhà tiên tri (Ê-phê-sô 2:20; so sánh với 3:5; Khải Huyền 21:14). Đó là lý do tại sao ông nói với các tín đồ Đấng Christ Cô-rinh-tô rằng:
Đức Chúa Trời đã lập trong Hội Thánh, thứ nhất là sứ đồ, thứ nhì là đấng tiên tri, thứ ba là thầy giáo, kế đến là kẻ làm phép lạ, rồi kẻ được ơn chữa bịnh, cứu giúp, cai quản, nói các thứ tiếng. Có phải cả thảy là sứ đồ sao? Cả thảy là tiên tri sao? Cả thảy là thầy giáo sao? Cả thảy đều làm phép lạ sao? Cả thảy đều được ơn chữa bịnh sao? Cả thảy đều nói tiếng lạ sao? Cả thảy đều thông giải tiếng lạ sao? (1 Cô-rinh-tô 12:28-30).
Các sứ đồ đã được nói là “thứ nhất” trong tính hết sức quan trọng của vai trò được bổ nhiệm thánh của họ. Các sứ đồ đặc biệt đã miêu tả vai trò độc nhất của họ trong Hội Thánh ban đầu như kéo theo sự hiến thân mình cho “đạo của Đức Chúa Trời” và “chức vụ giảng đạo” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 6:2,4).
Thời gian tồn tại của một sứ đồ
Một khi Hội Thánh của Đấng Christ đã được thiết lập và Đạo Đấng Christ có được bản thuyết trình đầu tiên của nó (so sánh Cô-lô-se 1:23), chức vụ sứ đồ mất dần khỏi khung cảnh cùng với thời đại của các phép lạ. Như một nhân chứng về sự sống lại của Đấng Christ, Phao-lô đã nói đến chính bản thân ông liên quan đến các sứ đồ khác như là “sau rốt” (1 Cô-rinh-tô 15:8). Không còn có sứ đồ nào hay ơn ban cho phép lạ nào còn được cần đến nữa. Họ đã hầu việc mục đích tạm thời của họ (Mác 16:20; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 4:29-31; 13:12; 14:3; Rô-ma 15:18-19; Hê-bơ-rơ 2:3-4; so sánh với Xuất Ê-díp-tô 4:30). Như đã được nói ban đầu, các ơn ban cho phép lạ đảm nhiệm chức năng như một giàn giáo trong khi Hội Thánh đang trong quá trình xây dựng ban đầu, và bị dời đi một khi công trình đã hoàn thiện (1 Cô-rinh-tô 3:10; 13:11; Ê-phê-sô 4:13-14). Cuốn sách mà chúng ta gọi là Kinh Thánh là toàn bộ những sự bày tỏ được viết xuống của Đức Chúa Trời cho loài người. Do đó, giờ đây loài người đã có được lối vào trong một mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời qua Đạo Đấng Christ và Hội Thánh của Đấng Christ. Các sứ đồ “không có người thay thế chức vụ. Từ bản chất của các nhiệm vụ của họ, thì không thể có người thay thế được” (64). Các sứ đồ, khá đơn giản, không còn được cần đến nữa.
Không có các sứ đồ ngày nay
Không may thay, một vài nhóm mà tuyên bố liên quan đến tôn giáo tín đồ Đấng Christ tự xưng là có các sứ đồ trong số họ, bao gồm Công Giáo, Mộc môn, và một số nhóm Ngũ Tuần. Tuyên bố này là không theo Kinh Thánh. Không có người nào đang sống ngày nay có thể đạt được các tiêu chuẩn được nêu ra trong Kinh Thánh để trở thành một sứ đồ. Không có người nào đang sống ngày nay là một nhân chứng về sự sống lại của Đấng Christ. Đấng Christ đã không chọn bất cứ ai đang sống hiện nay cho chức vụ sứ đồ. Không có ai đang sống ngày nay có được các năng lực làm phép lạ của một sứ đồ. Chúng ta không nên ngạc nhiên khi thấy mọi người sẽ tuyên xưng sai trái về việc mình là sứ đồ. Đức Chúa Jêsus đã cảnh báo rằng các tiên tri giả sẽ đến trong lốt chiên, nhưng bên trong họ sẽ là muôn sói hay cắn xé (Ma-thi-ơ 7:15). Phao-lô đã miêu tả một số kẻ chống đối ông bằng những lời này:
Vì mấy người như vậy là sứ đồ giả, là kẻ làm công lừa dối, mạo chức sứ đồ của Đấng Christ. Nào có lạ gì, chính quỉ Sa-tan mạo làm thiên sứ sáng láng. Vậy thì những kẻ giúp việc nó mạo làm kẻ giúp việc công bình cũng chẳng lạ gì; nhưng sự cuối cùng của họ sẽ y theo việc làm (2 Cô-rinh-tô 11:13-15).
Lời cảnh báo bổ sung dành cho các Hội Thánh Ga-la-ti: “Nhưng nếu có ai, hoặc chính chúng tôi, hoặc thiên sứ trên trời, truyền cho anh em một Tin Lành nào khác với Tin Lành chúng tôi đã truyền cho anh em, thì người ấy đáng bị a-na-them!” (Ga-la-ti 1:8). Bất cứ lời tuyên bố làm sứ đồ của ai ngày nay, người mà dạy bất cứ điều gì thêm vào trong Tân Ước, thì rõ ràng không phải là một sứ đồ của Đấng Christ.
Phi-e-rơ cũng lên tiếng về chủ đề tương tự này rằng: “Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng có giáo sư giả trong anh em, họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình” (2 Phi-e-rơ 2:1). Không lấy làm lạ gì khi Giăng khuyên răn rằng: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ” (1 Giăng 4:1; so sánh với Ma-thi-ơ 24:11,24). Trong sách Khải Huyền, Hội Thánh tại Ê-phê-sô được khen ngợi bởi vì họ “đã thử những kẻ tự xưng là sứ đồ mà không phải là sứ đồ, ngươi đã rõ ràng chúng nó giả dối” (Khải Huyền 2:2).
Đạo Công Giáo nói rằng Phi-e-rơ là giám mục tối cao, thậm chí hơn các sứ đồ khác, và rằng mỗi vị giáo hoàng từ thời Phi-e-rơ là một người thay thế chức vụ sứ đồ của Phi-e-rơ. Giáo hoàng được chọn ra sau nhiều ngày cân nhắc theo nghĩa đen bởi các hồng y tại điện Vatican. Sứ đồ duy nhất trong Kinh Thánh không được chính Đức Chúa Jêsus chọn trực tiếp là Ma-thia. Nhưng ông không được chọn chỉ bởi việc con người cân nhắc và tranh luận năng lực của mình. Ông được chọn bằng sự rút thăm – điều mà đơn giản là một cách khác để Đức Chúa Jêsus thực hiện việc chọn lựa (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:26; so sánh Châm ngôn 16:33).
Thật không thể tin được khi nghĩ rằng bất cứ con người nào ngày nay cũng có thể bổ nhiệm các sứ đồ. Để xác định được giấy ủy nhiệm của một sứ đồ, Lu-ca (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1) đã nói rất rõ ràng rằng để đạt chuẩn như một sứ đồ thì người đó phải từng nhìn thấy Chúa và là một nhân chứng về sự sống lại của Ngài. Đó là lý do tại sao Phao-lô lại cẩn thận nói rằng: “…Tôi chẳng phải là sứ đồ sao? Tối há chẳng từng thấy Đức Chúa Jêsus là Chúa chúng ta sao?…” (1 Cô-rinh-tô 9:1). Khi kể lại quá trình cải đạo của mình, ông đã trích dẫn câu nói của A-na-nia rằng: “Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng ta đã định cho anh được biết ý muốn Chúa, được thấy Đấng Công Bình và nghe lời nói từ miệng Ngài. Vì anh sẽ làm chứng cho Ngài trước mặt mọi người, về những việc anh đã thấy và nghe” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 22:14-15). Lý do gì để cho sứ đồ thời nay có thể đưa ra được một lời tuyên bố như vậy?
Tân Ước cũng làm rõ ràng một sự thật rằng một đặc điểm cốt yếu của một sứ đồ là người đó phải được chọn bởi Đấng Thánh. Khi Đức Chúa Jêsus còn trên đất, Ngài đã tự tay chọn ra 12 sứ đồ đầu tiên. Sau khi Ngài rời khỏi trái đất, các môn đồ đã bốc thăm để chọn ra một người thay thế cho Giu-đa. Phương pháp của họ không liên quan gì đến con người – ngoại trừ việc nhận ra được hai người có được tất cả các tiêu chuẩn cần thiết để là một sứ đồ. Việc bốc thăm để cho Đức Chúa Trời có thể thực hiện việc chọn lựa. Sự kiểm soát thánh trong quá trình chọn lựa bằng việc bốc thăm là bình thường ở trong lịch sử Cựu Ước (65). Sô-lô-môn đã tuyên bố rằng: “Người ta bẻ thăm trong vạt áo; Song sự nhứt-định do nơi Đức Giê-hô-va mà đến” (Châm ngôn 16:33). Thực vậy, lời cầu nguyện của Phi-e-rơ vào lúc đó cho thấy quyết định đã được đưa ra bởi Chúa trước khi việc bốc thăm diễn ra: “…xin tỏ ra cho chúng tôi nội trong hai người này, ai là người Chúa đã chọn” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:24). Câu nói tóm tắt về Ma-thia – “người bèn được bổ vào mười một sứ đồ” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:26; so sánh với Ma-thi-ơ 28:16; Mác 16:14; Lu-ca 24:33) – nhường chỗ cho sự trở lại của cách diễn đạt “Mười Hai Sứ Đồ” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 6:2; so sánh với Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2:14). Phao-lô cũng được tự tay chọn bởi Đức Chúa Jêsus – là một “đồ dùng” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 9:15). Không có người nào ở trên đất ngày nay có thể tuyên bố là mình được chọn riêng ra bởi Đức Chúa Jêsus để là một sứ đồ.
Bằng chứng thứ ba cho việc không có sứ đồ nào tồn tại trên đất ngày nay đó là sự thật rằng các sứ đồ Tân Ước được truyền sức mạnh bởi Đức Chúa Trời – không chỉ để làm phép lạ – mà còn để truyền sức mạnh làm phép lạ đến những người khác mà sau đó chính họ cũng có thể làm phép lạ. Như đã được nói lúc đầu (phần Đặt Tay của các sứ đồ), đặc điểm này được diễn đạt một cách chi tiết trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ: “Si-môn thấy bởi các sứ đồ đặt tay lên thì có ban Đức Thánh Linh xuống, bèn lấy bạc dâng cho” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 8:18). Vấn đề về các sứ đồ thời hiện đại có thể được giải quyết rất nhanh chóng. Để xác thực lời tuyên bố của họ là các sứ đồ, họ phải có thể thực hiện được cả việc làm phép lạ cũng như truyền sức mạnh làm phép lạ này cho những người khác. Các sứ đồ của Đức Chúa Jêsus trong Tân Ước đã chứng tỏ cương vị sứ đồ của mình mà không hề do dự. Bất cứ ai ngày nay mà tuyên bố là một sứ đồ sẽ phải muốn làm điều tương tự. Không có năng lực như thế ngày nay.
Các sứ đồ ban đầu đã đủ rồi
Một đoạn trích tuyệt vời trong Tân Ước cho ta hiểu thêm về khái niệm các sứ đồ thời hiện đại này. Đoạn trích đó là Ma-thi-ơ 19:28. Ở đó, Đức Chúa Jêsus đã cho Phi-e-rơ và các sứ đồ khác biết rằng: “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đến kỳ muôn vật đổi mới, là khi Con Người sẽ ngự trên ngôi vinh hiển của Ngài, thì các ngươi là kẻ đã theo ta, cũng sẽ ngồi trên mười hai ngôi, mà xét đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.” Một đoạn trích tương tự là Lu-ca 22:29-30 mà nói rằng: “nên ta ban nước cho các ngươi, cũng như Cha ta đã ban cho ta vậy, để các ngươi được ăn uống chung bàn trong nước ta, và được ngồi ngai để xét đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.”
Các câu Kinh Thánh này là các lời tuyên bố bóng gió của Đấng Christ miêu tả về vai trò của 12 sứ đồ trong việc thành lập nên Hội Thánh và việc truyền bá về lời công bố của Tin Lành (66). “Đổi mới” chỉ đến thời kỳ tín đồ Đấng Christ, mà bắt đầu vào ngày lễ Ngũ Tuần, trong suốt thời gian này thì sự đổi mới thuộc linh có hiệu lực qua huyết của Đấng Christ (Tít 3:5). Đó là một cách nói tương tự về “kỳ hoán cải” (Hê-bơ-rơ 9:10). Ngôi của sự vinh hiển của Đấng Christ ám chỉ đến vị trí hiện tại của Ngài ở bên hữu của Đức Chúa Trời (67). Việc “đoán xét” được thực hiện bởi các sứ đồ ám chỉ đến sự cai trị mà các sứ đồ đã có được khi họ còn ở trên đất, lập thành các nét đặc trưng của Đạo Đấng Christ Tân Ước (Ma-thi-ơ 16:19; Giăng 10:22-23). “Mười hai ngôi” ám chỉ đến toàn bộ thẩm quyền của họ từ Đấng Christ đến việc thi hành ý muốn của Đấng Christ cho đến kỳ cuối cùng – mà họ đang làm ngày nay qua các bài viết có thẩm quyền của họ – chỉ tìm thấy được trong Tân Ước. Các bài viết của họ không khác gì với Lời của Đấng Christ – mà bởi đó tất cả đều bị phán xét (Giăng 12:48). “Mười hai chi phái” là một cách nói bóng ám chỉ đến Hội Thánh – Y-sơ-ra-ên thuộc linh.
Cả Đấng Christ và các sứ đồ ban đầu đều không cần đến người thay thế hay đại diện ở trên đất ngày nay. Họ vẫn tiếp tục cai trị và cầm quyền trên vương quốc qua công việc mà họ đã đạt được trong thế kỷ đầu tiên, và tất cả chúng đều được giữ gìn trong Tân Ước. Đấng Christ giờ đây đang cai trị và cầm quyền trên ngôi của Ngài. Để cho rằng các sứ đồ có các người kế nhiệm ngày nay là xem nhẹ và làm mất thể diện sự cai trị hiện hành của các sứ đồ ban đầu. Cả Đấng Christ và các sứ đồ đều không từ bỏ thẩm quyền của họ hay sự cai trị hiện hành của họ cho bất cứ con người nào trên đất.
Thêm vào đó, sự thật rằng Đức Chúa Jêsus tuyên bố rằng tất cả mười hai sứ đồ sẽ có được các ngôi trong vương quốc chứng tỏ rằng Phi-e-rơ không có thẩm quyền cao hơn các sứ đồ khác. Các sứ đồ là ngang nhau về sự tiếp nhận và sử dụng thẩm quyền được trao cho họ bởi Đấng Christ. Nhưng Hội Thánh Công Giáo lại tuyên bố rằng những người thay thế trực tiếp của Phi-e-rơ là Linus (từ 67-79 SCN), Cletus (từ 79-91 SCN) và Clement (từ 91-100 SCN). Họ tán thành rằng sứ đồ Giăng vẫn còn sống xuyên suốt giai đoạn này (69). Tín lý về vị trí hàng đầu của Phi-e-rơ có nghĩa là hai người được cho là người kế nhiệm đầu tiên của Phi-e-rơ sẽ thi hành thẩm quyền cao hơn sứ đồ Giăng còn đang sống – người mà đã được chính tay Đức Chúa Jêsus chọn! Chính sứ đồ Giăng, người mà Đức Chúa Jêsus đã đặt trên mười hai ngôi sẽ có thẩm quyền, sự hiểu biết và sức mạnh thấp hơn ba vị giám mục mà đã không được chọn ra trong số mười hai sứ đồ ban đầu! (70).
Hayden một cách khéo léo đã tóm tắt quan điểm của Tân Ước về các sứ đồ thời hiện đại như thế này:
Mười ba sứ đồ được chọn ra, được phong chức và truyền sức mạnh bởi Đấng Mê-si mới đăng quang đã thi hành một cách trung tín và trọn vẹn nhiệm vụ của họ. Khi họ đi vào sự yên nghỉ đời đời, Hội Thánh đã được thành lập, với tất cả các bộ phận cần thiết để hoạt động, mở rộng và lưu truyền nó xuyên suốt các thế kỷ qua. Sau đó sự phi thường, điều cần thiết để thiết lập một thể chế mới, đã bị kế tục bởi điều bình thường, đủ để dạy dỗ, điều chỉnh, và quản lý các đối tượng của nước Đấng Christ theo các luật lệ đưa ra từ Giê-ru-sa-lem. Sự bày tỏ của Đức Chúa Trời đã hoàn thiện. Lời của đức tin từ đó đến nay luôn ở gần mọi tín đồ, thậm chí trong môi miệng và trong lòng của mỗi người. Chức vụ sứ đồ đã chấm dứt, và các nhà truyền giáo và các mục sư trở thành những thầy giáo và giám sát viên thường trú của Hội Thánh (71).
Các câu hỏi ôn tập
Phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh
- Ám chỉ đầu tiên trong Tân Ước về phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh là ở đâu?
- Đức Chúa Jêsus đã hứa gì với các sứ đồ trước khi Ngài thăng thiên? Trích dẫn câu Kinh Thánh.
- Trong ba chương nào của sách Giăng mà Đức Chúa Jêsus đã hứa rằng các sứ đồ sẽ nhận được sự chỉ dẫn và giúp đỡ của Đức Thánh Linh?
- Đức Chúa Jêsus muốn nói gì qua từ “quyền phép”? Trích câu Kinh Thánh.
- Đức Chúa Jêsus đã ám chỉ đến câu nói nào, mà được nói rõ ràng bởi Giăng Báp-tít trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:5? Trích câu Kinh Thánh nơi mà lời nói gốc được tìm thấy.
- Đức Chúa Jêsus đã hạn chế áp dụng về phép báp-têm Đức Thánh Linh của Ngài cho ai?
- Ai là tiền ngữ của “họ” trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2:4? Trích câu Kinh Thánh.
- Về phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh vào ngày lễ Ngũ Tuần, ai được truyền sức mạnh để làm “nhiều dấu kỳ và phép lạ”? Trích câu Kinh Thánh.
- Trích một câu Kinh Thánh bổ sung từ Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ mà chỉ đến việc truyền sức mạnh phép lạ của các sứ đồ.
- Nơi nào là sự ám chỉ trực tiếp tiếp theo về phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh được tìm thấy trong Kinh Thánh và nó được áp dụng cho ai?
- Dựa trên câu nói của Phi-e-rơ trong Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 11:15 (“như trên chúng ta lúc ban đầu”), thì phép báp-têm Đức Thánh Linh diễn ra với mức độ thường xuyên như thế nào trong suốt những năm giữa từ ngày lễ Ngũ Tuần cho đến Cọt-nây?
- Cách nói “mọi xác thịt” ám chỉ trong lời tiên tri của Giô-ên (2:28) nói đến ai?
- Trích hai câu Kinh Thánh nơi ý nghĩa này được làm rõ.
- Hai thuật ngữ quan trọng nào mà Phao-lô đã dùng trong Rô-ma để miêu tả về cả hai danh sách loài người xác thịt?
- Mục đích cho việc nhận được phép báp-têm Đức Thánh Linh của các sứ đồ là gì?
- Mục đích cho việc nhận được phép báp-têm Đức Thánh Linh của dân ngoại là gì?
- Đối tượng tiếp nhận phép báp-têm Đức Thánh Linh duy nhất khác là ai?
1 Cô-rinh-tô 12:13
- Về văn phạm, ai là tác nhân trong câu này mà thực hiện việc làm báp-têm?
- Một người chịu báp-têm vào trong cái gì?
- Phao-lô có ý gì khi ông nói trong 1 Cô-rinh-tô 12:3 rằng “Nếu không cảm Đức Thánh Linh, cũng chẳng ai xưng Đức Chúa Jêsus là Chúa!”?
- Đức Thánh Linh bày tỏ các chỉ dẫn của Ngài khi nào/như thế nào?
- Các cụm từ đồng nghĩa mà Phao-lô đã sử dụng trong 1 Cô-rinh-tô 12:13 là gì?
- Ba cụm từ này ám chỉ đến cái gì?
- Ba cụm từ này không ám chỉ đến cái gì?
- Từ “phép báp-têm” ám chỉ đến cái gì trong 1 Cô-rinh-tô 12:13?
- Bộ phận loài người nào mà Đức Thánh Linh đã dùng để dạy dân Cô-rinh-tô để chịu phép báp-têm, và để thực sự làm báp-têm cho họ? Trích dẫn câu Kinh Thánh.
- Trích ba câu Kinh Thánh mà dạy các khái niệm tương tự như 1 Cô-rinh-tô 12:13.
- Tình trạng thuộc linh của các sứ đồ là gì (về sự cứu rỗi) khi họ nhận được phép báp-têm Đức Thánh Linh?
- Tình trạng thuộc linh của dân ngoại là gì (về sự cứu rỗi) khi họ nhận được phép báp-têm Đức Thánh Linh?
- Yếu tố cần thiết nào để cho dân ngoại được cứu? Trích câu Kinh Thánh.
Việc đặt tay của các sứ đồ
- Nếu phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh xảy ra chỉ 2 lần (ngoại trừ Phao-lô), thì có cách nào khác để cho một người trong thế kỷ đầu tiên làm được phép lạ hay nói tiếng lạ?
- Hai yếu tố quan trọng nào là rõ ràng từ câu chuyện về chuyến viếng thăm của Phi-e-rơ và Giăng đến Sa-ma-ri?
- Nêu tên ba trường hợp trong Tân Ước mà trong đó con người đòi hỏi các sức mạnh phép lạ qua việc đặt tay các các sứ đồ.
- Một người giải thích 1 Ti-mô-thê 4:14 như thế nào khi trong đó có nói rằng Ti-mô-thê đã nhận được ơn ban cho các phép lạ của mình qua các trưởng lão?
Có các sứ đồ thời hiện đại không?
Định nghĩa của một sứ đồ
- Ý nghĩa của thuật ngữ “sứ đồ” là gì?
- Hai ý nghĩa riêng biệt nào mà từ “sứ đồ” được sử dụng trong Tân Ước?
- Có bao nhiêu sứ đồ “chính thức” được nói đến trong Tân Ước?
Các tiêu chuẩn của một sứ đồ
- Ba tiêu chuẩn cần thiết để trở thành một sứ đồ theo nghĩa chức vụ là gì?
Công việc của một sứ đồ
- Trình bày mục đích hai mặt của chức vụ sứ đồ.
- Trong đoạn trích nào mà Đức Chúa Jêsus đã giải thích với các sứ đồ của Ngài rằng họ sẽ chịu trách nhiệm cho việc khởi xướng lối đi đầu tiên vào trong Hội Thánh của Ngài?
- Giải thích tầm quan trọng của việc làm “buộc” và “tháo” của chức sứ đồ.
- Đức Chúa Jêsus đã làm gì sau khi Ngài sống lại?
- Thuật ngữ nào chỉ đến việc rời khỏi nơi âm phủ của Đức Chúa Jêsus?
- Đức Chúa Jêsus đã làm gì trước lúc Ngài thăng thiên?
- Chức vụ phép lạ nào được bao gồm trong các ơn ban cho này?
- Mục đích của các ơn ban cho này là gì?
- Thuật ngữ nào nói rõ về bản chất tạm thời của các sự ban cho? Cho biết văn phạm được sử dụng của nó.
- Phao-lô đã nói đến điều gì trong cách dùng từ “đức tin” của ông?
- Điều gì sẽ có sẵn cho Hội Thánh một khi tất cả thông tin cần thiết để thúc đẩy tôn giáo tín đồ Đấng Christ được bày tỏ cho Hội Thánh ban đầu? Trích dẫn đoạn trích.
- Ơn ban cho nào mà phương thức trước tiên mà qua đó Đấng Christ đã hoàn thành lễ khai mạc tôn giáo của Ngài?
- Phao-lô đã nói về việc nhà của Đức Chúa Trời/Hội Thánh được xây dựng? Trích câu Kinh Thánh.
Thời gian tồn tại của một sứ đồ
- Chuyện gì xảy ra với chức vụ sứ đồ một khi Hội Thánh đã được thành lập và Đạo Đấng Christ có được buổi trình bày đầu tiên?
- Toàn bộ sự bày tỏ được viết xuống của Đức Chúa Trời với loài người giờ đây được chứa đựng ở đâu?
- Tình trạng của Hội Thánh của Hội Thánh hiện nay như thế nào đối với sự cần thiết của các sứ đồ?
Không có sứ đồ ngày nay
- Các nhóm tôn giáo nào ngày nay tuyên bố là có các sứ đồ?
- Làm sao chúng ta biết được không có sứ đồ được Đức Chúa Trời thông qua nào còn tồn tại ngày nay?
- Trong câu Kinh Thánh nào mà Đức Chúa Jêsus đã cảnh báo về sự trỗi dậy của các tiên tri giả?
- Trong câu Kinh Thánh nào mà Phao-lô đã ám chỉ đến “các sứ đồ giả”?
- Tình trạng thuộc linh của bất cứ người nào ngày nay mà tuyên bố là một sứ đồ của Đấng Christ và dạy bất cứ điều gì thêm vào những gì đã có trong Tân Ước là như thế nào? Trích dẫn đoạn trích.
- Ba câu Kinh Thánh nào mà Phi-e-rơ và Giăng đã nói rằng các tiên tri/sứ đồ giả sẽ xuất hiện?
- Người thay thế của Giu-đa, Ma-thia, đã được chọn như thế nào và làm sao chúng ta biết được sự chọn lựa này thực sự được Đức Chúa Trời thực hiện – không phải con người?
- Câu Kinh Thánh nào mà Phao-lô đã liên kết quyền làm sứ đồ của ông với việc nhìn thấy Chúa?
- Ai đã báo cho Phao-lô rằng ông đã được chọn bởi Đức Chúa Trời? Trích hai câu Kinh Thánh.
- Câu Kinh Thánh nào nói rằng Phi-e-rơ đã nhận biết được Đức Chúa Trời đã chọn Ma-thia là người thay thế của Giu-đa?
- Để tuyên bố là một sứ đồ ngày nay, đó là không đủ để có thể làm một phép lạ thôi, vì một sứ đồ cũng phải có năng lực bổ sung nào?
Các sứ đồ ban đầu đã đủ rồi
- Đức Chúa Jêsus muốn nói gì qua cách dùng thuật ngữ “đổi mới” của Ngài trong Ma-thi-ơ 19:28?
- Đức Chúa Jêsus đang ám chỉ đến cái gì trong các nói bóng của Ngài về “ngôi vinh hiển của Ngài”?
- Các sứ đồ “đoán xét” theo cách nào?
- Ai là “mười hai chi phái”?
- Các sứ đồ ngày nay đã phạm tội gì về sự thật rằng cả Đấng Christ và các sứ đồ ban đầu vẫn tiếp tục cai trị và cầm quyền vương quốc của Đấng Christ qua công việc mà họ đã làm trên đất, giờ đây được giữ gìn trong Tân Ước?
Chương 7: Sự Đánh Lừa Về Các Phép Lạ Thời Hiện Đại
Cuối cùng, chúng ta sẽ xem xét các hoàn cảnh văn hóa và xã hội mà góp phần tạo ra sự hiểu sai và xuyên tạc của lời dạy Tân Ước về phép lạ. Khi nền văn minh nước Mỹ tiếp tục bộc lộ tất cả các dấu hiệu của sự sa sút về đạo đức và thuộc linh, thì con người không thể đưa ra nhận xét rằng một sự thay đổi đã xảy ra trong xã hội trong nửa cuối thế kỷ qua đã có một bước chuyển quan trọng từ lý trí đến cảm xúc.
Đặt lòng thành kính không đúng chỗ vào cảm xúc
Chúng ta như một xã hội đã chuyển từ một nền văn hóa in ấn sang một nền văn hóa truyền thông, từ một nền văn hóa “đọc, học và nghĩ” thành một nền văn hóa định hướng theo hình ảnh. Truyền hình, rạp chiếu, máy tính, thiết bị di động, và truyền thông khiến người xem choáng ngợp với các hình ảnh. Phương tiện giao tiếp này đòi hỏi ít sự phân tích nghiêm túc và tính chỉ trích ít hơn, thứ mà bị thay thế bằng cảm giác, ấn tượng và đánh giá bề mặt. Bạn có để ý rằng rất nhiều phim ngày nay có nhịp độ nhanh, hành động được thêm vào và chứa các hiệu ứng đặc biệt không? Bạn có xem đến cuối một bộ phim và cảm thấy chói tai và bị kích thích quá mức? Nhưng, khi trải nghiệm kết thúc, thì bạn nhận ra rằng đơn giản là có rất ít chất lượng – chắc chắn không có bất cứ giá trị tinh thần thực sự nào. Tinh thần của bạn không được nuôi dưỡng với nội dung lành mạnh, nâng cao tinh thần, mặc dù xác thịt của bạn đang bị kích thích và khuấy động (72).
Tôn giáo vẫn bị ảnh hưởng bởi khuynh hướng văn hóa lan rộng này. Thực tế, mức độ mà cảm xúc và cảm giác đã ảnh hưởng đến tín lý và thực hành tôn giáo là rất lớn (73). Các Hội Thánh ngày nay thường tìm cách biện minh cho các hoạt động tôn giáo bất hợp pháp bằng cách làm cho nhầm lẫn tâm linh với cảm giác thể xác hoặc cảm xúc đơn thuần. Nằm sẵn trong sự nhầm lẫn này là một sự hiểu biết sai về bản chất của tâm linh, vai trò của cảm xúc, và tính cần thiết của sự vâng phục. Cảm xúc và cảm giác, thực tế, được xem ngang với việc “nên thánh.” Các thay đổi trong sự thờ phượng hiện đang được ủng hộ là nhằm vào việc kích thích cảm xúc và khiến cho người thờ phượng cảm thấy được tôn giáo của họ. Các ấn tượng cảm xúc này sau đó bị nhầm lẫn với vấn đề tâm linh và tính xác thực tôn giáo.
Vai trò không theo Kinh Thánh của Đức Thánh Linh
Sự nhấn mạnh về cảm xúc được làm rõ trong việc tăng sự nhấn mạnh vào vai trò của Đức Thánh Linh trong suốt vài thập kỷ qua. Một biểu hiện của ảnh hưởng này là xu hướng coi nhẹ việc giải thích Kinh Thánh một cách khách quan – khả năng của chúng ta để đến được với lẽ thật – và, đổi lại, để dựa dẫm hơn vào Đức Thánh Linh để “giảng giải” Kinh Thánh để cho một người có thể hiểu được nó.
Với sự bắt đầu của Phong Trào Ngũ Tuần đương thời vào năm 1990, Đức Thánh Linh được dành cho một sự nhấn mạnh và vai trò mới trong giới tôn giáo Đấng Christ. Thậm chí, các xu hướng thu hút bắt đầu lan rộng khắp các giáo phái và thâm nhập vào các hoạt động tôn giáo của nhiều nhóm khác nhau. Trước tiên, phong trào này đa số bị giới hạn trong các tầng lớp không được giáo dục, không được quan tâm của xã hội nông thôn Mỹ, được biết đến với các xu hướng mê tín và cả tin của họ. Sự ra đời của Chủ Nghĩa Ngũ Tuần qua những năm 1920, 1930 và 1940 đã bao gồm những chuyển động cơ thể điên cuồng, khiến cho các người thực hiện nó bị gán cho cái mác xúc phạm – “những con lăn thần thánh.”
Sau chiến tranh thế giới thứ 2, những người ủng hộ dẫn đầu của Chủ Nghĩa Ngũ Tuần đã giảm bớt hành động của họ và che giấu bản thân trong một bầu không khí tôn trọng và tinh tế học thuật (74). Sức hấp dẫn của họ bắt đầu lan rộng đến nhiều người tôn giáo chính thống, sinh ra nhiều nhóm thu hút không theo truyền thống (ví dụ, các Hội Thánh “tứ linh,” các Hội Thánh “Phúc Âm đầy đủ”, và gần đây nhất, các Hội Thánh Cộng Đồng mà đã mọc khắp đất nước). Giờ đây các nhóm Ngũ Tuần (75) đã “vượt qua đường ray” và đã xây dựng các nhà thờ thời trang, đắt tiền, thu hút một số lượng người tham gia đáng kể.
Các trường hợp này đã tạo nên một sự ảnh hưởng đáng kể đến giới Đạo Đấng Christ nói chung, tạo điều kiện cho sự mất cân bằng giữa cảm xúc và sự hợp lý. Trong quá khứ, việc nhấn mạnh việc nhận biết Kinh Thánh và dựa vào bản chất khách quan của Kinh Thánh đã thành công để cách ly các Hội Thánh khỏi các khuynh hướng chủ quan, phi lý của hiện tượng gây lôi cuốn. Tuy nhiên, với sự suy giảm của nền văn minh phương Tây và sự pha loãng kèm theo của Đạo Đấng Christ theo Tân Ước với niềm tin của nó về tính chất không thể sai lầm được và sự hà hơi của Kinh Thánh, nhiều Hội Thánh đã nắm lấy các cảm xúc và trải nghiệm cá nhân như các tiêu chuẩn của thẩm quyền, cuối cùng là đặt chủ nghĩa cảm xúc vào vị trí của tâm linh.
Trong các Hội Thánh dựa trên cảm xúc, thì đó là bình thường khi nghe các thành viên của họ kể về việc họ nghĩ Đức Thánh Linh đang dẫn dắt và chỉ dẫn họ trong đời sống hằng ngày như thế nào. Họ kể về việc họ có thể “cảm nhận được Đức Thánh Linh dịch chuyển” họ như thế nào, đưa ra “các lời nhắc nhở trong lòng” và thúc giục họ làm những điều gì đó như thế nào. Các nhà giảng đạo tự do khuyên nhủ các thành viên nên “mở lòng với sự chỉ dẫn của Đức Thánh Linh,” để “đốt cháy ngọn lửa của Đức Thánh Linh,” và “làm theo sự thúc đẩy của Ngài.” Sự thay đổi mà đã xảy ra với Hội Thánh tôn kính Đức Thánh Linh đơn giản là một biểu hiện khác của xu hướng tự do để trốn tránh khỏi trách nhiệm cá nhân đối với các suy nghĩ và cách cư xử của chính người đó. Nó là một cái nạng cho những người chưa trưởng thành về mặt cảm xúc, những người đang tuyệt vọng nắm bắt lấy để có được sự an toàn về cảm xúc và sự hoàn thiện về mặt thuộc linh. Bóp méo lời dạy của Kinh Thánh về vai trò của Đức Thánh Linh không phải là câu trả lời. Gán ghép các suy nghĩ xuất hiện trong đầu cho Đức Thánh Linh, hay cảm xúc Đức Thánh Linh đang dẫn dắt một người làm điều gì đó, là những cách thức thuận tiện để làm những gì mà người đó chọn để làm và vẫn cảm thấy công bình. Việc đổ cho Đức Thánh Linh những suy nghĩ là việc làm của một người cho phép người đó cảm thấy các quyết định của mình là vượt ngoài tầm kiểm soát của mình và ở dưới sự chỉ dẫn của Đức Thánh Linh. Kết quả của sự hưng phấn và cảm giác tự do là một công thức cho tai họa thuộc linh. Dần dần, các sự dạy dỗ rõ ràng của Kinh Thánh sẽ phai mờ dần thành không còn quan trọng và không còn thích hợp nữa. Một khi, các người tách biệt bản thân mình khỏi các câu nói khách quan của Kinh Thánh để đi xuống con đường hẻm của những gì mà họ phỏng đoán hay cảm thấy là Đức Chúa Trời đang dẫn dắt họ làm, các tín lý rõ ràng khác của Kinh Thánh thậm chí cũng bị loại bỏ {bao gồm tính duy nhất và độc nhất của Hội Thánh của Kinh Thánh (76), kế hoạch độc quyền và hạn chế của sự cứu rỗi (77), và các thông số chính xác của sự thờ phượng được chấp nhận (77)} – tất cả nhân danh của “sự nên thánh” và “sự trưởng thành thuộc linh.”
Ý nghĩa thực sự của sự nên thánh
Để mang cảm xúc và tính logic vào trong sự cân bằng thích hợp, tức là, theo Kinh Thánh, thì một người phải hiểu được định nghĩa theo Kinh Thánh về “sự nên thánh.” Sự nên thánh theo Kinh Thánh không phải là những gì một người cảm nhận được nhưng là những gì mà một người biết được và làm được. Thuật ngữ “thuộc linh” gắn liền với tâm linh – không phải các cảm xúc. Người “thuộc linh” trong Kinh Thánh là người mà chăm chỉ tìm kiếm để đạt được một sự hiểu biết về ý muốn của Đức Chúa Trời và sau đó chăm chỉ vâng theo ý muốn đó. “Sự nên thánh” bao gồm việc được cai trị bởi nội dung của Kinh Thánh được làm ra bởi Đức Thánh Linh (1 Cô-rinh-tô 2:13-15; 14:37). Vì Lời của Đức Chúa Trời được soạn ra bởi Đức Thánh Linh, để “nên thánh’ thì phải tiếp nhận các lời dạy dỗ của Ngài và gắn kết tâm thần của chính mình vào trong một cuộc gặp gỡ hiệu quả với thông điệp của Đức Thánh Linh (1 Phi-e-rơ 2:2,5). Để nên thánh, thì các suy nghĩ, quan điểm, và lời dạy của Ngài phải được cho phép để tác động lên tâm thần loài người (Rô-ma 15:27).
“Thờ phượng thuộc linh” đòi hỏi phản ứng hợp lý với ý muốn của Đức Chúa Trời với sự thờ phượng mà được định trước và quy định bởi Ngài (Rô-ma 12:1)(79). Đó là sự thờ phượng mà được tuân theo các chỉ dẫn của Đức Thánh Linh về việc thờ phượng Đấng Thánh như thế nào. “Các bài hát thiêng liêng” (Ê-phê-sô 5:19) là các bài hát mà các lời hát của nó chứa đựng các nội dung chính xác theo Kinh Thánh. “Luật pháp là thiêng liêng” (Rô-ma 7:14) bởi vì nguồn gốc của nó là Đức Thánh Linh và nó hình thành một sự bày tỏ chính xác về ý muốn của Đức Thánh Linh. Hơn thế, luật pháp đó nhắm đến tâm trí/tâm thần con người – không phải các cảm xúc con người.
Nhưng những người đề xuất hiện nay của sự thay đổi để lại dấu ấn rằng các buổi nhóm thờ phượng của chúng ta sẽ là “thuộc linh” hơn nếu chúng ta thực hiện việc vẫy cánh tay/bàn tay, các lối trình bày kịch tính, vỗ tay đệm khi hát, những người nữ dẫn dắt thờ phượng, các nhóm biểu diễn độc tấu, hợp xướng, nhạc cụ , v.v. Họ đơn giản là không nắm bắt được ý nghĩa theo Kinh Thánh của “sự nên thánh.” Các sự đổi mới như vậy không thể là “thuộc linh” được bởi vì chúng không được soạn thảo hay cho phép bởi Đức Thánh Linh trong Tân Ước. Chúng là nhân tạo. Nếu một hoạt động thờ phượng không được định ra bởi Đức Thánh Linh, thì chỉ có con người là nguồn gốc của hoạt động đó. Các hoạt động như thế đến hay xuất phát từ tâm trí của con người – không phải từ Đức Chúa Trời. Do đó, họ hình thành nên “tôn giáo tự áp đặt” (Cô-lô-se 2:23) (80). Chúng cũng có thể tạo ra nhiều cảm xúc phấn khích hơn trong vòng những người tham gia, nhưng các cảm giác thú vị như thế không phải những gì mà Kinh Thánh định như là “thuộc linh.” Trình bày một cách rõ ràng, thì thuật ngữ “thuộc linh” trong Kinh Thánh ám chỉ đến việc gắn kết tâm trí/tâm thần của một người vào những suy nghĩ được nối tiếp bởi các việc làm mà hài hòa và tuân theo các chỉ dẫn của Đức Thánh Linh như được nói rõ trong Lời của Ngài, tức là, Kinh Thánh.
Phong trào lôi cuốn từ lâu đã chứng tỏ rằng sự giả tạo bề ngoài và tập trung vào bề ngoài vật chất không phải là dấu hiệu của sự thờ phượng thật, nên thánh. Thực tế, bằng chứng cho thấy rằng các sự thay thế rẻ tiền như vậy đã lừa dối mọi người khỏi sự thờ phượng thật. Trong khi Đức Chúa Trời định cho các cảm xúc của chúng ta phải được dùng đến khi chúng ta thờ phượng, thì việc kích thích cảm xúc thuần túy không nên bị nhầm lẫn với sự thờ phượng thuộc linh, hay trở thành mục tiêu chính của người thờ phượng.
Tuy nhiên, xu hướng nền văn hóa hiện nay của chúng ta là tập trung vào vẻ đẹp bên ngoài và hình ảnh bề mặt đã đánh lừa một số người nghĩ rằng các biểu hiện cảm xúc bên ngoài (như vẫy tay (81), nhảy lên xuống, kêu la, vỗ tay, .v.v.) là tiêu chí để đo lường sự nên thánh. Không gì có thể khác với lẽ thật Kinh Thánh. Nó chắc chắn tạo ra sự kiêu ngạo và phớt lờ cho các thế hệ hiện nay khi phán xét các thế hệ trước là không nên thánh đơn giản bởi vì sự thờ phượng của họ vẻ bề ngoài trông có vẻ bình thường và không có cảm xúc. Sự thật thì sự thờ phượng của họ là rất nên thánh, không chỉ bởi vì nó tuân theo một cách trung tín các chỉ dẫn của chính Đức Thánh Linh, mà còn bởi vì nó bộc lộ được các tâm thần vâng phục, các tấm lòng tôn kính, và mọi người bị bao trùm bởi một sự tĩnh lặng và tôn kính đối với Đấng Tạo Dựng Tối Cao của vũ trụ. Họ đã không thay đổi sự thờ phượng của họ để phù hợp hay kích thích chính bản thân họ. Họ không cần đến chất kích thích nhân tạo để đem đến ý nghĩa cho tôn giáo của họ và cuộc đời của họ. Họ đã tìm thấy sự hài lòng thật sự và thỏa lòng thú vị khi biết được rằng họ đã hòa hợp với Cha của họ và làm theo ý muốn của Ngài.
Mối quan tâm của họ rõ ràng là đặt trên Đức Chúa Trời và mối liên kết chân thành với Ngài. Mối quan tâm đang bị kêu nài cho chúng ta ngày nay bởi những người mà đang mất kết nối với sự thờ phượng thuộc linh chân thành, là dựa vào sự kích thích của người thờ phượng. Hiển thị và trình diễn là kết quả tất yếu, cũng như việc cách tân và thay đổi không bao giờ chấm dứt như “các nhà tư tưởng sáng tạo” (không bằng lòng tuân theo tư tưởng của Đức Chúa Trời) thường xuyên đưa ra các ý tưởng “tươi mới” và các hoạt động mới. Bằng cách nhấn mạnh vào việc kêu gọi sự tập trung vào bản thân và vào “những người dẫn dắt thờ phượng,” tức là, những người biểu diễn chuyên nghiệp, những người thờ phượng trở thành những khán giả mà bị làm cho sao lãng khỏi sự thờ phượng với sự tập trung hướng ra khỏi Đức Chúa Trời.
Những người mà mong muốn cách mạng hóa hoạt động thờ phượng trong thời chúng ta nợ chính bản thân họ để kiểm chứng một cách sốt sắng các động cơ của mình với hy vọng ngăn cản họ khỏi con đường đến với sự hư mất của mình. Họ đã liên kết chính họ với một danh sách dài những người mà đã khởi xướng sự thay đổi – với những hậu quả tai hại (ví dụ, Sáng Thế Ký 3:6; Xuất Ê-díp-tô 32:1-28; Lê-vi ký 10:1-3; Dân số ký 11:1-35; 12:1-16; 14:4; 16:1-50; 1 Sa-mu-ên 8:1-22; 13:8-14; 14:1-35; 2 Sa-mu-ên 6:1-11; 2 Sử ký 26:16-21; Ê-sai 30:9-13; Giê-rê-mi 6:13-19; và những người khác).
Tác động qua lại thích hợp giữa cảm xúc, lý trí và cách cư xử
Nhưng Đức Chúa Trời không muốn chúng ta dùng đến cảm xúc của mình khi chúng ta thờ phượng phải không? Chúng ta không phải yêu mến Ngài hết lòng cũng như hết tâm trí của chúng ta – như Đức Chúa Jêsus đã phán trong Ma-thi-ơ 22:37 sao? Các câu hỏi tu từ này, dĩ nhiên, là phù hợp và được trả lời ở dạng khẳng định. Nhưng câu hỏi tiếp theo nổi bật là: “Nhưng chúng ta phải thờ phượng Đức Chúa Trời với cảm xúc của chúng ta như thế nào?” Sự cải đạo của người cai quản kho tàng cấp cao người Ê-thi-ô-pi-a cho thấy nghi thức theo Kinh Thánh cho việc cân bằng đúng đắn giữa lý trí, tín lý và cảm xúc (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 8:26-39). Trên một chuyến quay lại Ê-thi-ô-pi-xa từ thành Giê-ru-sa-lem, quan chức nhà nước này đang đọc về Ê-sai 53 trong khi đang ngồi trên xe ngựa của mình. Khi Phi-líp gặp được người này, ông đã hỏi rằng, “Ông hiểu lời mình đọc đó chăng?” Bày tỏ mong muốn giúp đỡ của mình, Phi-líp đã ngồi lên xe ngựa của người này và bắt đầu giải thích lời dạy của Kinh Thánh với ông. Lưu ý rằng Đạo Đấng Christ đầu tiên và quan trọng nhất và một sự trải nghiệm nhận thức. Sự nhận thức trí tuệ và sự hiểu biết tâm trí phải có trước và được ưu tiên trước các khía cạnh khác của trải nghiệm tôn giáo. Lúc đầu, thì một cuộc gặp gỡ chân thật với Đức Chúa Trời đòi hỏi sự phân tích hợp lý, logic về lẽ thật.
Sau khi lắng nghe và suy nghĩ về các khái niệm được trình bày rõ ràng bởi Phi-líp, người quản kho đã đưa ra quyết định khi hai người đến gần chỗ có nước. Dựa trên những gì ông đã nghe được từ buổi học Kinh Thánh của ông với Phi-líp, ông đã kết luận rằng ông phải chịu phép báp-têm để làm hài lòng Đức Chúa Trời. Lưu ý rằng khía cạnh thứ hai của trải nghiệm tôn giáo là phản ứng vâng lời – tuân thủ các quy định của Đức Chúa Trời. Lý luận đúng phải dẫn đến các kết luận đúng mà tâm trí, ý muốn, và thân thể của một người phải vâng theo nó. Sự tuân thủ thuộc thể phải kèm theo nhận thức trí tuệ.
Sau khi có được một sự hiểu biết hợp lý về ý muốn của Đức Chúa Trời, đưa ra một quyết định có ý thức, sáng suốt để tuân theo ý muốn đó, và sau đó thực hiện sự vâng phục qua việc chịu nhận chìm, quan quản kho đã “hớn hở đi đường” (83). Đây là một nơi thích hợp cho cảm xúc trong tôn giáo tín đồ Đấng Christ. Đây là một cân bằng chính xác giữa sự lý luận của con người, tín lý thánh, và cảm xúc của con người. Cảm xúc con người phải là phụ và chịu sự kiểm soát của và chỉ dẫn của tâm trí con người – như tâm trí đó chịu sự cai trị bởi lời của Đức Chúa Trời. Cảm xúc phải bắt nguồn từ lý trí. Lý trí phải được ưu tiên hơn cảm xúc. Tiến trình theo Kinh Thánh là: các sự thật, đức tin – và sau đó là cảm nhận.
Tóm tắt
Thời kỳ mà chúng ta đang sống chắc chắn bộc lộ một định hướng mạnh mẽ với cảm xúc gây thiệt hại cho lý trí. Sự gia tăng đáng kể về sự đa dạng quan điểm trong xã hội người Mỹ về đạo đức, tôn giáo – và hầu như là mọi thứ – phản ánh sự thay đổi này khỏi đánh giá hợp lý về lẽ thật. Kết quả đó là hầu hết mọi người đang sống cuộc sống từ quan điểm chủ quan của việc họ cảm thấy như thế nào về mọi thứ. Ra khỏi khuynh hướng văn hóa chống lại các tiêu chuẩn khách quan, tuyệt đối, các tác nhân của sự thay đổi đã phản ứng với những gì mà họ cho là một cách tiếp cận vô cảm đối với tôn giáo bởi các thế hệ đã qua trong Hội Thánh.
Ngoài việc nhận thức này là công bằng hay chính xác, thì chúng ta phải khẳng định lại sự thật rằng cảm xúc có được cho phép trong hoạt động của Đạo Đấng Christ theo Tân Ước. Các cảm xúc được tạo ra bởi Đức Chúa Trời. Một nan đề lớn mà Hội Thánh đang đối mặt đó là những người mà mở đầu sự thay đổi bất hợp pháp đang chỉ định một chức năng không theo Kinh Thánh dành cho các cảm xúc của họ. Họ đang tiếp nhận cảm xúc theo một cách thức và một mức độ mà Đức Chúa Trời chưa vào giờ chỉ định. Chủ nghĩa tự do, dù là trong chính trị hay tôn giáo, dựa dẫm nhiều vào cảm xúc thay vì sự thuyết phục trí tuệ, lý luận, và hợp lý. Lời kêu gọi tự do cho sự thay đổi xuất phát từ cảm xúc, được kiểm soát bởi cảm xúc, và phụ thuộc vào cảm xúc để nó tiếp tục được tồn tại. Sự thật đó là các Hội Thánh tín đồ Đấng Christ trung tín không phải là “nặng-đầu” về sự hợp lý. Sự ưu tiên về trí thức, hợp lý, và phải lẽ hơn cảm xúc trong vòng các Hội Thánh như vậy đơn giản là một sự bày tỏ về sự ưu tiên tương tự – sự cân bằng tương tự – đó là chính Kinh Thánh diễn đạt. Thực vậy, các Hội Thánh như vậy chỉ nhấn mạnh rằng tâm trí, được chỉ dẫn bởi Lời của Đức Thánh Linh, phải chịu sự kiểm soát của thân thể với các niềm đam mê, cảm xúc và sự thèm muốn của nó – thậm chí như chính Phao-lô đã giải thích trong Rô-ma 7:13-8:14.
Nhà giảng đạo thế kỷ 20 Gus Nichols đã từng tranh luận với một nhà giảng đạo thuyết lôi cuốn, người mà sẽ sắp bắt đầu trích dẫn một câu Kinh Thánh, giả vờ quên nó, rồi yêu cầu giúp đỡ từ Đức Thánh Linh, dừng lại đợi chờ sự giúp đỡ của Đức Thánh Linh, và sau đó trích dẫn nó như thể Đức Thánh Linh đã ban cho nó ngay tại chỗ. Nichol quan sát thấy khán giả đã bị tác động sâu sắc bởi âm mưu thông minh này. Tuy nhiên, người đàn ông này cố gắng làm việc đó quá thường xuyên và Nichol tỉnh thức đã sẵn sàng và chờ đợi. Người này đã trích dẫn sai một đoạn trích sau khi trải qua thủ tục kiểm soát cảm xúc của mình. Nichols đã nói với khán giả về lỗi sai rành rành đó và trích dẫn đoạn trích một cách chính xác. Ông đã báo cho các khán giả đang hoảng hốt rằng đó không phải là Đức Thánh Linh, Đấng mà đang giúp người này, nhưng đó là một trong các thần lừa gạt được ám chỉ đến trong 1 Ti-mô-thê 4:1 (84).
Một ví dụ sâu sắc khác về cách các tín đồ Đấng Christ trung tín đời trước đã chống trả các quan điểm sai lầm về cảm xúc và các việc làm mầu nhiệm được cho là của Đức Thánh Linh được nhìn thấy trong một sự cố trong cuộc đời của một nhà giảng đạo, tác giả và nhà tranh luận thế kỷ 20 khác, George Dehoff:
Tôi đang giảng dạy trong một cuộc họp trại lớn ở Lepanto, Arkansas … Một đêm trước khi cầu nguyện, chúng tôi đang đứng hát và một người đàn ông đi ngay xuống lối đi giữa, mặc một bộ đồ vét. Người này đã bắt tay tôi, đi lên ngay bục giảng và nói với tôi tên của mình, và nói rằng, “Chúa đã nói với tôi và bảo tôi đến và giảng tối nay.” Và đương nhiên là điều đó làm tôi khó chịu. Có những người anh em nhờ tôi dẫn dắt buổi nhóm họp này và Chúa đưa đến người khác. Tôi đã nói, “Chúa đã nói với anh lúc nào?” Người này đã nói rằng, “Chiều nay.” Tôi lại hỏi, “Chiều nay lúc mấy giờ?” Người này nói, “À, à, khoảng 3 giờ.” Rồi tôi nói rằng, “Bạn của tôi à, hãy ngồi xuống và quên về nó đi bởi vì Ngài đã nói với tôi lúc bảy giờ và bảo tôi là Ngài đã thay đổi ý định của Ngài, để cho tôi giảng trước và mặc kệ anh đi” (85).
Những người chúng ta đang sống hiện này đã được đi trước bởi các tín đồ Đấng Christ vĩ đại, đầy hiểu biết, những người mà đã thực tế phơi bày ra các sai lầm và trình bày lẽ thật một cách chính xác về phép màu với rất nhiều người – và nhu cầu để kiềm chế cảm xúc của loài người để cho gắn kết với cách phân tích hợp lý của mạch văn. Thật là một bi kịch đời đời khi có quá nhiều tín đồ Đấng Christ ngày nay đang sa vào những trò lừa và thủ đoạn tương tự mà những người này đã thao tác một cách chính xác và thành thạo – những thủ đoạn mà được sinh ra bởi cùng một thương vụ theo cảm xúc và được cho là sự can thiệp mầu nhiệm của Đức Thánh Linh (86).
Các câu hỏi chương bảy
Đặt lòng thành kính sai lầm vào cảm xúc
- Bước chuyển quan trọng nào đã xảy ra trong nền văn minh Mỹ trong nửa thế kỷ qua?
- Các Hội Thánh tìm cách nào để biện minh cho các hoạt động tôn giáo không hợp pháp?
- “Sự nên thánh” thường được xem ngang với cái gì?
- Các sự thay đổi thờ phượng nhân tạo nhắm đến cái gì?
- Các kích thích cảm xúc mắc sai lầm gì?
Vai trò không theo Kinh Thánh của Đức Thánh Linh
- Một biểu hiện rõ ràng của việc nhấn mạnh vào cảm xúc là gì?
- Dưới sự ảnh hưởng này, một người có khuynh hướng hạ thấp cái gì?
- Đổi lại, một người có khuynh hướng phản ứng lại cái gì?
- Sự mất cân bằng nào sinh ra từ việc xuất hiện của Chủ nghĩa Ngũ Tuần và sự ảnh hưởng của phong trào lôi cuốn mà đã bắt đầu vào những năm đầu thế kỷ 20?
- Sự nhấn mạnh nào trong quá khứ đã tách biệt cách Hội Thánh khỏi các khuynh hướng chủ quan, phi lý trí của hiện tượng lôi cuốn?
- Những gì đã được nhiều Hội Thánh chấp nhận như là các tiêu chuẩn thẩm quyền của họ?
- Cuối cùng họ đã cất giữ những gì trong hoạt động Đạo Đấng Christ của họ?
- Việc gán những suy nghĩ và hành vi của chính mình cho Đức Thánh Linh giúp một người lảng tránh được điều gì?
- Một số người gán ghép các tư tưởng xuất hiện trong đầu họ với cái gì?
- Sự gán ghép như vậy thuận tiện giúp cho một người làm việc gì?
- Việc đỗ cho Đức Thánh Linh những tư tưởng và việc làm của một người cho phép người đó làm điều gì?
- Chuyện gì sẽ xảy ra một khi những người này tự thuyết phục chính mình rằng các tư tưởng và việc làm của họ là được chỉ dẫn bởi Đức Thánh Linh?
Ý nghĩa thực sự của sự nên thánh
- Thuật ngữ “thuộc linh” gắn liền với điều gì và không gắn liền với điều gì?
- Sự nên thánh bao gồm những điều gì?
- Vì Lời của Đức Chúa Trời được viết ra bởi Đức Thánh Linh, thì nó nói vì về sự thuộc linh?
- “Sự thờ phượng thuộc linh” là gì? Trích một đoạn Kinh Thánh.
- “Các bài hát thuộc linh” là gì? Trích một đoạn Kinh Thánh.
- Theo cách nào thì luật pháp là “thuộc linh”?
- Theo cách nào khác mà luật pháp được nói là thuộc linh?
- Tại sao việc vỗ tay trong sự thờ phượng, hợp xướng, các nhóm ngợi khen, các nhạc cụ, và những người nữ dẫn dắt sự thờ phượng không được xem là các hoạt động “thuộc linh”?
- Nếu một hoạt động thờ phượng không được định ra bởi Đức Thánh Linh, thì ai là nguồn của hoạt động đó?
- Nếu một hoạt động thờ phượng không xuất phát từ tâm trí của Đức Chúa Trời, thì nó bắt nguồn từ đâu?
- Phao-lô đã dùng cách diễn đạt gì để gán cho sự thờ phượng như vậy?
- Cho một câu trình bày rõ ràng về ý nghĩa của thuật ngữ “nên thánh.”
- Mặc dù các thế hệ tín đồ Đấng Christ ban đầu có thể đã bày tỏ ở bên ngoài một cách biểu cảm về sự thờ phượng hơi bình thường và không có cảm xúc, nhưng hai điều gì cho thấy rằng họ đang thờ phượng bằng tâm thần?
- Sự thờ phượng của những thế hệ như vậy không phù hợp với ai?
- Bốn điều gì mà sẽ là kết quả không thể tránh khỏi khi sự thờ phượng được đổi mới để tập trung vào việc làm cho người thờ phượng thấy hứng thú?
- Những người thờ phượng trở thành cái gì khi sự chú ý hướng về “những người dẫn dắt thờ phượng”?
- Trích ba đoạn Kinh Thánh nơi mà những người thời Cựu Ước đã khơi mào sự thay đổi với các hậu quả khủng khiếp.
Tác động qua lại thích hợp giữa cảm xúc, lý trí và cách cư xử
- Nhận diện ba “cụm từ” mà người hoạn quan Ê-thi-ô-pi đã thực hiện trong phản ứng của ông với Tin Lành mà nói rõ vai trò của cảm xúc trong Đạo Đấng Christ. Trích đoạn Kinh Thánh.
- Trình bày sự cân bằng chính xác giữa các lý luận của con người, tín lý thánh, và cảm xúc con người.
- Cảm xúc nên được dựa vào cái gì?
- Ba từ nào tóm tắt lại chuỗi nối tiếp theo Kinh Thánh?
Tóm tắt
- Hầu hết mọi người đang sống với quan điểm chủ quan nào?
- Vì cảm xúc được cho phép cho hoạt động của Đạo Đấng Christ và Đức Chúa Trời đã tạo ra các cảm xúc, nan đề chính nào mà Hội Thánh đang đối mặt?
- Điều gì đã dành sự ưu tiên trong tôn giáo cho sự bày tỏ bằng trí tuệ, logic và lý trí hơn là sự bày tỏ bằng cảm xúc?
- Trong đoạn trích nào mà Phao-lô đã nhấn mạnh tính cần thiết của việc thân thể phải chịu kiểm soát với các tham vọng, cảm xúc, và khao khát của nó thông qua tâm trí như thể nó được chỉ định bởi Đức Thánh Linh?
Chương 8: Kết Luận
Dựa trên tất cả các dữ liệu Kinh Thánh được đưa ra trong nghiên cứu này, các kết luận cụ thể khá là rõ ràng. Vì không có sứ đồ nào còn sống ngày nay, và vì phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh là duy nhất dành cho các sứ đồ (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2) và những người cải đạo dân ngoại đầu tiên (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 10), cho nên không có phép báp-têm bằng Đức Thánh Linh nào ngày nay. Cũng vậy, không có việc chữa lành phép lạ nào ngày nay. Không có việc nói tiếng lạ ngày nay. Yếu tố phép màu trong tôn giáo tín đồ Đấng Christ đã được chấm dứt bởi Đức Chúa Trời vào gần cuối thế kỷ thứ nhất, vì mục đích của các phép lạ là để khẳng định nguồn gốc thánh của thông điệp của người nói. Một khi sứ đồ cuối cùng qua đời, các phương cách mà bởi đó năng lực phép lạ được thực hiện đều bị bãi bỏ. Với sự hoàn thiện của sự bày tỏ của Đức Chúa Trời với loài người, giờ đây đã có sẵn trong Kinh Thánh, thì mọi người đang sống ngày nay có được tất cả những gì cần thiết để hoàn thiện và hưởng thụ sự trọn vẹn của sự tồn tại của một tín đồ Đấng Christ (2 Ti-mô-thê 3:16-17; 2 Phi-e-rơ 1:3; Ê-phê-sô 4:14).
Các việc được cho là nói tiếng lạ và phép lạ ngày nay đơn giản là không có phù hợp với miêu tả của Kinh Thánh về phép lạ. Chúng không thể xác minh được, không rõ ràng, và giả tạo. Việc “chữa lành mầu nhiệm” của thời nay chứa đựng vẫn còn các cơn đau nhức mơ hồ, không nhìn thấy được, không đo lường được như viêm khớp và đau đầu. Nhưng, trong Tân Ước, người ta được làm cho sống lại (Ma-thi-ơ 10:8; 11:5) – thậm chí là nhiều ngày sau khi chết (ví dụ, Giăng 11:17). Các bộ phận cơ thể bị co rút hay bị cắt đứt đều được phục hồi lại ngay lập tức (ví dụ, Lu-ca 6:6-10; 22:50-51). Những người mù bẩm sinh được phục hồi thị lực của họ lại (ví dụ, Giăng 9:1). Những người tàn tật từ khi sinh ra đời được ban cho sức mạnh để đi lại được (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 3:2). Các phép lạ thế kỷ đầu tiên không bị giới hạn chỉ bởi một số bệnh tật và bệnh tâm thần mà không thể được chữa khỏi bởi các phương cách tự nhiên, hay bởi các cách điều chỉnh tâm thần về phần đã được xác nhận. Đức Chúa Jêsus đã chữa lành “mọi thứ tật-bịnh trong dân” (Ma-thi-ơ 4:23). Ngài đã đi “chữa lành các thứ tật bịnh” (Ma-thi-ơ 9:35). Ngài ban cho các sứ đồ sức mạnh tương tự “để chữa các thứ tật-bịnh” (Ma-thi-ơ 10:1). Không có bệnh tật nào là không chữa được trong Tân Ước (so sánh Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 28:8-9). Các trường hợp như vậy xảy ra ở đâu ngày nay? Có khi nào mà ai đó được phục hồi một chi bị cắt đứt trong một tai nạn? Có khi nào mà một người tự xưng là “người chữa lành đức tin” khiến được bất cứ ai sống lại từ kẻ chết không? Những người làm phép lạ mà chữa được người mù, tàn tật, bại liệt và những người mà bệnh tật của họ được chứng minh bằng tài liệu là họ đã mắc nó trong nhiều năm (Giăng 5:3,5), những người tự xưng này ở đâu? Những nhà truyền tin là sẽ đi đến các bệnh viện nhi và khắc phục các dị tật và bệnh bẩm sinh đang ở đâu? Những người mà đã ăn phải một lượng chất độc gây chết người hay bị cắn bởi một con rắn cực độc mà vẫn không hề hấn gì (Mác 16:18; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 28:3-5) đang ở đâu? Tất cả những điều này đưa đến một kết luận đó là: “các phép lạ” được thực hiện ngày nay không hơn gì “các việc kỳ dối giả” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:9) 87, tức là, lừa đảo, giả dối, và lừa dối (pseudous) (88). Một người nghiên cứu lẽ thật thành thật phải đưa ra kết luận rằng thời kỳ phép lạ đã qua rồi.
Nhưng con người luôn luôn tìm kiếm điều gì đó mới mẻ, thứ gì đó thú vị, và điều gì đó hào nhoáng. Họ nắm lấy những thứ hấp dẫn và giật gân, họ muốn một lối đi dễ dàng, và họ muốn điều gì đó mà khiến cho họ cảm thấy tâm linh và an toàn – mà không phải đối diện với các trách nhiệm cá nhân. Do đó, sẽ luôn luôn có những người mà thay vì nghiên cứu Kinh Thánh để tìm hiểu xem những điều này liệu có đúng như vậy không (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 17:11), thì họ sẽ đơn giản giải phóng tâm trí của mình, cảm giác thuộc linh của mình, và năng lực được Đức Chúa Trời ban cho của họ để “xem xét mọi việc, điều chi lành thì giữ lấy” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:21).
Đạo Đấng Christ chân thật ngày nay chỉ đơn giản bao gồm việc nhận lấy Lời được viết xuống của Đức Chúa Trời, và nghiên cứu nó một cách cẩn thận để học biết những gì mà Đức Chúa Trời mong muốn từ chúng ta: đơn giản là sự suy ngẫm và bày tỏ về Lời của Đức Chúa Trời – không có ban nhạc kèn trống hay sân khấu xiếc, không có ánh sáng, hay giấc mơ, sự hiện thấy, hay sự đột ngột bất ngờ mà được gán cho Đức Thánh Linh. Con đường lên thiên đàng cần việc nghiên cứu trung thực, chuyên sâu về sự bày tỏ được viết xuống, và một đời sống chăm chỉ rèn luyện chính mình và tự từ chối để cố gắng kết hợp các thuộc tính tâm linh vào trong đời sống của mình – các thuộc tính như nhẫn nại, sự thương xót, lòng nhân từ, khiêm nhường, sự tha thứ, chân thành, trung thực, bình an trong tâm hồn, vui vẻ, và đời sống đạo đức tinh sạch. Không có con đường tắt nào đến với sự nên thánh. Phép mầu không phải là câu trả lời. Thậm chí trong thế kỷ đầu tiên, các phép lạ cũng không được định để phát triển các thuộc tính tâm linh này.
Chắc chắn là Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta và đã hứa chăm sóc cho chúng ta (ví dụ, Ma-thi-ơ 6:33). Nhưng các công việc của Ngài trong vũ trụ và trong cuộc đời của chúng ta hiện nay được thực hiện một cách kín đáo thông qua các quy luật tự nhiên mà Ngài đã đặt để. Sau thế kỷ thứ nhất, Ngài đã không – và sẽ không – vi phạm chính các mục đích của Ngài bằng cách can thiệp vào các quy luật tự nhiên này để thực hiện một phép lạ. Trong phân tích cuối cùng, chúng ta có nghĩa vụ tìm kiếm sự giúp đỡ của Ngài bằng cách lắng nghe các chỉ dẫn được tìm thấy trong Lời được viết xuống của Ngài.
Hãy tự hỏi mình câu hỏi này: điều nào là chắc chắn, luôn luôn đúng và đáng tin cậy, luôn luôn thành tín và không bao giờ thay đổi: trải nghiệm chủ quan của loài người – hay Lời thánh của Đức Chúa Trời? Chỉ có những lời đến từ Đức Chúa Trời, trước đây và bây giờ, sẽ sắm sẵn và trang bị chúng ta cho sự đời đời. Như Phi-e-rơ đã nói với Đức Chúa Jêsus rằng, “Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời” (Giăng 6:68). Cọt- nây được chỉ dẫn để liên lạc với Phi-e-rơ rằng, “Người ấy sẽ nói cho ngươi những lời, mà nhờ đó, người và cả nhà ngươi sẽ được cứu rỗi” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 11:14). Trong một dịp biện minh của Phao-lô với Ạc-ríp-ba và Bốt-tiu Phê-tu, thì đột nhiên Phê-tu kêu lên rằng, “Hỡi Phao-lô, ngươi lãng trí rồi; ngươi học biết nhiều quá đến nỗi ra điên cuồng.” Phản ứng bình tĩnh, lạnh nhạt và thông minh của Phao-lô đại diện cho Đạo Đấng Christ thực sự: “Bẩm quan lớn Phê-tu, tôi chẳng phải lãng trí đâu; tôi nói đó là những lời thật và phải lẽ” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 26:25). Đức Chúa Jêsus đã nói với Đức Cha rằng, “Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; lời Cha tức là lẽ thật” (Giăng 17:17). Khi Satan cố gắng để dụ Đức Chúa Jêsus thực hiện một phép lạ, Đức Chúa Jêsus đã khẳng định rằng: “Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng của Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 4:4).
Câu hỏi ôn tập chương tám
- Ai đã chấm dứt yếu tố phép lạ trong thế gian, và khi nào?
- Chuyện gì xảy ra một khi sứ đồ cuối cùng qua đời?
- Bây giờ điều gì khiến cho mọi người ngày nay hoàn thiện và hưởng thụ sự trọn vẹn của sự tồn tại của một tín đồ Đấng Christ? Trích một câu Kinh Thánh.
- Nêu ra hai ví dụ của các phép lạ thế kỷ thứ nhất mà cho thấy được các phép lạ tự xưng ngày nay là lừa gạt.
- Trích một đoạn trích mà cho thấy rằng không có bệnh tật nào mà được miễn điều trị ngay lập tức và đầy kỳ diệu bởi Đức Chúa Jêsus và các sứ đồ của Ngài.
- Giống như những gì được miêu tả trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:9, các dạng “dấu kỳ” nào đang được thực hiện ngày nay?
- Nêu một số thuật ngữ mà mô tả những gì mà hầu hết mọi người đang tìm kiếm mà kết hợp với các niềm tin tôn giáo của họ.
- Thay vì giải phóng trí óc và ý thức thuộc linh, thì chúng ta nên làm gì? Trích hai đoạn Kinh Thánh.
- Đạo Đấng Christ chân thật bao gồm những gì ngày nay?
- Con đường đến thiên đàng bao gồm những gì?
- Các phép lạ trong thế kỷ thứ nhất không được định để làm gì?
- Nếu các phép lạ không xảy ra ngày nay, Đức Chúa Trời có thể/thực hiện nó theo cách nào trong đời sống của chúng ta?
- Một khi thời kỳ phép lạ qua đi, Đức Chúa Trời sẽ không làm gì?
- Trách nhiệm tìm kiếm sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời theo cách nào?
- Điều gì luôn luôn chắc chắn, luôn luôn đúng và đáng tin cậy, trung tín và không bao giờ thay đổi. Trích hai câu Kinh Thánh.
Đáp án cho các câu hỏi ôn tập
Chương 1
- Lý lẽ – 1:18
- Các cảm nhận của chúng ta, những gì mà người nào đó nói là đã xảy ra với họ, và các trải nghiệm của chúng ta.
- Để hỏi rằng: Kinh Thánh dạy cái gì?
- Tôi có chân thật tin Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời không?
- 2 Ti-mô-thê 2:15; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 17:11.
- Những gì mà Kinh Thánh thực sự nói.
Chương 2
- “Phép lạ,” “dấu kỳ,” và “sự lạ.”
- Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2:22; 2 Cô-rinh-tô 12:12; Hê-bơ-rơ 2:4.
- “Việc làm,” và “quyền phép.”
- Hoạt động bên ngoài các quy luật tự nhiên.
- Sự ra đời của một đứa bé; vẻ đẹp của một bông hoa, việc thoát được một tai nạn trong gang tấc.
- Quá trình thông thường của tự nhiên.
- Sự cung cấp.
- Xem lại biểu đồ trong chương 2.
- Sự sáng suốt của linh hồn.
- Sự sáng suốt của linh hồn.
- Một ngôn ngữ loài người được biết đến.
- Lời của Đức Chúa Trời.
Chương 3
- Sự xác nhận.
- Xác nhận hoặc chứng thực các lời truyền miệng của người nói.
- Mác 16:20; Hê-bơ-rơ 2:3-4; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 8:6; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 4:29-30; và những đoạn khác đã được liệt kê.
- Chúng hợp pháp hóa và xác nhận nó.
- Các dấu kỳ mà Đức Chúa Jêsus đã thực hiện – Giăng 3:2.
- (1) Các dấu kỳ xác nhận Đạo; (2) Đạo được trình bày; (3) Đạo tạo nên đức tin.
- (1) Phao-lô đã trình bày về Tin Lành cho quan thống đốc; (2) Phao-lô đã làm phép lạ qua việc làm cho Ê-li-ma bị mù; (3) quan thống đốc tin vào lời dạy của Tin Lành – Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 13:12.
- Xem biểu đồ trong chương 3.
- Không có gì cả – các ơn ban cho được ban bởi Đức Thánh Linh mà không liên quan gì đến tình trạng thuộc linh, chứ chưa nói đến sự ưu tiên.
- Để giảm đau đớn – mà hoàn toàn chỉ là một lợi ích/tác dụng phụ.
- Sự khó nhọc và đau đớn – 1 Cô-rinh-tô 10:13; 2 Ti-mô-thê 3:12; 1 Phi-e-rơ 4:12-17.
- Họ đã thất bại, bởi vì các tín đồ Đấng Christ đã trải qua các sự đau đớn tương tự như những người không tin.
- Thiểu số.
- Các phép lạ không có mục đích của chúng để bày tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời hay giảm bớt sự đau đớn, bệnh tật và sự đau khổ.
- Đức tin.
- Người chết và người bị quỷ ám.
- Người mù từ lúc sinh ra – Giăng 9.
- Phao-lô (dầm trong thịt), Ti-mô-thê (sự khó ở, và bệnh dạ dày), Trô-phim. Ép-ra-phô-đích.
- Một phép lạ.
- Các phép lạ bổ sung.
- Giăng 20:30-31.
- Người không tin.
- Bằng việc tiếp nhận việc đặt tay của các sứ đồ.
- Chữa lành thuộc thể.
- Rằng các lời của Ê-li là “lời của Đức Chúa Trời” – 1 Các Vua 17:24.
Chương 4
- Một khi Đức Chúa Trời đã bày tỏ toàn bộ thông tin mà Ngài muốn có sẵn cho loài người.
- Sự mầu nhiệm.
- 2 Phi-e-rơ 1:3.
- Lời được viết xuống của Đức Chúa Trời.
- Sự đầy đủ của nó – 1 Cô-rinh-tô 1:22; 2 Ti-mô-thê 3:16-17.
- “Thất bại,” “chấm dứt,” “tan biến đi,” và “bị bỏ đi” – 1 Cô-rinh-tô 13:8.
- “Chưa trọn vẹn”
- “Sự trọn lành.”
- Đức Chúa Jêsus, Thiên Đàng, sự thành nhân/tình yêu thương của tín đồ Đấng Christ.
- Các ơn ban cho phép lạ.
- Lời được bày tỏ trọn vẹn của Đức Chúa Trời.
- “Sự toàn bộ,” “tất cả,” “hoàn thiện,” “không thiếu gì cả,” “kết thúc, hoàn thành, không còn thiếu gì để hoàn thành.”
- Một đứa trẻ.
- Một người lớn.
- “Điều con trẻ.”
- Một tấm gương mờ so với mặt đối mặt.
- Nó chỉ ra điểm hoàn thành của các ơn ban cho phép lạ.
- Sự hiệp một của tất cả các tín đồ.
- Hệ thống của đức tin, toàn bộ thông tin đầy đủ mà thiết lập nên Đạo Đấng Christ – Giu-đe 3, Ga-la-ti 1:23; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 6:7; 13:8; 14:22; 16:5.
- Sự tổng kết và tổng thể của tín lý tín đồ Đấng Christ.
Chương 5
- Một ngôn ngữ loài người được biết đến mà xa lạ với người nói.
- Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2
- Các ngôn ngữ loài người được biết đến.
- Một tiếng ồn vô nghĩa.
- “Trong thế gian”
- Ê-sai 28:11-12
- Bởi vì nó sẽ chứng tỏ rằng người nói tiếng lạ được ban sức mạnh bởi Đức Chúa Trời để nói thứ tiếng được người không tin nói, bởi đó khẳng định nguồn gốc thánh của các lời của người nói tiếng lạ.
- Với loài người, bằng ngôn ngữ loài người.
- Những người không tin.
- (1) lần lượt từng người một; (2) không có hơn ba người nói tiếng lạ mỗi buổi nhóm, và (3) người nói tiếng lạ phải im lặng nếu như không có người thông giải.
Chương 6
- Ma-thi-ơ 3:11
- Họ sẽ được ban cho sức mạnh – Lu-ca 24:49
- 14-16
- Sự truyền sức mạnh của Đức Thánh Linh – Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:8
- Rằng Đức Chúa Jêsus sẽ làm báp-têm với Đức Thánh Linh – Ma-thi-ơ 3:11
- Các sứ đồ.
- Các sứ đồ – Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:26.
- Các sứ đồ – Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2:43.
- Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 5:12; 14:3; 15:12
- Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 11:15-17 – Dân ngoại.
- Nó đã không xảy ra.
- Hai nhóm người, tức là, dân Do Thái và dân ngoại.
- Ê-sai 40:5; Lu-ca 3:6; Ê-sai 66:23.
- “Chẳng có ai” và “tất cả.”
- Trang bị cho họ để nói và khẳng định lẽ thật được hà hơi.
- Để thuyết phục các tín đồ Đấng Christ Do Thái rằng dân ngoại là các ứng cử viên đủ điều kiện để nhận được Tin Lành và bước vào vương quốc.
- Phao-lô.
- Đức Thánh Linh.
- Một thân của Đấng Christ.
- Ông muốn nói rằng Đức Thánh Linh sẽ phải bày tỏ thông tin đó trước khi một người có thể xác nhận nó.
- Khi Ngài truyền sức mạnh cho các sứ đồ để nói và viết thông tin đó.
- “Qua Đức Thánh Linh,” “qua cùng Thánh Linh,” và “bởi cùng Thánh Linh.”
- Việc làm của Đức Thánh Linh.
- Tình trạng ở trong Đức Thánh Linh.
- Phép báp-têm bằng nước của Đại Mạng Lệnh.
- Phao-lô – Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 18:8.
- Giăng 3:5; Ê-phê-sô 5:26; Tít 3:5.
- Họ đã được cứu rồi.
- Họ vẫn chưa được cứu.
- Nước – Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 10:47-48.
- Sự đặt tay của các sứ đồ.
- (1) Chỉ có các sứ đồ mới có thể truyền năng lực làm phép lạ và (2) tất cả những người có thể làm phép lạ nhận được năng lực của họ một cách gián tiếp từ các sứ đồ – không phải trực tiếp từ Đức Chúa Trời.
- Phi-líp, những người Ê-phê-sô, và Ti-mô-thê.
- 2 Ti-mô-thê 1:6 sử dụng giới từ có nghĩa là “qua” hay “bằng” trong khi 1 Ti-mô-thê 4:14 sử dụng giới từ có nghĩa là “ở giữa” hay “với.” Ơn ban cho của Ti-mô-thê đến qua Phao-lô trong lúc các trưởng lão đang có mặt để dành sự ủng hộ.
- Người được sai đi, người đưa tin, phái viên, đại biểu.
- (1) Không chính thức để chỉ đến một người được gửi đi bởi những người khác trong một nhiệm vụ và (2) chức vụ như là một sứ giả thánh.
- 14 – 12 sứ đồ ban đầu, cộng với người thay thế cho Giu-đa (Ma-thia), và Phao-lô.
- (1) Nhìn thấy Chúa và là một nhân chứng cho sự sống lại của Ngài, (2) được đặc biệt chọn lựa bởi Chúa hay Đức Thánh Linh, và (3) được ban cho sức mạnh làm phép lạ.
- (1) khai mạc tôn giáo tín đồ Đấng Christ và (2) viết nên Tân Ước.
- Ma-thi-ơ 16:18-19.
- Thì bị động tương lai hoàn thành của tiếng Gờ-réc có nghĩa là các sứ đồ đơn giản chỉ cần triển khai các chi tiết đã được Đức Chúa Trời phê duyệt trước liên quan đến Đạo Đấng Christ.
- Ngài đã đi xuống Âm Phủ.
- Sự sống lại.
- Ngài ban phát các ơn ban cho.
- Chức vụ sứ đồ.
- Để trang bị và khai mạc Hội Thánh.
- “Cho đến khi” – trạng từ thời gian.
- Thời điểm khi mà tất cả mọi người có thể tiếp xúc được với toàn bộ thông điệp của Đức Chúa Trời dành cho con người.
- Các phương tiện có sẵn để lớn lên và thành nhân trong Đấng Christ – 1 Cô-rinh-tô 13:8-13.
- Chức vụ của một sứ đồ.
- Nền tảng của các sứ đồ và các nhà tiên tri – Ê-phê-sô 2:20.
- Nó tan biến mất cùng với thời kỳ của các phép lạ.
- Trong Kinh Thánh.
- Các sứ đồ không còn cần đến nữa.
- Công Giáo, Hội Mộc Môn, và một số Hội Ngũ Tuần.
- Không có ai có thể đạt được các tiêu chuẩn của một sứ đồ được nêu ra trong Kinh Thánh.
- Ma-thi-ơ 7:15.
- 2 Cô-rinh-tô 11:13.
- Người đó bị nguyền rủa – Ga-la-ti 1:8.
- 2 Phi-e-rơ 2:1; 1 Giăng 4:1; Khải Huyền 2:2.
- Họ bốc thăm (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:26) – qua đó Chúa đưa ra quyết định – Châm ngôn 16:33.
- 1 Cô-rinh-tô 9:1.
- A-na-nia – Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 22:14; cũng như Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 9:15.
- Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:24 – “nội hai người này, ai là người Chúa đã chọn”.
- Năng lực để truyền sức mạnh cho những người khác.
- Thời kỳ tín đồ Đấng Christ.
- Nơi ở hiện tại của Ngài ở bên hữu của Đức Chúa Trời.
- Họ đã thiết lập các thông số của Đạo Đấng Christ và sau đó trình bày rõ ràng Lời của Đấng Christ mà bởi đó tất cả đều bị phán xét.
- Một cách nói bóng đến Hội Thánh – dân Y-sơ-ra-ên thuộc linh.
- Họ phạm tội xem thường và làm mất giá trị của sự cai trị hiện tại của các sứ đồ ban đầu, những người mà cùng với Đấng Christ, đã không nhường thẩm quyền hay sự cai trị hiện tại của họ cho bất cứ người nào ở trên đất. Bởi đó, chúng ta không cần đến các sứ đồ ngày nay.
Chương 7
- Một bước chuyển từ lý trí sang cảm xúc.
- Bằng cách làm nhầm lẫn sự nên thánh với các cảm giác hay cảm xúc thường.
- Với cảm xúc và cảm nhận.
- Với việc kích thích các cảm xúc và khiến cho những người thờ phượng cảm nhận được tôn giáo của họ.
- Sự nên thánh và tính xác thực của tôn giáo.
- Tăng việc nhấn mạnh vào vai trò của Đức Thánh Linh.
- Cách giải nghĩa khách quan của Kinh Thánh – khả năng để đến được với lẽ thật.
- “Sự soi sáng” Kinh Thánh của Đức Thánh Linh để cho một người có thể hiểu được nó.
- Một sự mất cân bằng giữa cảm xúc và sự hợp lý.
- Biết Kinh Thánh và dựa vào bản chất khách quan của Kinh Thánh.
- Các cảm nhận và trải nghiệm cá nhân.
- Chủ nghĩa cảm xúc thay thế cho sự thuộc linh.
- Trách nhiệm cá nhân.
- Đức Thánh Linh và sự dẫn dắt của Ngài.
- Để làm những gì một người chọn để làm và vẫn cảm thấy công bình.
- Để cảm thấy các quyết định của mình không phải do mình kiểm soát mà chịu sự chỉ dẫn của Đức Thánh Linh.
- Các sự dạy dỗ rõ ràng của Kinh Thánh sẽ trở thành không còn quan trọng và không còn phù hợp nữa.
- Nó thuộc về tâm thần – không phải cảm xúc.
- Chịu sự chỉ dẫn bởi thực chất theo Kinh Thánh và nội dung được soạn ra bởi Đức Thánh Linh.
- Để tiếp nhận sự dạy dỗ của Ngài và để gắn kết tâm thần của chính người đó trong một cuộc gặp gỡ có kết quả với thông điệp của Đức Thánh Linh.
- Đáp trả một cách hợp lý với ý muốn của Đức Chúa Trời với sự thờ phượng mà được định trước và miêu tả bởi Ngài – Rô-ma 12:1.
- Các bài hát mà có lời chứa đựng các nội dung chính xác theo Kinh Thánh – Ê-phê-sô 5:19.
- Nguồn của nó là Đức Thánh Linh và nó thiết lập nên một sự bày tỏ chính xác ý muốn của Ngài.
- Nó hướng đến tâm trí/tâm thần của con người.
- Chúng không được viết hay được cho phép bởi Đức Thánh Linh.
- Con người bình thường.
- Tâm trí của con người.
- “tôn giáo theo ý riêng” – Cô-lô-se 2:23.
- Gắn kết tâm trí/tâm thần của một người trong suy nghĩ và việc làm mà hài hòa và phù hợp với các chỉ dẫn của Đức Thánh Linh như được nói rõ trong Lời của Ngài, tức là, Kinh Thánh.
- (1) Sự thờ phượng của họ phù hợp một cách trung tín với các chỉ dẫn của chính Đức Thánh Linh và (2) nó đã bày tỏ các tâm thần vâng phục, các tấm lòng tôn kính, và một sự nỗi kính sợ tĩnh lặng và phù hợp dành cho Đấng Tạo Dựng.
- Chính bản thân họ.
- Trình bày và biểu diễn, sự đổi mới và thay đổi không bao giờ chấm dứt.
- Các khán giả.
- Sáng Thế Ký 3:6; Xuất Ê-díp-tô 32:1-28; Lê-vi ký 10:1-3; Dân số ký 11:1-35; 12:1-16; 14:4; 16:1-50; 1 Sa-mu-ên 8:1-22; 13:8-14; 14:1-35; 2 Sa-mu-ên 6:1-11; 2 Sử ký 26:16-21; Ê-sai 30:9-13; Giê-rê-mi 6:13-19.
- (1) Sự nhận biết thông minh và sự hiểu biết về tâm thần của Tin Lành, (2) sự tuân thủ vâng phục, và (3) sự vui mừng – Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 8:26-39.
- Cảm xúc của con người phải chịu sự kiểm soát của tâm trí con người như thể tâm trí đó chịu kiểm soát bởi lời của Đức Chúa Trời.
- Tính hợp lý.
- Các sự thật, đức tin, cảm nhận.
- Họ cảm thấy như thế nào về mọi việc.
- Những người mà khơi mào sự thay đổi không hợp pháp chỉ định một chức năng không theo Kinh Thánh cho các cảm xúc.
- Sự ưu tiên tương tự mà chính Kinh Thánh đã bày tỏ.
- Rô-ma 7:13-8:14.
Chương 8
- Đức Chúa Trời, gần cuối thế kỷ đầu tiên.
- Phương thức mà bởi đó các năng lực làm phép lạ được hiện hữu đã bị hủy bỏ.
- Sự bày tỏ hoàn thiện của Đức Chúa Trời với nhân loại trong Kinh Thánh – 2 Ti-mô-thê 3:16-17; 2 Phi-e-rơ 1:4; Ê-phê-sô 4:14.
- Khiến người chết sống lại; phục hồi các bộ phận thân thể bị co rút hay bị cắt đứt; phục hồi thị lực của người bị mù bẩm sinh; khiến cho một người tàn tật từ lúc sinh ra đi lại được.
- Ma-thi-ơ 4:23; 9:35; 10:1; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 28:8-9.
- “Dấu kỳ dối giả,” tức là, lừa gạt, sai trái, và dối lừa.
- Một điều gì đó mới mẻ, thú vị, hào nhoáng, thu hút, giật gân, một lối ra dễ dàng, điều gì đó mà khiến cho họ cảm thấy tâm linh và an toàn.
- Nghiên cứu Kinh Thánh, và thử mọi thứ và bám lấy lẽ thật – Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 17:11; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:21.
- Học Lời của Đức Chúa Trời một cách cẩn thận để xác minh các mong muốn của Đức Chúa Trời.
- Một nghiên cứu chân thật, chuyên sâu về sự bày tỏ được viết xuống và một đời sống tự rèn luyện và tự chối bỏ mà cố gắng kết hợp các thuộc tính tâm linh vào trong đời sống của một người.
- Phát triển các thuộc tính tâm linh (như kiên nhẫn, thương xót,…)
- Được ban cho một cách kín đáo qua các quy luật tự nhiên mà Ngài đã đưa vào hoạt động.
- Vi phạm các mục đích của chính Ngài bằng việc can thiệp vào các quy luật tự nhiên để thực hiện một phép lạ.
- Bằng cách lắng nghe các chỉ dẫn được tìm thấy trong Lời được viết xuống của Ngài.
- Lời thánh của Đức Chúa Trời – Giăng 6:68; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 11:14; 26:25; Giăng 17:17; Ma-thi-ơ 4:4.
Chú Thích
- Làm thế nào mà một người chịu trách nhiệm cho sự tồn tại của mọi người ngày nay mà kiên quyết khẳng định rằng chính họ đã chứng kiến hay là người tiếp nhận một phép lạ? Câu trả lời nằm trong sự thật rằng những người trong thời Kinh Thánh đã đưa ra các lời tuyên bố ngụy biện tương tự – từ những người mà đã bị lừa bởi các thầy thuật sĩ của Hội Đồng của Pharaon trong thế kỷ thứ 14 TCN (Xuất Ê-díp-tô 7:11-13,22-23; 2 Ti-mô-thê 3:8) cho đến những người thành thật tin vào thế kỷ thứ nhất SCN. Các thầy phù thủy Si-môn và Ê-li-ma có thể làm được các phép lạ (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 8:9-11; 13:8). Trong tất cả các trường hợp như vậy, những người bị lừa gạt bởi những người “gian trá và hung ác” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 13:10), “bị người ta lừa đảo, bị mưu chuốc dỗ dành làm cho lầm lạc” (Ê-phê-sô 4:14), “dấu kỳ giả dối” và “sự lừa gạt không công bình” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:9-10; so sánh với 2 Cô-rinh-tô 11L14-15) là không thể biện minh và sẽ chịu trách nhiệm trước Đức Chúa Trời bởi tội lỗi của họ và sự nhạy cảm để “tin vào một sự dối giả” (Giê-rê-mi 29:31; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:11). Sự thật còn lại đó là tất cả chúng ta đều có thể biết được lẽ thật và phân biệt được lẽ thật với điều dối giả (Ma-thi-ơ 7:15-16; 1 Giăng 4:1).
Câu chuyện kể về một nhà giảng Tin Lành tên là John O’Dowd, người mà đã tham gia một buổi họp Ngũ Tuần, nơi được cho là có một người đã chết sẽ được làm cho sống lại từ kẻ chết. Khi O’Dowd đến buổi họp, ông quan sát thấy rằng người chết được trưng bày trong một quan tài, và những người tham dự đang xếp hàng để đi ngang qua cái quan tài mở này, để nhìn xem thân xác trước khi được làm cho sống lại. O’Dowd đã xếp hàng và khi ông đến bên cạnh quan tài, ông đã cắm một cái ghim mũ vào chân của “người chết” – điều mà gây ra một sự bật dậy quá sớm và không được mong đợi của “người chết,” cũng như với sự chán nản của các nhà tài trợ với điều vô lý dễ dàng nhận ra đó, mà, tiếp theo, đã gây ra một sự hỗn loạn khiến cho cảnh sát được gọi đến và O’Dowd bị đổ lỗi cho cuộc náo loạn kế tiếp và bị nhốt trong nhà giam một đêm vì tội “quấy rối sự bình yên.” Nhìn nhận điều đó, không có sự can thiệp của O’Dowd mà đã phơi bày trò lừa bịp, không nghi ngờ gì là có rất nhiều người sẽ bị lừa gạt và bị thuyết phục rằng họ đã chứng kiến một phép lạ chân chính. Tuy nhiên, người bị lừa sẽ không biện minh được cho tội của họ và sự thất bại để nghiên cứu lời tuyên bố cũng như so sánh nó với lời tuyên bố của Kinh Thánh.
- Xem Giăng 5:20,36; 7:3,21; 9:3; 10:25,37-38; 14:10-12; 15:24.
- W.E. Vine (1952), An Expository Dictionary of New Testament Words (Old Tappan, NJ: Revell), Foreword.
- Ibid., trang 75, in đậm được thêm vào.
- Otfired Hofius (1976), “Miracle,” The New International Dictionary of New Testament Theology, ed. Colin Brown (Grand Rapids, MI: Zondervan), 2:626, in đậm được thêm vào.
- Ibid., 2:633, in đậm được thêm vào.
- William Arndt và F.W. Gingrich (1957), A Greek-English Lexicon of the New Testament and Other Early Christian Literature (Chicago, IL: University of Chicago Press), trang 755.
- Xem thảo luận về ơn ban cho này – để không bị nhầm lẫn với việc hát đơn ca – trong Dave Miller (2007), Richland Hills & Instrumental Music (Montgomery, AL: Apologetics Press), trang 42-43. Cùng với Dave Miller (1996), Piloting the Strait (Pulaski, TN: Saint Publications), trang 205-206.
- J.H. Thayer (1901), Greek-English Lexicon of the New Testament (Grand Rapids, MI: Baker, 1977 in lại), trang 573, in đậm được thêm vào.
- Thomas B. Warren (1972), Have Atheists Proved There Is No God? (Jonesboro, AR: National Chirtian Press), trang 44tt. Cũng xem Dave Miller (2015), Why People Suffer (Montogomery, AL: Apologetics Press).
- J.W. McGarvey (1910), Biblical Criticism (Cincinnati, OH: Standard), trang 354.
- Ibid., trang 355-356.
- Ibid,. Trang 351.
- Một cuộc thảo luận về cách dùng từ “rượu” của Ti-mô-thê, xem Dave Miller (2003), “Elders, Deacons, Timothy, and Wine,” Apologetics Press, https:// apologeticspress.org/apcotent.aspx?category=11&article=1208.
- Albert Barners (1956 tái bản), Notes on the New Testament: Matthew and Mark (Grand Rapids, MI: Baker), trang 150, in đậm được thêm vào.
- Câu này không có ngụ ý rằng mục đích của dấu kỳ/phép lạ là để sinh ra đức tin. Thay vào đó, các dấu kỳ được ghi chép bởi Giăng được định để xác nhận/xác thực các lời của Đức Chúa Jêsus, đặc biệt, tuyên bố bằng miệng của Ngài là “Đấng Christ, Con của Đức Chúa Trời” (câu 31). Các phép lạ không bao giờ được định bởi Đức Chúa Trời để sinh ra đức tin – chỉ có các lời quyền lực của Đức Chúa Trời mới có thể làm điều đó (Rô-ma 1:16; 10:17).
- Hãy xem, ví dụ, Kyle Butt (2007), Behold! The Word of God (Montgomery, AL: Apologetics Press); Dave Miller (2020) The Supernatural Origin of the Bible: Proofs of Bible Inspiration (Montgomery, AL: Apologetics Press).
- Thuật ngữ được dịch cho “mờ đi” và “biến mất đi” trong câu 8 và “bỏ đi” trong câu 10 là katargeo, có nghĩa là “làm cho không hoạt động nữa,” “kết án cho không hoạt động nữa,” “không dùng nữa,” “tiêu hủy,” “rút ra khỏi khu vực hoạt động,” và “làm cho hoàn toàn không còn hoạt động nữa.” Thuật ngữ dịch thành “chấm dứt” trong câu 8 (pauo) có nghĩa là “kiềm chế lại,” “cấm,” “làm cho ngừng lại,” “đi đến hồi kết,” “ngừng lại.” So sánh với 1 Phi-e-rơ 3:10. Xem Gerhard Delling (1964), Theological Dictionary of the New Testament, ed. Gerhard Delling (Grand Rapids, MI: Eerdmans), 1:452-453; Wesley Perschbacher (1990), The New Analytical Greek Lexicon (Peabody, MA: Hendrickson), trang 226, 317; Arndt và Gingrich, trang 643; Thayer, trang 497.
- Thuật ngữ Gờ-réc meros được đi trước bởi giới từ ek có nghĩa là “một phần,” “chưa hoàn thiện,” “chưa hoàn hảo,” “một mức độ nào đó.” Xem Thayer, trang 401; Barley Newman (1971), A Concise Greek-English Dictionary of the New testament (London: United Bible Societies), trang 114); Perschbacher, trang 271; Arndt và Gingrich, trang 507; F. Blass, A. Debrunner, và Robert Funk (1961), A Greed Grammar of the New Testament and Other Early Christian Literature (Chicago, IL: University of Chicago Press), trang 114-115; James Mouton and George Millian (1982 tái bản), Vocabulary of the Greek New Testament Illustrated from the Papyri and Other Non-literary Sources (Grand Rapids, MI: Eerdmans), trang 399.
- Xem Gerhard Delling (1972), Theological Dictionary of the New Testament, ed. Gerhard Friedrich (Grand Rapids, MI: Eerdmans), 8:73,75; Fredrick Danker (2000), A Greek-English Lexicon of the New Testament and Other Christian Literature (Chicago, IL: University of Chicago), third edition, trang 816; Thayer, trang 618. Cũng vậy, “làm cho hoàn thiện; hoàn toàn được hoàn thành, phát triển hoàn toàn; được nhận biết hoàn toàn, xuyên suốt; hoàn thiện, toàn bộ, như trái ngược với những gì mà chỉ được một phần và bị giới hạn” – Perschbacher, trang 404. Cũng là “đã đi đến cuối,” “hoàn thiện, cuối cùng” – Moulton and Milligan, trang 629. Cũng như “đạt được cuối cùng hay mục đích, hoàn thành” – Danker, trang 995.
- Moulton and Milligan, trang 629; Arndt and Gingrich, trang 817; Thayer, trang 618.
- Đức Thánh Linh đã dùng mạo từ vô tính thay vì mạo từ chỉ nam giới.
- W. Robertson Nicoll, ed. (1900), The expositor’s Greek Testament (Grand Rapids, MI: Eerdmans), 2:900, in đậm được thêm vào.
- Kenneth Wuest (1943), Treasures from the Greek New Testament (Grand Rapids, MI: Eerdmans), trang 117-118.
- Qua “sự bày tỏ hoàn toàn” tôi không phải đang nói đến các sách Kinh Thánh được công nhận (canon) đã hoàn thiện. Tôi muốn nói đến tất cả thông điệp của Đức Chúa Trời với loài người mà đã được bày tỏ ra. Xem thảo luận của Tân Ước đối chiếu giữa “mầu nhiệm” với “được bày tỏ ra” (Rô-ma 16:25-26; 1 Cô-rinh-tô 2:7-10; Ê-phê-sô 3:1-11). Trong lúc đó, quá trình làm ra các bản sao chép của các tài liệu Tân Ước khác nhau và việc lưu hành chúng đi xa và rộng khắp sẽ diễn ra rất nhanh chóng và rộng rãi từ chính thời điểm chúng được viết ra bởi các tác giả được hà hơi. So sánh Cô-lô-se 4:16, 1 Ti-mô-thê 5:18 (nơi Lu-ca 10:7 được biết đến rồi và xem như là “Kinh Thánh”), và 2 Phi-e-rơ 3:15-16 (nơi các thư tín của Phao-lô đã được lưu hành rồi và được nhận biết như là “Kinh Thánh”).
Học giả tiếng Gờ-réc Daniel Wallace thừa nhận rằng “không thể có phản đối nào … về ngữ pháp” đối với quan điểm này, tuy nhiên, ông ấy thấy rằng “khó để nhìn thấy một khái niệm như vậy trong đoạn trích này, vì quan điểm này giả định trước rằng (1) cả Phao-lô và những người Cô-rinh-tô đều biết là ông đang viết Kinh Thánh, và (2) sứ đồ đã thấy trước về sự hoàn thành của Tân Ước trước khi Chúa quay lại” [(1996) Greek Grammar Beyond the Basics (Grand Rapids, MI: Zondervan), trang 295.] Gordon Fee thậm chí còn tuyên bố quan điểm này như là “một quan điểm bất khả thi … vì chính bản thân Phao-lô đã không thể đọc nó rõ ràng.” Tuy nhiên, về luận điểm đầu tiên, Phao-lô đã trình bày rõ ràng với những người Cô-rinh-tô sự tin chắc của ông rằng ông đã, thực ra thì ông đang tiếp thêm Lời của Đức Chúa Trời cho họ: “Nếu ai tưởng mình là tiên tri, hay là dược Đức Thánh Linh soi sáng, thì người ấy hãy biết rằng điều tôi viết cho anh em đây là mạng lệnh của Chúa” (1 Cô-rinh-tô 14:37; cũng như 2:4,12-13; so sánh với 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:15; 3:14) – một sự thật đó là, như được lưu ý ban đầu, Phi-e-rơ cũng nhận thức rõ ràng về nó kể từ khi ông phân loại các tác phẩm của Phao-lô như là thuộc về “Kinh Thánh” [2 Phi-e-rơ 3:16]. Về luận điểm thứ hai, trong khi tâm trí của Phao-lô chắc chắn có gắn kết khi ông nói và viết Kinh Thánh, tuy nhiên, vì ông đang làm việc dưới sức ảnh hưởng hà hơi của Đức Thánh Linh, ông đã viết chính xác về những điều mà ông có thể nhìn thấy trước theo cách của ông ấy (ví dụ, 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:7-10; 1 Ti-mô-thê 4:11 và tiếp theo.). Cũng xem Frank Pack (1972), Tongues and the Holy Spirit (Abilene, TX: Biblical Research Press), trang 120.
- Gary Workman (1983), “That Which Is Perfect,” The Restorer, 3[9]:6-9, September, trang 8.
- E.W. Bullinger, nhà học giả và thần học người Anh thế kỷ thứ 19, đã viết một quyển sách hoành tráng về cách nói bóng của Kinh Thánh, vẫn được nhiều người xem như là cuốn sổ tay tốt nhất về lối nói bóng của Kinh Thánh. Ông nhận biết một trong cách nói bóng như vậy như là heterosis (sự lai tạo), mà ông định nghĩa như là “tên gọi được đặt cho hình thức đó của Enallage mà có một sự trao đổi, không phải về các phần thực tế của bài phát biểu, mà là về hình thái học của một phần bài phát biểu thôi.” Đặc biệt, ông đã phân loại 1 Cô-rinh-tô 13:12 như “sự lai tạo của động từ” mà trong đó nội động từ được trao đổi với ngoại đồng từ. Do đó, cụm từ “tôi sẽ biết như Chúa đã biết tôi vậy” là một cách nói bóng rằng “tôi sẽ được dạy cho biết.” Xem tái bản 1968 Baker của quyển 1898 của ông, trang 512.
- Nói về cách dùng của mechri trong câu này, xem Thayer, trang 408; Danker, trang 644 – “đánh dấu của sự liên tục trong thời gian cho đến một thời điểm, cho đến khi”; Moulton and Milligan, trang 407; F. Blass, và những người khác, trang 193-194; A.T. Robertson (1934), A Grammar of The Greek New Testament in the Light of Historical Research (Nashville, TN: Broadman Press), trang 974-975; H.E. Dana and Julius Mantey (1927), A Manual Grammar of the Greek New testament (Toronto, Canada: Macmillan), trang 281. Cũng xem cách sử dụng thuật ngữ của Mác 13:30 và Ga-la-ti 4:19.
- Nicoll, 3:332, in đậm trong bản gốc.
- M.R. Vincent (1890), Word Studies in the New Testament (Grand Rapids, MI: Eerdmans, 1946 tái bản), 3:390, in đậm được thêm vào.
- Thayer, trang 667, in đậm được thêm vào; so sánh với Danker, trang 1081 – “Of spiritual gifts in a special sense.”
- Hans Conzelmann (1974), “charismata,” Theological Dictionary of the New Testament, ed. Gerhard Kittel and Gerhard Friedrich (Grand Rapids, MI: Eerdmans), 9:405, in đậm được thêm vào.
- Xem W.F. Moulton, A.S. Geden, và H.K. Moulton (1978), A Concordance to the Greek New Testament (Edinburgh: T.&T. Clark), xuất bản lần thứ 5, trang 1005.
- Henry Alford (1980 tái bản), Alford’s Greek Testament (Grand Rapids, MI: Baker), 2:14-15.
- Xem chủ đề “Prophesying with Instruments?” trên trang web AP: apologeticspress.org.
- Hans Bietenhard (1975), “Angel,” The New International Dictionary of New Testament Theology, ed. Colin Brown (Grand Rapids, MI: Zondervan), 1:101; G. Johannes Botterweck, Helmer Ringgren, and Heinz-Josef Fabry, eds. (1997), Theological Dictionary of the Old Testament (Grand Rapids, MI: Eerdmans), 8:308; Walter Grundmann (1964), “angelos,” Theological Dictionary of the New Testament, ed. Gerhard Kittel (Grand Rapids, MI: Eerdmans), trang 7; William Gesenius (1847), Hebrew-Chaldee Lexicon to the Old Testament (Grand Rapids, MI: Baker, tái bản 1979), trang 475; Danker, trang 8.
- Helmer Ringger (1997), “malak,” Theological Dictionary of the Old Testament, ed. G. Johannes Botterweck, Helmer Ringgren, and Heinz-Josef Fabry (Grand Rapids, MI: Eerdmans), 8:310.
- Grundmann, 1:74.
- Trang 318.
- Họ không thể được xưng công bình bởi “luật pháp thôi” vì tất cả mọi người đều đã vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời. Do đó, nhu cầu cho “ân điển,” tức là, Tin Lành (Rô-ma 1:16), mà chứa đựng sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời dành cho tội lỗi trên thập tự giá, mà có thể có được qua một “đức tin vâng phục” (Rô-ma 1:15; 16:26).
- Kenneth Wuest (1943), Untranslatable Riches from the Greek New Testament (Grand Rapids, MI: Eerdmans) trang 86, in đậm được thêm vào.
- mcGarvey, trang 255.
- Được chuyển thể từ Wayne Jackson (1988), “The New Brith: What is It?” Christian Courier, 24:14, August.
- Cũng xem McGarvey, trang 254-256; Gareth Reese, (1976), New Testament History – Acts (Joplin, MO: College Press), trang 76; Dave Miller (2019), Baptism & the Greek Made Simple (Montgomery, AL: Apologetics Press), trang 7).
- J. Gresham Machen (1923), New testament Greek for Beginners (Toronto, Canada: Macmillan), trang 41; Dana and Mantey, trang 101.
- Dana and Mantey, trang 107.
- Danker, trang 637.
- C.F.D. Moule (1959), An Idiom-Book of New Testament Greek (Cambridge: University Press, 1977 tái bản), trang 61; Thayer, trang 404; so sánh với Robertson, trang 611. Cũng xem G.B. Winer (1870), A Treatise on the Grammar of the New Testament (Edinburgh: T.&T. Clark), trang 471.
- Nicoll, 4:127; so sánh với Robert Jamieson, A.R. Fausset, and David Brown (không có ngày), A Commentary on the Old and New Testament (Grand Rapids, MI: Zondervan), 2:414; George Williams (1960), The Student’s Commentary on the Holy Scriptures (Grand Rapids, MI: Kregel), xuất bản lần thứ 6, trang 956.
- Arndt and Gingrich, trang 99; danker, trang 122; Thayer, trang 68.
- Ma-thi-ơ 10:1-5; Mác 3:13-19; Lu-ca 6:12-16; 9:1-2.
- Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 9:15; 22:14-15; 26:16-18; 1 Cô-rinh-tô 15:8-9; Ga-la-ti 1:11-12,15-16.
- Rô-ma 11:13; 15:16; Ga-la-ti 2:8; Ê-phê-sô 3:8.
- Ví dụ, Rô-ma 1:15; 1 Cô-rinh-tô 1:1; Ga-la-ti 1:1;11-12.
- Hayden mở rộng các khả năng này thành bảy trong W.L. Hayden (1894), Church Polity (Kansa City, MO: Old Paths Book Club), trang 33.
- Ma-thi-ơ 10:5; Mác 3:13-14; Lu-ca 6:13; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 1:26; 9:15; 22:14-15,21; 26:16.
- Mk 3:15; 16:17-20; Lu-ca 9:1-2; Giăng 14:12,26; 15:24-27; 16:13; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2:43; 4:29-31,33; 5:12,15-16; 6:6; 8:14-18; 19:6; 2 Ti-mô-thê 1:6; Rô-ma 1:11; Hê-bơ-rơ 2:3-4.
- Ma-thi-ơ 18:18-20; Mác 16:15-16; Lu-ca 24:46-48.
- 1 Cô-rinh-tô 14:37; Ga-la-ti 1:12; Ê-phê-sô 3:3-4; 1 Tê-sa-lô-ni-ca 5:27; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:15; 3:14; 1 Phi-e-rơ 1:12; 2 Phi-e-rơ 1:12-21; 3:15-16. Đức Chúa Trời cũng chọn để sử dụng Mác, Lu-ca, Gia-cơ, và Giu-đe để đóng góp vào bộ Kinh Thánh Canon, mặc dù họ không phải là các sứ đồ theo nghĩa chức vụ.
- Tiếng Gờ-réc sử dụng thì bị động hoàn thành tương lai và nên được dịch thành “sẽ được buộc/tháo trên thiên đàng” như trong bản NASB (so sánh Ma-thi-ơ 18:18-20; Giăng 20:22-23). So sánh với ghi chú của ESV cũng như bản Mounce Reverse-Interlinear New Testament, Disciples’ Literal New testament (DLNT), Christian Standard Bible (CSB), Holman Christian Standard Bible (HCSB), International Standard Version (ISV), New English Translation (NET), New Life Version (NLV), World English Bible (WEB), Young’s Literal Translation (YLT), và những bản khác.
- Xem Chú giải 25.
- Các từ “các mục sư và thầy dạy đạo” có cùng mạo từ trong tiếng Gờ-réc, và vì vậy sẽ gần như được hiểu là “các mục sư dạy đạo,” tức là, một chức vụ duy nhất mà trong đó các mục sư (những người được chọn bởi Hội Thánh địa phương lo hầu việc như các trưởng lão hay người chăn bầy) được ban cho năng lực phép lạ để dạy dỗ thông tin được hà hơi mà vẫn chưa được viết xuống.
- Hayden, trang 22.
- Ibid., trang 20-21.
- Xem Lê-vi ký 16:8; Dân số ký 26:55; 33:54; 34:13; Giô-sua 14:2; 18:6,10; 19:51; so sánh với Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 13:19; 1 Sa-mu-ên 14:42; Nê-hê-mi 10:34; Thi Thiên 16:5.
- So sánh với James Bales (1957), The Kingdom: Prophesied and Established (Austin, TX: Firm Foundation) trang 187-223.
- Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 2:34-36; Ê-phê-sô 1:20; 1 Ti-mô-thê 3:16; Hê-bơ-rơ 1:13; 8:1; 10:12-13.
- Ga-la-ti 6:16; Gia-cơ 1:1; so sánh với Rô-ma 2:28-30; Ga-la-ti 3:29.
- Xem thảo luận của G.C. Brewer như được trích trong Bales, trang 208-210.
- Cũng xem Hayden, trang 22-33.
- Ibid., trang 33-34.
- Frank Capra là một đạo diễn phim, nhà sản xuất, và nhà văn mà đã tạo ra một số bộ phim giành được giải thưởng, đáng nhớ nhất vào những năm 1930 và 1940. Tác phẩm Mr. Smith goes to Washington (1939) và It’s A Wonderful Life (1946) của ông vẫn là những tác phẩm kinh điển làm ấm lòng cho tới thời nay. Trong hồi ký 1971 của ông, Capra đã bình luận về sự suy đồi của đạo đức trong ngành làm phim Hollywood, lưu ý rằng “trên thực tế, tất cả việc làm phim Hollywood ngày nay đều dựa vào nội dung khiêu dâm rẻ tiền trong sự ngụy tạo điên rồ của một nghệ thuật tuyệt vời để tranh giành ‘sự bảo trợ’ của những tác phẩm lệch lạc.” [Frank Capra (1971), The Name Above the Title: An Autobiography (New York: Macmillan), trang 400.]
- Các tấm gương của các hoạt động tôn giáo mà rõ ràng phát sinh nhiều hơn từ một sự hứng thú với cảm xúc hơn là lý trí bao gồm: cách sử dụng của “bộ phim thiêng liêng,” đơn ca và hợp ca, chuỗi hạt Mân Côi, các nhóm ngợi khen, việc đốt nến, vỗ tay, nhạc cụ, dâng hiến trẻ nhỏ, sùng bái mẹ Maria, lắc lư cánh tay, tiệc Thánh không phải vào ngày Chủ Nhật, các buổi nhóm Lễ Giáng Sinh, và các buổi nhóm mặt trời mọc Lễ Phục Sinh. Các trò hề như vậy hướng tới xác thịt và hình thành nên chủ nghĩa tượng trưng thay vì thực tại. Đối với tâm trí thuộc linh, chúng là thuộc về xác thịt, không trưởng thành, sự im lặng của vị thành niên. Xem chú giải 79.
- Một người được nhắc đến về sự lôi cuốn nổi tiếng, Oral Roberts, người đã sáng lập nên một trường đại học và tham gia Hội Thánh Giám Lý.
- Ví dụ, các buổi nhóm của Đức Chúa Trời.
- Dave Miller, (2007), What the Bible says about the Church of Christ (Montgomery, AL: Apologetics Press).
- Kyle Butt and Eric Lyons (không có ngày), Receiving the Gifts of Salvation (Montgomery, AL: Apologetics Press).
- Dave Miller (2012), Surrendering to His Lordship (Montgomery, AL: Apologetics Press).
- Thuật ngữ được dịch thành “hợp lẽ phải” trong câu này trong bản NKJV, và “thuộc linh” trong bản ESV và NASB (với “hợp lý” trong phần ghi chú), và “đúng và thích hợp” trong NIV, là thuật ngữ logikos mà có nghĩa là “liên quan đến việc suy nghĩ cẩn thận, chu đáo … có lý trí” [Danker, trang 598], “hợp lý, thuộc linh, liên quan đến tâm trí và linh hồn” [Perschbacher, trang 259], “hợp lẽ, theo lý, hợp lý … với sự thờ phượng mà được thực hiện bởi lý trí hoặc linh hồn” [Thayer, trang 379]. Do đó, sự thờ phượng và hầu việc của chúng ta với Đức Chúa Trời là phải lẽ, logic, có nhận thức, và thuộc linh (liên quan đến tâm thần, không phải cảm xúc), và phải tuân thủ ý muốn được trình bày của Đức Thánh Linh.
- Một việc nghiên cứu cẩn thận về chương này trong Cô-lô-se cho thấy rằng, giống như các hoạt động thờ phượng Do Thái lỗi thời trong Hội Thánh tại Cô-lô-se mà được truyền qua cho sự thờ phượng của tín đồ Đấng Christ, rất nhiều nhóm trong giới Đạo Đấng Christ đã khơi mào một loạt các hoạt động tôn giáo mà không hơn gì là “những điều răn và tín lý của con người” (câu 22) và vì vậy bị lên án như là “tôn giáo tự thành lập.” Thuật ngữ Gờ-réc ám chỉ đến “tôn giáo tự thành lập, tôn giáo tự mình làm, tôn giáo riêng, tôn giáo có lẽ sẽ là tôn giáo” [Danker, trang 276], hay như Fausset đã nhận xét rằng: “sự thờ phượng được tùy tiện phát minh: có lẽ là sự thờ phượng, được lập ra bởi ý muốn riêng của con người, không phải của Đức Chúa Trời” – [Jamieson, và những người khác, trang 379, in nghiêng có trong bản gốc.]. Và như Coffman đã giải thích: “hình thức của các việc làm được thực hiện trong đó bởi vì chúng làm hài lòng người thờ phượng, và không phải bởi vì chúng được ra lệnh bởi Chúa” – [James Coffman (1977), Commentary on Galatians, Ephesians, Philippians, Colossians (Austin, TX: Firm Foundation), trang 390]. Một loạt các sự thờ phượng lỗi thời được thực hiện rộng rãi trong giới Đạo Đấng Christ – từ việc thắp nến, vẫy cánh tay, và các buổi lễ Giáng Sinh, dâng hiến trẻ nhỏ, kịch, và hợp ca. Một người sẽ khó nhìn thấy được sự trừng phạt thánh dành cho các hoạt động nhân tạo như vậy. Sự thờ phượng của Hội Thánh tín đồ Đấng Christ được viết ngắn gọn trong Tân Ước: (1) Hội Thánh hát (1 Cô-rinh-tô 14:15; Ê-phê-sô 5:19; Cô-lô-se 3:16), (2) cầu nguyện (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 12:12;2 Tê-sa-lô-ni-ca 3:1; Gia-cơ 5:16), (3) dâng hiến (1 Cô-rinh-tô 16:2; 2 Cô-rinh-tô 8/9), (4) Lễ Tiệc Thánh Chủ Nhật hàng tuần (Ma-thi-ơ 26:26-29; Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 20:7; 1 Cô-rinh-tô 11:20 tiếp theo), và (5) đọc Kinh Thánh, giảng và dạy (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 20:7; 1 Ti-mô-thê 4:13). Tất cả các việc làm mà không có trong các con đường đơn giản này mà qua đó để chạm đến Đức Chúa Trời trong sự thờ phượng “thật” (Giăng 4:24) là “bắt nguồn từ ý muốn của người thờ phượng, không phải từ Đấng được thờ phượng” – [Michael Magill (2011), Disciples’ Literal New Testament (Beaverton, OR: Reyma Publishing), trang 997]. Chúng có thể trông như là những sự bày tỏ về thái độ khiêm nhường chân thật của người thờ phượng – nhưng chúng lại là “sự khiêm nhường giả dối” (câu 23) và chúng không giúp ích gì được để “chống lại sự nuông chìu của xác thịt” và sống đời sống tín đồ Đấng Christ. Như Đức Chúa Jêsus đã phán rằng: “Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra” (Ma-thi-ơ 15:9).
- So sánh với Dave Miller (2018), Lifting Up Hands In Worship to God (Montgomery, AL: King Solomon Publications).
- Nền văn hóa hiện này thường đặt “đầu óc” hay “tâm trí” sang một bên và “con tim” sang bên còn lại như một sự đối chiếu giữa suy nghĩ và cảm nhận: “Bạn nghĩ với đầu óc của mình, bạn cảm nhận với con tim của mình.” Nhưng một người phải tìm đến Kinh Thánh và để cho Đức Chúa Trời định nghĩa các thuật ngữ của chính Ngài. Thuật ngữ tiếng Hê-bơ-rơ cho “con tim” (lehv) nói đến “người bên trong, tâm trí, ý muốn, tấm lòng” [Brown, Driver, Briggs, trang 524]. Chuyên gia ngôn ngữ tiếng Hê-bơ-rơ Jeff Benner đã nhận xét rằng: “Đối với những người Hê-bơ-rơ xưa, con tim là tâm trí, suy nghĩ. Khi chúng ta được bảo yêu thương Elohim với cả lòng mình (Phục Truyền 6:5), nó không đang nói về một tình yêu cảm xúc, nhưng là để giữ tâm trí và tư tưởng của chúng ta làm việc với Ngài” [Jeff Benner (2019), “Heart,” Ancient Hebrew Research Center, https://www.ancient-hebrews.org/definition/heart.htm.] Cũng vậy, thuật ngữ Gờ-réc cho con tim (kardia) nói đến “khía cạnh của đời sống thuộc thể, thuộc linh, và đạo đức” [Danker, trang 508] mà bao gồm lý lẽ, tư tưởng, và ý muốn. Trong khi, đôi lúc khó để tách biệt tâm trí khỏi các cảm xúc, vì Đức Chúa Trời “đã buộc chặt” linh hồn của chúng ta vào trong thân thể của mình – với tất cả các phản ứng hóa học, hóc môn, và các khuyết điểm thuộc thể của chúng – tuy nhiên, tâm trí là riêng biệt với các cảm xúc của chúng ta. Các cảm nhận của chúng ta không thể được tin cậy trừ khi chúng được sinh ra trực tiếp từ suy nghĩ đúng đắn trong tâm trí. Hãy xem xét các trường hợp sau của “tấm lòng” trong Kinh Thánh và thấy rằng sự hiểu biết về thuật ngữ ám chỉ đến các cảm giác hay cảm xúc sẽ là vô lý: 1 Sa-mu-ên 16:7; Châm ngôn 23:7; Giê-rê-mi 17:9-10; Ma-la-chi 4:6; Ma-thi-ơ 5:8; Lu-ca 21:26. Mặc dù các nhà từ điển học sẽ thỉnh thoảng lồng vào trong các định nghĩa của họ về “tấm lòng” ám chỉ đến các cảm giác và cảm nhận, họ đang đưa sự rối loạn trong sự định nghĩa của họ vì phần ý thức của con người rõ ràng là tách biệt và riêng biệt với phần cảm xúc của con người – dù chúng cùng tồn tại. Thuật ngữ chung hơn dành cho các cảm xúc trong giới cổ đại là “kidneys (quả thận)” [“reins (quả cật)” trong bản KJV]. So sánh với Giê-rê-mi 11:20, NASB.
- Về mặt kỹ thuật, thuật ngữ “vui mừng” không ám chỉ đến các cảm xúc hay trạng thái vui vẻ của cảm xúc – dù các cảm xúc không nghi ngờ gì là có tồn tại với niềm vui chân thật. Thuật ngữ Gờ-réc có nghĩa là “ở trong một trạng thái hạnh phúc và tốt lành, vui mừng, vui vẻ.” Từ Gờ-réc cho “vui vẻ” ám chỉ đến “trải nghiệm của sự mừng rỡ” [Danker, trang 1074, 1077]. Sự vui mừng trong Kinh Thánh là một bông trái của Đức Thánh Linh (Ga-la-ti 5:22). Sự vui mừng không phải là một cảm xúc hơn các bông trái khác của Thánh Linh, bao gồm việc chịu đựng đau đớn và kiềm chế.
Thay vào đó, vui mừng là một trạng thái của tâm thần, một cảm giác mãn nguyện và lành mạnh, một tư duy hạnh phúc và thỏa mãn, và thoải mái với tình trạng thuộc linh và đạo đức. Người ta có thể đưa chính mình đến với các sự thích thú cảm xúc mà không có sự thỏa mãn hay niềm vui về thuộc linh (so sánh với cách cư xử thờ phượng điên cuồng được thực hiện bởi các nhà tiên tri của Ba-anh trong 1 Các Vua 18:26-28). Ngay khi họ thoát khỏi cao trào cảm xúc giả tạo, họ phải quay lại với tình trạng không vui của mình, cũng như những người hết cơn phê thuốc phiện hay chất kích thích. Niềm vui của Kinh Thánh thậm chí hiện hữu trong hoàn cảnh bất lợi, đau đớn, và thất vọng. Sự vui mừng là một sự tự tin bình tĩnh, chắc chắn rằng tất cả đều tốt đẹp mặc kệ những gì đang đối mặt. Không lạ gì khi Phao-lô và Si-la có thể vui mừng dù trong sự đau đớn cùng cực bởi một trận đòn khủng khiếp, dù bị nhốt tù và nhốt trong củi, và dù không có nhóm ngợi khen, nhạc cụ, và vẫy cánh tay (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 16:22-25).
Một người vui mừng sẽ nói chúng cũng trải qua cảm xúc hưng phấn và phấn khởi. Nhưng hai điều này không nên bị nhầm lẫn với nhau. Một người có thể trải nghiệm sự vui mừng mà không có cảm xúc – và ngược lại. Cảm xúc mà một người cảm nhận được là khác biệt với các biểu cảm bên ngoài của cảm xúc – mà phải được sai khiến bởi Đức Chúa Trời, không phải người đó. Sự thật rằng các nhóm ngợi khen, hợp ca, vẫy tay, và nến tạo nên sự vui mừng giả tạo, không có thật.
Đức Chúa Trời có muốn chúng ta vui mừng khi chúng ta thờ phượng Ngài không? Chắc chắn rồi. Đức Chúa Trời có chỉ định các việc làm bên ngoài rõ ràng mà qua đó chúng ta phải thờ phượng Ngài không? Hoàn toàn có. Do đó, chúng ta không được bày tỏ niềm vui sướng/hay cảm xúc của chúng ta bằng cách thêm vào các việc làm bên ngoài của chính mình. Nếu Đức Chúa Trời đã quy định các việc làm bên ngoài rõ ràng mà qua đó chúng ta phải thờ phượng Ngài, thì chúng ta không thể thêm của mình vào. Một người có thể biện minh bất cứ và mọi việc làm thờ phượng bề ngoài bằng cách tuyên bố rằng: “Đó là cách tôi bày tỏ niềm vui của mình.” Chúng ta phải học để thích, vui, và tìm niềm vui thú, thỏa mãn, và hài lòng trong việc chính mình tuân thủ các chỉ dẫn của Đức Chúa Trời và các sự bày tỏ được chỉ định về sự thờ phượng mà Ngài cho phép.
- Như được báo trong Robert Taylor, Jr. (1986), “Some Shall Depart From the Faith” in The Church and the Restoration Movement, ed. Bill Jackson (Austin, TX: Southwest Publications), trang 95.
- George DeHoff (1988), “Honor To Whom Honor Is Due” Luncheon, Fort Worth Lectures (Bedford, TX: Brown Trail Church of Christ), audio tape.
- Xem Dave Miller (2019), Is Christianity Logical? (Montgomery, AL: Apologetics Press).
- “False wonders” (NASB), “pretended signs and wonders” (RSV), “counterfeit miracles, signs, and wonders” (NIV).
- So sánh với Danker, trang 1097.
[1] Làm thế nào mà một người chịu trách nhiệm cho sự tồn tại của mọi người ngày nay mà kiên quyết khẳng định rằng chính họ đã chứng kiến hay là người tiếp nhận một phép lạ? Câu trả lời nằm trong sự thật rằng những người trong thời Kinh Thánh đã đưa ra các lời tuyên bố ngụy biện tương tự – từ những người mà đã bị lừa bởi các thầy thuật sĩ của Hội Đồng của Pharaon trong thế kỷ thứ 14 TCN (Xuất Ê-díp-tô 7:11-13,22-23; 2 Ti-mô-thê 3:8) cho đến những người thành thật tin vào thế kỷ thứ nhất SCN. Các thầy phù thủy Si-môn và Ê-li-ma có thể làm được các phép lạ (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 8:9-11; 13:8). Trong tất cả các trường hợp như vậy, những người bị lừa gạt bởi những người “gian trá và hung ác” (Công-Vụ-Các-Sứ-Đồ 13:10), “bị người ta lừa đảo, bị mưu chuốc dỗ dành làm cho lầm lạc” (Ê-phê-sô 4:14), “dấu kỳ giả dối” và “sự lừa gạt không công bình” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:9-10; so sánh với 2 Cô-rinh-tô 11L14-15) là không thể biện minh và sẽ chịu trách nhiệm trước Đức Chúa Trời bởi tội lỗi của họ và sự nhạy cảm để “tin vào một sự dối giả” (Giê-rê-mi 29:31; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:11). Sự thật còn lại đó là tất cả chúng ta đều có thể biết được lẽ thật và phân biệt được lẽ thật với điều dối giả (Ma-thi-ơ 7:15-16; 1 Giăng 4:1).
Câu chuyện kể về một nhà giảng Tin Lành tên là John O’Dowd, người mà đã tham gia một buổi họp Ngũ Tuần, nơi được cho là có một người đã chết sẽ được làm cho sống lại từ kẻ chết. Khi O’Dowd đến buổi họp, ông quan sát thấy rằng người chết được trưng bày trong một quan tài, và những người tham dự đang xếp hàng để đi ngang qua cái quan tài mở này, để nhìn xem thân xác trước khi được làm cho sống lại. O’Dowd đã xếp hàng và khi ông đến bên cạnh quan tài, ông đã cắm một cái ghim mũ vào chân của “người chết” – điều mà gây ra một sự bật dậy quá sớm và không được mong đợi của “người chết,” cũng như với sự chán nản của các nhà tài trợ với điều vô lý dễ dàng nhận ra đó, mà, tiếp theo, đã gây ra một sự hỗn loạn khiến cho cảnh sát được gọi đến và O’Dowd bị đổ lỗi cho cuộc náo loạn kế tiếp và bị nhốt trong nhà giam một đêm vì tội “quấy rối sự bình yên.” Nhìn nhận điều đó, không có sự can thiệp của O’Dowd mà đã phơi bày trò lừa bịp, không nghi ngờ gì là có rất nhiều người sẽ bị lừa gạt và bị thuyết phục rằng họ đã chứng kiến một phép lạ chân chính. Tuy nhiên, người bị lừa sẽ không biện minh được cho tội của họ và sự thất bại để nghiên cứu lời tuyên bố cũng như so sánh nó với lời tuyên bố của Kinh Thánh.
[2] Xem Giăng 5:20,36; 7:3,21; 9:3; 10:25,37-38; 14:10-12; 15:24.
[3] W.E. Vine (1952), An Expository Dictionary of New Testament Words (Old Tappan, NJ: Revell), Foreword.
[4] Ibid., trang 75, in đậm được thêm vào.
[5] Otfired Hofius (1976), “Miracle,” The New International Dictionary of New Testament Theology, ed. Colin Brown (Grand Rapids, MI: Zondervan), 2:626, in đậm được thêm vào.
[6] Ibid., 2:633, in đậm được thêm vào.
[7] William Arndt và F.W. Gingrich (1957), A Greek-English Lexicon of the New Testament and Other Early Christian Literature (Chicago, IL: University of Chicago Press), trang 755.
[8] Xem thảo luận về ơn ban cho này – để không bị nhầm lẫn với việc hát đơn ca – trong Dave Miller (2007), Richland Hills & Instrumental Music (Montgomery, AL: Apologetics Press), trang 42-43. Cùng với Dave Miller (1996), Piloting the Strait (Pulaski, TN: Saint Publications), trang 205-206.

