ĐƯỢC CỨU BỞI ÂN ĐIỂN: SỰ CỐT YẾU CỦA CƠ ĐỐC GIÁO
Dịch Giả: ĐỒNG T. QUÝ HOÀNG & TRẦN T. HỒNG NGỌC
Tiến sĩ. JACK COTTRELL

LỜI MỞ ĐẦU
Ngay từ ban đầu của sự nghiệp dạy dỗ của tôi tại Trường Kinh Thánh Cincinnati (mùa thu 1967), tôi đã dạy một lớp thạc sĩ về tín lý của ân điển. Hai năm đầu tiên, nó được gọi là “Theology New Testament,” (Thần Học Tân Ước) vì Hiệu trưởng Lewis Foster muốn tôi dạy một lớp về chủ đề này. Tôi đã hỏi ông là ông muốn tôi triển khai chủ đề như thế nào, và ông đã nói rằng, “Theo bất cứ cách nào mà anh thích.” (Cảm ơn!) Vì vậy tôi quyết định dạy các khái niệm về ân điển mà đang được hình thành trong tâm trí của tôi hơn năm năm quý giá, và tôi đã trình bày tài liệu này theo cách triển khai ý tưởng của Phao-lô trong Rô-ma 1 đến 8. Tôi sớm thay đổi tên của lớp học chỉ đơn giản thành “Tín lý về Ân Điển.”
Trải qua 49 năm dạy dỗ của tôi tại Trường Kinh Thánh Cincinnati (giờ là Trường Đại Học Christian Cincinnati), tôi đã dạy “Tín lý về Ân điển” ít nhất 80 lần, cho gần 2000 sinh viên, suốt thời gian đó để tinh lọc và mở rộng nội dung.
Sách đầu tiên của tôi về ân điển được xuất bản vào năm 1976. Vào thời điểm đó, Standard Publishing (SP) (nhà xuất bản Tiêu chuẩn) đang sản xuất một cuốn sách nhỏ về các bài nghiên cứu Kinh Thánh mỗi quý như một sự thay thế luân phiên cho đến các tạp chí bài học thường xuyên xuất bản định kỳ ba tháng được sử dụng bởi rất nhiều Hội Thánh. Những cuốn sách nhỏ này đi theo các nội dung của Sunday School Lesson Scripture (bài học Kinh Thánh ngày chủ nhật) được sử dụng bởi các tạp chí theo quý định kỳ. (Các nội dung này đã và vẫn được chọn lọc bởi một ủy ban thường trực của Hội Đồng quốc gia của các Hội Thánh). Tôi rất vui được nhận lời mời từ SP để viết một trong những cuốn sách này cho một quý kế tiếp.
Điều không may về việc này đó là tôi không có sự chọn lựa nào về sự chọn lọc hay trật tự của các chủ đề được bao hàm. Dù vậy, điều tốt đó là đề tài xoay quanh nó các chủ đề được chọn là sự cứu rỗi bởi ân điển! Vì vậy tôi vui vẻ chấp nhận lời mời để viết cuốn sách. Mỗi chương là một bài luận trên tầm quan trọng chung của chủ đề tuần đó, và không phải là cách giải thích từng câu một của chủ đề. Cách đó tôi có thể bao hàm hầu hết các đề tài ân điển chung, mặc dù không có trong một trật tự có hệ thống.
Cuốn sách nhỏ đó (96 trang, 1,95$) được cho tựa đề, Being Good Enough isn’t good Enough (Tốt đủ là chưa đủ tốt). Tôi đã không đi đến tựa đề đó, nhưng tôi nghĩ nó nghe có vẻ khá “lôi cuốn.” (Sau này tôi nhận ra rằng câu nói này thực sự là không có thật. Nếu một người có thể “đủ tốt,” thì sẽ là “đủ tốt” bởi định nghĩa. Vấn đề đó là không có ai CÓ THỂ đủ tốt để được cứu). Khi nguồn tiếp tế của SP cạn kiệt, College Press (CP) đã đồng ý để xuất bản cuốn sách như 13 Bài Học về Ân điển (1998, 103 trang). Nó vẫn còn có hiện nay dưới tựa đề đó qua Wipf và Stock Publishers (Eugene, OR, 2001).
Trải qua nhiều năm, các ý tưởng đang triển khai của tôi về ân điển xuất hiện trong các phần của các sách khác, đặc biệt là những sách này: What the Bible says about God the Redeemer (Kinh Thánh nói gì về Đức Chúa Trời, Đấng Cứu Chuộc, CP, 1987), Baptism: A Biblical Study ( Phép Báp-têm: Một Nghiên Cứu về Kinh Thánh,CP, 1989), Sách bình luận của College Press NIV, sách Rô-ma (cuốn 2, 1996, 1998), và The Faith Once for All (Đức tin một lần cho tất cả, CP, 2002). Sau đó tôt quyết định xuất bản một nghiên cứu thần học bao hàm toàn diện về ân điển, bám theo đề cương và nội dung mà tôi đang sử dụng cho lớp Kinh Thánh của mình. Kết qua là Set Free! What the Bible says about Grace (Được Tự do! Kinh Thánh nói gì để Ân điển), được xuất bản bởi CP năm 2009 (401 trang). Đây là công việc cuối cùng của tôi về chủ đề này.
Suốt thời gian mà tôi đang dạy và viết về ân điển với một cấp độ lý thuyết không ít thì nhiều, tôi dạy dỗ khắp mọi nơi về nó trong các Hội Thánh địa phương và các lớp học Kinh Thánh theo vùng. Theo dạng gặp gỡ đó, tôi phát triển một loạt các bài học mà tôi đã sử dụng hàng chục lần (mà vẫn còn đang sử dụng), chỉ để giúp mọi người trong các Hội Thánh hiểu được bản chất của sự cứu rỗi của họ. Cuốn sách nhỏ này trong tay bạn bây giờ chứa đựng ý chính của các bài học này, cùng với một vài tài liệu khác. Tôi bây giờ sẽ giải thích những gì được bao gồm ở đây.
Phần một của sách này là một loạt mười bài học mà tôi gọi là “Grace Distinctions” (Những điểm khác biệt của ân điển). Cách miêu tả này có từ 60 năm nghiên cứu và dạy dỗ thần học của tôi, trong suốt thời gian đó tôi đã có suy nghĩ về thần học như là “nghệ thuật tạo nên các sự khác biệt.” Tôi đặc biệt tìm thấy một sự hiểu biết chính xác về ân điển đòi hỏi việc đưa ra một vài điểm khác biệt rất quan trọng. Khi tôi đang dạy về ân điển trong lớp Kinh Thánh, tôi đã đi đến điểm nơi mà các bài thuyết trình ban đầu của tôi cho lớp học là một sự trình bày về những điểm khác biệt này. Mười bài học trong phần đầu tiên của sách này được định để nêu ra tài liệu này. Thỉnh thoảng các ý tưởng tương tự sẽ xuất hiện lại trong phần hai.
Phần chính của cuốn sách này là phần hai (“Ân điển đã được làm trọn và được áp dụng rồi”), nó là một loạt gồm 14 bài mà trên đó nó có nghĩa là “được cứu bởi ân điển”. Các bài học này được trình bày theo một hình thức đơn giản và có trật tự mà tôi hy vọng có thể được hiểu bởi bất cứ ai: các tín đồ Đấng Christ tương lai, các tín đồ Đấng Christ mới, các tín đồ Đấng Christ dày dạn. Các bài học này có thể được sử dụng cho các mục đích truyền giáo, cho các nhóm nghiên cứu nhỏ, cho các lời cầu nguyện cá nhân, hay cho các ý tưởng về bài giảng. (Tôi có giới thiệu với các thầy giáo, những người rao giảng, và các người lãnh đạo nhóm sử dụng nó cho các mục đích như vậy cũng sử dụng và nghiên cứu tập lớn hơn được nhắc đến ở trên, Set Free!, sử dụng bảng mục lục và bảng liệt kê để tìm những sự trình bày bao quát hơn của các chủ đề được đưa ra theo hình thức vắn tắt hơn trong cuốn sách nhỏ này.)
Mục đích lời cầu nguyện của tôi là đây: Nguyện Đức Chúa Trời sử dụng cuốn sách nhỏ này (qua bạn, đọc giả) để với tới mọi người với lời nhắn về ân điển của Ngài, và để dẫn dắt họ đến với một sự hiểu biết dư dật và sâu sắc hơn về “sự chắc chắn được ban phước” của sự cứu rỗi.
JACK COTTRELL – SEPTEMBER 2017
Lưu hành nội bộ.
Liên hệ:
Học Viện Kinh Thánh Việt Nam
www.vbi.edu.vn
MỤC LỤC
1. ĐỨC CHÚA TRỜI NHƯ LÀ ĐẤNG TẠO DỰNG VÀ ĐỨC CHÚA TRỜI NHƯ LÀ ĐẤNG CỨU RỖI 6
2….. CÁC BỘ LUẬT VÀ HỆ THỐNG LUẬT PHÁP. 9
3….. HỆ THỐNG LUẬT PHÁP VÀ HỆ THỐNG ÂN ĐIỂN.. 11
4….. CÁC MẠNG LỆNH CỦA LUẬT PHÁP VÀ CÁC MẠNG LỆNH CỦA ÂN ĐIỂN.. 13
5….. SỰ VÂNG PHỤC LUẬT PHÁP VÀ SỰ VÂNG PHỤC ÂN ĐIỂN.. 15
6. CÁC VIỆC LÀM BÌNH THƯỜNG VÀ CÁC VIỆC LÀM CỦA LUẬT PHÁP. 17
7. CÁC MẠNG LỆNH CỦA LUẬT PHÁP VÀ CÁC HÌNH PHẠT CỦA LUẬT PHÁP. 19
8. SỰ CÔNG BÌNH CÁ NHÂN VÀ SỰ CÔNG BÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI 20
10. CÁC MẠNG LỆNH CỦA LUẬT PHÁP ĐƯỢC ĐÁP ỨNG, HAY HÌNH PHẠT CỦA LUẬT PHÁP ĐƯỢC ĐÁP ỨNG?. 24
11. ÂN ĐIỂN LÀ KHÔNG CÔNG BẰNG – NHƯNG ĐÓ LÀ TỐT LÀNH! 26
12…… KHÔNG PHẢI BỞI LUẬT PHÁP. 28
13. SỰ NGUYỀN RỦA BỘI PHẦN, SỰ GIẢI THOÁT BỘI PHẦN.. 30
14…… QUA ĐỨC CHÚA JÊSUS-CHRIST.. 33
I. ÂN ĐIỂN ĐẾN BỞI ĐỨC CHÚA JÊSUS-CHRIST. 33
II. ÂN ĐIỂN ĐẾN BỞI THẬP TỰ GIÁ CỦA ĐỨC CHÚA JÊSUS-CHRIST. 33
III. ÂN ĐIỂN ĐẾN BỞI ĐỨC TIN VÀO THẬP TỰ GIÁ CỦA ĐỨC CHÚA JÊSUS-CHRIST. 34
15. ĐƯỢC XƯNG CÔNG BÌNH BỞI ĐỨC TIN: CHÌA KHÓA ĐỂ BẢO ĐẢM… 36
16…… ÂN ĐIỂN VÀ TÍN LÝ GA-LA-TI 39
I. KẾ HOẠCH CỨU RỖI “NĂM NGÓN”. 39
II. PHÉP BÁP-TÊM CHO SỰ THA THỨ CỦA TỘI LỖI CỦA QUÁ KHỨ THÔI. 40
III. MỘT SỰ HIỂU BIẾT SAI LẦM VỀ 1 GIĂNG 1:9. 41
17. ĐƯỢC XƯNG CÔNG BÌNH BỞI ĐỨC TIN, NHƯNG BỊ PHÁN XÉT BỞI VIỆC LÀM PHẢI KHÔNG?. 43
I. NHỮNG CÁCH TRẢ LỜI SAI CHO CÂU HỎI NÀY.. 43
18. ĐƯỢC CỨU BỞI ÂN ĐIỂN, ĐƯỢC CỨU TRONG PHÉP BÁP-TÊM… 46
19. PHÉP BÁP-TÊM CÓ PHẢI LÀ MỘT VIỆC LÀM KHÔNG?. 50
23…… NGUYÊN TỘI VÀ NGUYÊN ÂN ĐIỂN.. 63
24. MỘT KHI ĐÃ Ở TRONG ÂN ĐIỂN, THÌ LUÔN LUÔN Ở TRONG ÂN ĐIỂN?. 66
PHẦN MỘT – CÁC ĐIỂM KHÁC BIỆT CỦA ÂN ĐIỂN
1. ĐỨC CHÚA TRỜI NHƯ LÀ ĐẤNG TẠO DỰNG VÀ ĐỨC CHÚA TRỜI NHƯ LÀ ĐẤNG CỨU RỖI
Điểm khác biệt đầu tiên thích hợp với tín lý về ân điển là làm thế nào chúng ta liên hệ với Đức Chúa Trời. Thực tế, chỉ là về mọi thứ bắt đầu với việc bạn nghĩ về Đức Chúa Trời như thế nào. Xem trích dẫn này từ James Orr: “Tín lý về Đức Chúa Trời, nó chắc chắn là không cần được nói, dựa trên nền tảng của tư tưởng tốt trong tôn giáo. Về tính nghiêm khắc, thần học chỉ là tín lý của Đức Chúa Trời. Đó là ý nghĩa của từ. Đức Chúa Trời là Alpha và Omega của sự nghiên cứu thần học, vì như một người nghĩ về Đức Chúa Trời của mình thể nào thì tín lý thần học của người đó sẽ là như vậy từ đầu đến cuối. Đó là không quá chắc chắn để nói rằng, về nguyên tắc, mọi câu hỏi về tầm quan trọng mà nảy sinh ra trong thần học mà thực tiễn đã được giải quyết rồi trong tín lý về Đức Chúa Trời và các thuộc tính của Ngài. Đó là quá cần thiết để bắt đầu với các ý tưởng đúng đắn phù hợp với Kinh Thánh về Đức Chúa Trời.” (Sidelights on Christian Doctrine: London: Marshall Brothers, 1909; trang 8).
Mọi người thường giữ nhiều hơn một vai trò trong cuộc sống, như chúng ta đôi khi nói rằng, họ đội hai hay nhiều cái nón. Vì vậy bạn có thể liên kết với cùng một người theo hai cách khác nhau. Ví dụ, ai đó mà bạn biết có thể là một cảnh sát trong suốt tuần, và là thầy giáo lớp Kinh Thánh của bạn vào chủ nhật. Đúng vậy, Đức Chúa Trời đội ít nhất hai cái nón CHÍNH, đại diện cho hai loại công việc chính của Ngài và hai mối quan hệ của Ngài với chúng ta.
Trước nhất và đầu tiên, Đức Chúa Trời là ĐẤNG TẠO DỰNG của chúng ta, và chúng ta là các vật tạo dựng của Ngài. Trong vai trò này, Ngài có thể được nghĩ đến như mang một “cái nón rắn chắc” của người thợ xây. Nhưng sau đó, như Đấng Tạo Dựng, Ngài cũng có các vai trò khác hay “các cái nón” khác. Ê-sai 33:22 nêu tên một vài việc làm Đức Chúa Trời làm trong vai trò đang làm của Ngài như Đấng Tạo Dựng: “Ðức Giê-hô-va là quan xét chúng ta, Ðức Giê-hô-va là Ðấng lập luật cho chúng ta, Ðức Giê-hô-va là vua chúng ta.” Gia-cơ 4:12 nói như thế này: “Chỉ có một Đấng lập ra luật pháp và một Đấng xét đoán, tức là Đấng cứu được và diệt được.”
Bởi vì Ngài là Đấng Tạo Dựng của chúng ta, nên Đức Chúa Trời có quyền sở hữu tuyệt đối và thẩm quyền hoàn toàn trên chúng ta; Ngài là Đấng cai trị của chúng ta, Chúa của chúng ta, và Vua của chúng ta. Ngài có quyền để nói với chúng ta những gì phải làm và tuân theo các mệnh lệnh của Ngài. Theo cách này Ngài là Đấng lập luật của chúng ta, như chúng ta và Gia-cơ nói. Trong vai trò này, Ngài cho chúng ta các chỉ dẫn và các điều răn mà chúng ta hoàn toàn bị bắt buộc phải vâng theo. Các điều răn này bao gồm các phạm vi về đạo đức và sự thờ phượng. Cũng vậy, sự thật rằng Đức Chúa Trời là Quan xét của chúng ta thúc đẩy chúng ta vâng phục các mạng lệnh luật pháp mà Ngài ban cho chúng ta như Đấng Tạo Dựng.
Tất cả những điều này đều đúng, và tất cả nó hoàn toàn áp dụng tách biệt khỏi bất cứ ý tưởng nào về tội lỗi và sự cứu rỗi. Trước khi tội lỗi bước vào, mối liên kết của Đức Chúa Trời với A-đam và Ê-va là Đấng Tạo Dựng với vật tạo dựng. Và thậm chí sau khi tội lỗi tham gia vào, thì hầu như mối liên kết của chính chúng ta với Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Dựng và vật tạo dựng. Điều này bao gồm bổn phận của chúng ta để vâng phục quyền cai trị của Ngài và vâng phục các mạng lệnh của Ngài.
Nhưng sự thật mà tội lỗi hiện nay đang hiện diện có nghĩa là Đức Chúa Trời đang nhận vai trò khác trong mối quan hệ của Ngài với loài người: bởi vì chúng ta là tội nhân, nên Ngài giờ đây là Đấng Cứu Thế của chúng ta. Vai trò này là cần thiết bởi vì tội lỗi đã bước vào trong và lan tràn khắp vật được tạo dựng. Ở đây, chúng ta nhìn thấy Đức Chúa Trời làm trọn hai vai trò riêng biệt để mang đến sự cứu rỗi của chúng ta, bởi vì tội lỗi gây ra cho tội nhận hai loại nan đề. Chúng ta gọi điều này là “sự nguyền rủa gấp đôi” của tội lỗi. Và vì các nan đề khác nhau đòi hỏi các cách giải quyết khác nhau, nên Đức Chúa Trời Đấng Cứu Thế đáp lại cả hai với “cách điều trị gấp đôi” của Ngài.
Trước tiên, bởi vì tội lỗi là sự vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời, nó khiến cho chúng ta phạm tội và làm cho chúng ta phải chịu hình phạt của luật pháp, tức là sự sửa phạt đời đời trong địa ngục. Đây là các nan đề theo luật pháp. Để cứu chúng ta khỏi số phận này, Đức Chúa Trời nhận lấy vai trò của Đấng Cứu Chuộc. Sự cứu chuộc là một dạng đặc biệt của sự cứu rỗi. “Để cứu chuộc” có nghĩa là đưa thứ gì đó hay ai đó thoát khỏi tình trạng bị giam cầm bằng việc trả một giá. Đức Chúa Trời làm điều này một cách đặc biệt trong sự hiện thân của Ngài như Jêsus là Đấng Christ. Qua sự cứu chuộc thay thế của Ngài, Đức Chúa Jêsus đã trả cho hình phạt các tội lỗi của thế gian. Việc cứu chuộc được làm trọn này sau đó được áp dụng cho các tội nhân theo hình thức của sự xưng công bình (hay sự tha thứ). Sự xưng công bình là một việc làm của Sự Phán Xét, mà trong đó Ngài nói với tội nhân rằng, “Không có hình phạt gì cho ngươi,” và vì vậy xóa bỏ hình phạt đời đời của người đó. (Khi tôi nghĩ về Đức Chúa Trời trong vai trò của Ngài như là Đấng cứu chuộc, tôi nghĩ về Ngài như đang mang chiếc nón của lính cứu hỏa – bởi vì Ngài [ Đức Chúa Trời là Đức Chúa Con hiện thân là Đức Chúa Jêsus] dập tắt lửa địa ngục cho chúng ta.)
Bổ sung vào điều này, Đức Chúa Trời Đấng Cứu Thế của chúng ta có một vai trò thứ hai, trong đó Ngài đáp ứng phần thứ hai của sự nguyền rủa gấp đôi mà đã ảnh hưởng đến chúng ta những người tội nhân. Nan đề tội lỗi thứ hai này là sự thật mà chính bản chất tự nhiên của chúng ta, đặc biệt là linh hồn của chúng ta, đã trở nên hư hỏng và bị nhiễm độc với bệnh tật của tội lỗi (xem Giê-rê-mi 17:9). Vì vậy Đức Chúa Trời giờ đây phải nhận lấy vai trò cứu rỗi khác này: vai trò của Đấng Chữa Bệnh. (Ở đây tôi nghĩ về Ngài như đang mặc bộ quần áo của người thầy thuốc hay bác sĩ phẫu thuật). Công việc cứu rỗi của sự chữa bệnh này được làm trọn chủ yếu bởi Đức Thánh Linh, Đấng đã đến trong thời kỳ giao ước mới này để ngự vào trong chúng ta cho chính mục đích này. Trong chính giây phút khi mà Đức Thánh Linh ngự vào trong chúng ta (trong phép báp-têm (Công vụ 2:38), Ngài tái sinh chúng ta: tức là, Ngài làm chúng ta sống lại từ cái chết thuộc linh thành đời mới. Từ giây phút đó trở đi, Ngài ngự trong chúng ta để thánh hóa chúng ta, giúp đỡ chúng ta để vượt qua các tàn tích cứng cổ của bệnh tội lỗi.
Điểm mấu chốt là đây: trong một vài khía cạnh hay tình huống trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta đang liên kết với Đức Chúa Trời chủ yếu như là vật tạo dựng và Đấng Tạo Dựng. Như Đấng Tạo Dựng của chúng ta, Đức Chúa Trời là Vua, Đấng lập luật và Quan xét của chúng ta. Nhưng trong các phần khác của đời sống chúng ta, thì chúng ta đang liên kết với Đức Chúa Trời chủ yếu như là tội nhân và Đấng Cứu Thế. Như Đấng Cứu Thế của chúng ta, Đức Chúa Trời là Đấng Cứu Chuộc và Đấng Chữa Bệnh của chúng ta.
Như Đấng Tạo Dựng và như Đấng Cứu Thế, Đức Chúa Trời luôn luôn là CẢ HAI với chúng ta. Nó không phải là trường hợp mà đôi khi Ngài là Đấng Tạo Dựng của chúng ta, và đôi khi Ngài lại là Đấng Cứu Thế của chúng ta. Ngài luôn luôn là Đấng Tạo Dựng của chúng ta, và luôn luôn là Đấng Cứu Thế của chúng ta. Nhưng nó rất là quan trọng để thấy rõ được các khía cạnh nào trong đời sống của chúng ta liên kết với Đức Chúa Trời theo vai trò trước (ví dụ, việc vâng phục các điều răn luật pháp của Ngài), và cái nào liên kết với Ngài trong vai trò sau này (ví dụ, cầu nguyện của sự ăn năn).
2. CÁC BỘ LUẬT VÀ HỆ THỐNG LUẬT PHÁP
Trong điểm khác biệt thứ hai này, chúng ta đang nói về cách sử dụng từ Hy Lạp của Phao-lô cho “luật pháp,” ấy là, NOMOS. Ông sử dụng thuật ngữ này rất nhiều lần, đặc biệt trong Rô-ma và Ga-la-ti. Ví dụ, hãy xem Rô-ma 2:12-15; 3:19-20; 3:27-28; 6:14-15; 8:1-4; Ga-la-ti 2:16. Ở đây tôi đang nhấn mạnh một điểm khác biệt cốt yếu, ấy là, sự khác biệt giữa CÁC BỘ LUẬT và HỆ THỐNG LUẬT PHÁP.
Hiểu được sự khác biệt này là thiết yếu cho một sự hiểu biết chính xác về ân điển. Đáng tiếc là bạn sẽ hầu như không thấy ai nói về điều này. Nó hầu như không được nhận ra. Nhưng tôi nhấn mạnh điều này với bạn: trong cách sử dụng từ “nomos” (luật pháp) của Phao-lô, bạn PHẢI phân biệt giữa các bộ luật và hệ thống luật pháp.
Khi Phao-lô chỉ đến “luật pháp,” hầu hết mọi lần ông đều có ý là các bộ luật (ví dụ như luật pháp của Môi-se). Một bộ luật đơn giản là danh sách đầy đủ hay một chuỗi các mạng lệnh được ban cho chúng ta bởi Đức Chúa Trời trong vai trò của Ngài như là ĐẤNG TẠO DỰNG, bao gồm các quyền và vai trò của Ngài như Đấng lập luật. Chúng ta như những vật tạo dựng của Ngài hoàn toàn mang bổn phận vâng phục bất cứ bộ luật nào mà Ngài đặt để cho chúng ta.
Bộ luật nào mà một người ở dưới phụ thuộc vào các tình huống lịch sử mà người đó đang sống dưới nó. Nói chung, tất cả những người trong độ tuổi có thể chịu trách nhiệm đều ở dưới bộ luật được viết vào lòng của tất cả bởi công dụng của việc con người chúng ta được tạo dựng theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời (Rô-ma 2:14-15). Bổ sung vào điều đó, tất cả dân Y-sơ-ra-ên tồn tại giữa thời Môi-se và Đấng Christ đều ở dưới luật pháp của Môi-se như bộ luật duy nhất của họ. Trong thời kỳ giao ước mới này, chúng ta có một bộ sưu tập khác của các mạng lệnh và những sự chỉ dẫn về việc sống đời sống thánh như thế nào, đây là bộ luật giao ước mới của chúng ta. Nó chứa đựng những lời chỉ dẫn về đời sống thánh như được tìm thấy chủ yếu trong Tân Ước.
Điều này có nghĩa là, vâng, chúng ta như là các tín đồ Đấng Christ ở dưới một bộ luật, chứa đựng các mạng lệnh mà chúng ta hoàn toàn bị bắt buộc phải vâng theo. Không có trường hợp ngoại lệ, vì chúng ta là các vật tạo dựng của Đấng Tạo Dựng và Đấng lập luật. chúng ta luôn luôn được liên kết với Đức Chúa Trời như Đấng Tạo Dựng của chúng ta.
Dù vậy, thỉnh thoảng, khi Phao-lô sử dụng từ “nomos” (luật pháp), ông không chỉ đến bất cứ bộ luật nào như vậy, nhưng đến thứ mà tôi gọi là HỆ THỐNG LUẬT PHÁP. Hệ thống luật pháp (và chỉ có duy nhất một cái) là phương pháp hay chương trình mà bởi đó một người có thể là công bình với Đức Chúa Trời, tức là, phương pháp hay chương trình mà vì đó một người thực sự có thể bước vào thiên đàng – bởi việc người đó vâng phục bộ luật của mình tốt như thế nào. Nói cách khác, hoàn toàn tách biệt khỏi bất cứ cân nhắc nào về ân điển hay về Đức Chúa Jêsus-Christ, một người có thể là công bình với Đức Chúa Trời duy nhất trong các giới hạn của bộ luật của mình. Điều này xảy ra như thế nào là những gì mà tôi đang gọi là hệ thống luật pháp. (Xem chương tiếp theo bên dưới).
Một sự so sánh cho hai cách sử dụng này của từ “luật pháp” là cách mà chúng ta sử dụng từ “thuốc.” Đôi khi từ này có nghĩa là các thuốc viên và các viên nang và các thuốc bổ mà chúng ta uống trong các liều thuốc. Ở đây chúng ta nói về số nhiều, chúng là “các viên thuốc” khác nhau của chúng ta. Nhưng đôi khi từ “thuốc” (số ít) được sử dụng với ý nghĩa là CÁCH THỨC hay PHƯƠNG PHÁP để dùng với các bệnh tật (ví dụ, như tương phản với cầu nguyện, phép thuật hay tư tưởng tích cực). Cách sử dụng sau này sẽ chỉ đến “lĩnh vực y học.”
Giống như vậy, một bộ luật được bao gồm các luật pháp hay mệnh lệnh đặc biệt, nơi mà hệ thống luật pháp là một ĐƯỜNG LỐI để là công bình với Đức Chúa Trời, một đường đi lên thiên đàng. Đó là cốt yếu để biết cái nào trong các cách sử dụng này mà Phao-lô có trong tâm trí khi ông sử dụng “nomos” (từ mà thường được dịch thành “luật pháp”).
3. HỆ THỐNG LUẬT PHÁP VÀ HỆ THỐNG ÂN ĐIỂN
Trong chương trước, chúng ta nói đã về “hệ thống luật pháp” như một lối đi lên thiên đàng, như điều gì đó khác biệt với một “bộ luật.” Nhưng đây không phải là “hệ thống” duy nhất như vậy (mà vì đó chúng ta sẽ biết ơn đời đời!). Cũng có “hệ thống ân điển,” mà là một lối đi khác, khác biệt hoàn toàn để là công bình với Đức Chúa Trời. Đó là quan trọng để hiểu được rằng “các hệ thống” này thực sự là hai cách để nhận được đời sống đời đời và đi lên thiên đàng. Từ viễn cảnh của chúng ta như những tội nhân, chúng ta có thể nghĩ về điều này một cách đơn giản như là sự cứu rỗi. Vì vậy mấu chốt ở đây là điều này: chúng ta phải phân biệt giữa hai đường lối hay hệ thống để “được cứu,” tức là, để đi lên thiên đàng. Hai đường lối này là HỆ THỐNG LUẬT PHÁP (như đã được nói đến trong chương hai ở trên) và HỆ THỐNG ÂN ĐIỂN.
Điều này có thể hợp lý là điểm khác biệt quan trọng nhất của mười điều mà tôi giải thích ở đây. Nó là chìa khoá cho điểm của Phao-lô trong Rô-ma 6:14-15, nơi mà ông nói hai lần rằng chúng ta “chẳng thuộc dưới luật pháp, nhưng thuộc dưới ân điển.” KHÔNG PHẢI DƯỚI LUẬT PHÁP! NHƯNG THUỘC DƯỚI ÂN ĐIỂN! Đây thực ra là một trong những điều quan trọng nhất mà bạn có thể biết về chính bản thân mình: bạn không thuộc dưới luật pháp, nhưng thuộc dưới ân điển! Điều này có nghĩa là gì?
Điều này có nghĩa rằng chúng ta như là các tín đồ Đấng Christ không phải thuộc dưới HỆ THỐNG LUẬT PHÁP của sự cứu rỗi; chúng ta thuộc dưới HỆ THỐNG ÂN ĐIỂN của sự cứu rỗi. Chúng ta không cố gắng để trở nên công bình với Đức Chúa Trời bằng việc chúng ta giữ bộ luật tốt như thế nào (tức là bằng việc chúng ta “tốt như thế nào”), nhưng chúng ta được xưng công bình với Đức Chúa Trời qua sự ban cho của ân điển được thực hiện qua Đức Chúa Jêsus-Christ. Nếu như bạn không nắm được điểm khác biệt này giữa hệ thống luật pháp và hệ thống ân điển, bạn sẽ không bao giờ hiểu được về ân điển.
Nhiều người vẫn nghĩ sai lầm rằng trong câu nói này (“anh em chẳng thuộc dưới luật pháp”), Phao-lô đang nói về một BỘ LUẬT. Một vài người nghĩ ông có ý nói chúng ta không ở dưới luật pháp của Môi-se. Đúng là chúng ta không ở dưới luật pháp của Môi-se như là bộ luật dành cho mình, nhưng đó KHÔNG phải là những gì mà ông đang nói đến ở đây. Một vài người nghĩ Phao-lô có ý rằng chúng ta như là các tín đồ Đấng Christ không bị ép buộc phải vâng phục BẤT CỨ bộ luật nào, vì giờ đây chúng ta đang ở dưới ân điển. Điều này hoàn toàn sai lầm. Đức Chúa Trời vẫn là Đấng Tạo Dựng của chúng ta; chúng ta vẫn có một bộ luật; chúng ta ở dưới bộ luật đó như một đường lối của đời sống.
Đây là những gì mà Phao-lô đang nói đến: chúng ta không thuộc về HỆ THỐNG LUẬT PHÁP, nơi mà sự cứu rỗi của chúng ta sẽ phụ thuộc vào việc chúng ta giữ bộ luật của chúng ta tốt như thế nào. Vấn đề với việc cố gắng để “được cứu” (cố gắng để là công bình với Đấng Tạo Dựng của chúng ta) qua hệ thống luật pháp đó là để cho điều này xảy ra, bạn sẽ phải vâng phục bộ luật của bạn một cách hoàn hảo! Bạn sẽ phải tốt 100%! Dĩ nhiên điều này sẽ không bao giờ xảy ra với chúng ta, vì tất cả chúng ta đều là tội nhân rồi (Rô-ma 3:23). Sự thật đáng buồn đó là không có ai CÓ THỂ là công bình với Đức Chúa Trời dưới hệ thống luật pháp.
Hãy nhớ rằng: chúng ta liên kết với Đức Chúa Trời như Đấng Tạo Dựng và Đấng lập luật theo nhiều cách, và chúng ta liên kết với luật pháp của Ngài theo nhiều cách tích cực. Nhưng cho các mục đích của sự cứu rỗi, chúng ta không đang liên kết với Đức Chúa Trời như là Đấng Tạo Dựng và Đấng lập luật, và chúng ta không ở dưới luật pháp theo nghĩa này. Chúng ta đang liên kết với Ngài như Đấng Cứu Thế và Đấng Cứu Chuộc, phụ thuộc duy nhất vào ân điển của Ngài. “Chúng ta không thuộc dưới luật pháp nhưng thuộc dưới ân điển” có nghĩa là chúng ta không thuộc dưới hệ thống luật pháp; chúng ta thuộc dưới hệ thống ân điển! Đây là tóm tắt của điểm khác biệt này:
A. Dưới hệ thống luật pháp, Đức Chúa Trời như Đấng Tạo Dựng, làm việc qua bản tính thần thánh của Ngài, ban cho chúng ta bộ luật. Sự vâng phục hoàn hảo bộ luật của chúng ta dẫn đến thiên đàng; sự không vâng phục nó (thậm chí là một điều) dẫn đến địa ngục.
B. Dưới hệ thống ân điển, Đức Chúa Trời như Đấng Cứu Thế, làm việc qua tình yêu thương của Ngài, ban cho chúng ta Đức Chúa Jêsus. Đức tin trong Đức Chúa Jêsus dẫn đến thiên đàng; không tin đến Đức Chúa Jêsus dẫn đến địa ngục.
Biểu đồ sau trình bày sự trái nghịch tương tự này giữa hai hệ thống để là công bình với Đức Chúa Trời:
| HỆ THỐNG LUẬT PHÁP VÀ HỆ THỐNG ÂN ĐIỂN | |
| 1. HỆ THỐNG LUẬT PHÁP | 2. HỆ THỐNG ÂN ĐIỂN |
| A. Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, hành động qua sự Thánh Khiết Ngài, ban cho chúng ta BỘ LUẬT | A. Đức Chúa Trời là Đấng Cứu Rỗi, hành động qua Tình Yêu Ngài, ban cho chúng ta Đức Chúa Jêsus |
| B. Vâng phục tuyệt đối sẽ có kết quả ở THIÊN ĐÀNG! | B. Đức tin vào Ngài kết quả ở THIÊN ĐÀNG! |
| C. Không vâng lời (thậm chí phạm chỉ một tội) kết quả ở HỒ LỬA! | C. Không tin Ngài kết quả ở HỒ LỬA! |
4. CÁC MẠNG LỆNH CỦA LUẬT PHÁP VÀ CÁC MẠNG LỆNH CỦA ÂN ĐIỂN
Điểm khác biệt thứ tư giữa hai loại mạng lệnh được ban ra bởi Đức Chúa Trời: các mạng lệnh của luật pháp, và các mạng lệnh của ân điển. (Cái ở sau có thể cũng được gọi là các mạng lịnh của TIN LÀNH). Một mạng lệnh là một hình thức ra lệnh về mặt ngữ pháp, được trình bày theo phong cách mệnh lệnh (hay lối, như là khác biệt với các lối trình bày, nghi vấn và cảm thán). Nó là một sự giao tiếp bằng lời nói mà trong đó ai đó đang ra lệnh hay chỉ dẫn người khác để LÀM điều gì đó.
Đa số các giao tiếp của Đức Chúa Trời với chúng ta là theo hình thức của các mạng lệnh, và đa số mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời bao gồm việc đáp lại các mạng lệnh này. Sự đáp trả này có thể là tích cực (vâng phục) hay tiêu cực (không vâng phục).
Điều quan trọng để nhớ là đây: các mạng lệnh hay mệnh lệnh của Đức Chúa Trời với chúng ta không phải tất cả đều cùng một loại. Ngài ban cho chúng ta HAI LOẠI mạng lệnh, phụ thuộc và cái nón nào mà Ngài đang đội: nón Đấng Tạo Dựng của Ngài, hay nón Đấng Cứu Thế của Ngài. Điểm khác biệt này là cốt yếu!
Đôi khi Đức Chúa Trời như Đấng Tạo Dựng của chúng ta ban cho chúng ta các sự chỉ dẫn như vật tạo dựng của Ngài. Những chỉ dẫn này là các mạng lệnh của LUẬT PHÁP; chúng lập nên BỘ LUẬT của chúng ta. Như các vật tạo dựng của Đấng Tạo Dựng, chúng ta hoàn toàn có nghĩa vụ vâng phục các mạng lệnh này. Nghĩa vụ này không bao giờ mất đi.
Mặt khác, đôi khi Đức Chúa Trời trong vai trò của Ngài như Đấng Cứu Thế ban cho chúng ta các chỉ dẫn như những tội nhân. Những chỉ dẫn này là các mạng lệnh của ÂN ĐIỂN (hay các mạng lệnh của TIN LÀNH). Chúng là câu trả lời của Đức Chúa Trời cho câu hỏi của tội nhân (như trong Công vụ 2:37; và Công vụ 16:30), “Tôi phải làm gì để được cứu?” Khi Đức Chúa Trời trả lời một câu hỏi như vậy với lối mệnh lệnh, thì những câu mệnh lệnh này không định để bày tỏ quyền cai trị của Ngài trên chúng ta, chúng được định để nói với chúng ta những gì mà chúng ta phải làm để nhận được sự ban cho bởi ân điển cứu rỗi của Ngài.
Các mạng lệnh tin lành như vậy tồn tại là điều ngụ ý cần thiết về các sự ám chỉ đến SỰ VÂNG PHỤC đến TIN LÀNH trong một vài đoạn trích Kinh Thánh. Trong Rô-ma 10:16, Phao-lô nói nhiều người Giu-đa bị hư mất bởi vì “chẳng phải mọi người đều nghe tin lành đâu”. Trong 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:8 Phao-lô nói Đức Chúa Jêsus sẽ trở lại để “báo thù” những người “không vâng phục tin lành của Đức Chúa Jêsus chúng ta.” Trong 1 Phi-e-rơ 4:17 sứ đồ hỏi, “sự cuối cùng của những kẻ chẳng vâng theo Tin lành Đức Chúa Trời sẽ ra thế nào?”.
Một vài người thừa nhận một cách sai lầm rằng “tin lành của Đức Chúa Jêsus chúng ta” chứa đựng chỉ các sự kiện về sự chết, sự chôn và sự sống lại (xem 1 Cô-rinh-tô 15:1-4). Tuy nhiên, điều này là một hạn chế không theo Kinh Thánh về từ “tin lành.” Tin lành (tin tức tốt lành) bao gồm các sự kiện tin lành này, nhưng nó cũng bao gồm các lời hứa tin lành (xem Cô-lô-se 1:5, 23) và các mạng lệnh tin lành – như được nhìn thấy ở trên. Một người không vâng phục các sự kiện hay các lời hứa; một người vâng phục các mạng lệnh. Phần của tin lành là các mạng lệnh mà nói với chúng ta làm thế nào để được cứu.
Các mệnh lệnh luật pháp và các mạng lệnh ân điển rất là khác nhau. Một sự so sánh là sự khác nhau giữa các mệnh lệnh từ các người đại diện chính quyền (“Dừng lại nhân danh của luật pháp!”), và các mệnh lệnh từ bác sĩ của một người (“Uống thuốc này! Và giảm khoảng 13kg nữa!). Trong cả hai trường hợp, các chỉ dẫn này là các mạng lệnh, được đưa ra theo hình thức câu mệnh lệnh. Trong cả hai trường hợp, chúng “nói bạn những gì phải làm,” nhưng vì các lý do rất khác nhau.
Tóm lại, khi Đấng Tạo Dựng – Đức Chúa Trời đưa ra các sự chỉ dẫn cho chúng ta như vật tạo dựng của Ngài, Ngài đang ban cho chúng ta các mạng lệnh luật pháp; khi Đấng Cứu Thế – Đức Chúa Trời chỉ dẫn chúng ta như những tội nhân làm thế nào để được cứu, thì Ngài đang ban cho chúng ta các mạng lệnh ân điển (tức là tin lành).
5. SỰ VÂNG PHỤC LUẬT PHÁP VÀ SỰ VÂNG PHỤC ÂN ĐIỂN
Điểm khác biệt tiếp theo này sinh ra trực tiếp từ điểm trước đó. Nếu có hai loại mạng lệnh, vậy thì phải có hai loại vâng phục. Đa số sự vâng phục của chúng ta là cách chúng ta đáp lại các mạng lệnh luật pháp của Đấng Tạo Dựng. Chúng ta chỉ đơn giản vâng phục bộ luật hằng ngày của chúng ta. Ví dụ, mỗi lần chúng ta nói sự thật, chúng ta đang vâng phục một mạng lệnh luật pháp của Đức Chúa Trời (Ê-phê-sô 4:25). Việc nộp thuế một cách trung thực là sự vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời (Rô-ma 13:6-7). Việc sống hòa thuận với hàng xóm của chúng ta là sự vâng phục bộ luật của chúng ta (Rô-ma 12:18). Không làm những điều bị ngăn cấm bởi Đấng Tạo Dựng cũng là sự vâng phục các mạng lệnh luật pháp (ví dụ, không ăn cắp, không sử dụng từ ngữ thô tục – Ê-phê-sô 4:28-29). Bộ luật của chúng ta bao gồm hàng trăm các mệnh lệnh như vậy theo nghĩa đen, và chúng ta đang sống liên tục nhưng hầu như vâng phục chúng một cách vô thức.
Mặt khác, đặc biệt là khi chúng ta đang trong quá trình trở thành một tín đồ Đấng Christ, thì chúng ta đang vâng phục các mạng lệnh của TIN LÀNH. Đức Chúa Trời ban cho chúng ta các mạng lệnh này không phải bởi vì Ngài là chủ và không chỉ bởi vì Ngài muốn cho chúng ta biết về việc một người tốt được đòi hỏi phải sống như thế nào. Và chúng ta vâng phục các mạng lệnh của tin lành không chỉ đơn giản để làm hài lòng Đấng Tạo Dựng của chúng ta, nhưng bởi vì chúng ta muốn được cứu khỏi tội lỗi của chúng ta. Các mạng lệnh ân điển này bày tỏ cho chúng ta con đường để được cứu, chúng nói với chúng ta những gì CHÚNG TA phải làm để nhận được sự cứu rỗi.
Loại thứ hai của sự vâng phục này được gọi là “vâng phục tin lành.” Hai lần Phao-lô nói rằng việc không vâng phục tin lành là một nguyên nhân chính cho việc tại sao con người không được cứu. Như đã được lưu ý lúc đầu, đặc biệt nói về những người Giu-đa, những người bị hư mất, ông nói rằng, “chẳng phải mọi người đều nghe theo tin lành đâu” (Rô-ma 10:16, được dịch theo nghĩa đen). Nói chung chung thì Phao-lô nói rằng lúc Đấng Christ quay lại, Ngài sẽ “báo thù những kẻ không vâng phục tin lành” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:8). Xem lại 1 Phi-e-rơ 4:17.
Việc vâng phục tin lành bao gồm việc làm tất cả những điều mà Đấng Cứu Thế – Đức Chúa Trời nói tội nhân phải làm để nhận được sự cứu rỗi. Điều này bao gồm tin vào Đức Chúa Jêsus (Giăng 3:16; Công vụ 16:31); ăn năn tội lỗi (Lu-ca 13:3; Công vụ 2:38); xưng nhận Đức Chúa Jêsus là Chúa (Rô-ma 10:9-10) và chịu nhận chìm vào trong Đấng Christ (Công vụ 2:38; Công vụ 22:16). Thậm chí như là các tín đồ Đấng Christ, chúng ta tiếp tục vâng phục các mạng lệnh của tin lành để tin và ăn năn, khi chúng ta nuôi dưỡng trong lòng chúng ta các thái độ tiếp diễn về đức tin trong Đức Chúa Jêsus và sự ăn năn tội lỗi.
Mọi hành động (và thái độ) của sự vâng phục, bao gồm sự vâng phục đến các mạng lệnh luật pháp VÀ sự vâng phục đến các mạng lệnh ân điển, là một việc làm của loài người theo ý nghĩa chung về “điều gì đó mà chúng ta phải làm.” Chính đức tin là một việc làm theo nghĩa này, như là phép báp-têm. Nhưng “các việc làm” như vậy (những điều chúng ta làm) là phù hợp hoàn hảo với ân điển vì chúng không phải là sự vâng phục các mạng lệnh luật pháp, nhưng là sự vâng phục các mạng lệnh ân điển của Đức Chúa Trời như Đấng Cứu Thế. (Xem chương tiếp theo).
Sự vâng phục các mạng lệnh tin lành giống như một người giải cứu cứu một người đang đuối nước bằng cách quăng cho người đó một sợi dây và la lên “Nắm lấy sợi dây này!” Một cách nghiêm túc thì đó là một mạng lệnh, nhưng việc nắm lấy sợi dây và được kéo lên an toàn thì là ân điển thuần túy. Một so sánh khác là một nhóm những người lính cứu hỏa trên mặt đất đang cầm một tấm lưới dưới một cửa sổ của tầng thứ ba trong một tòa nhà đang cháy, và la lên “Nhảy!” với một phụ nữ đang mắc kẹt trong tòa nhà. Trong trường hợp này “Nhảy!” không phải là một mạng lệnh luật pháp nhưng là một mạng lệnh ân điển, và người đó vâng phục mạng lệnh để được cứu.
6. CÁC VIỆC LÀM BÌNH THƯỜNG VÀ CÁC VIỆC LÀM CỦA LUẬT PHÁP
Trong khao khát của chúng ta để hiểu được ân điển, đó là hoàn toàn thiết yếu để chúng ta có một sự hiểu biết chính xác về thuật ngữ “các việc làm.” Đây là bởi vì Ê-phê-sô 2:8-9 đặc biệt nói rằng bởi vì chúng ta được cứu bởi ân điển qua đức tin, nên chúng ta không thể được cứu bởi việc làm. Vì vậy chúng ta phải biết “các việc làm” có nghĩa gì trong câu này.
Vấn đề đó là hầu như mọi người không hiểu được những gì Phao-lô muốn nói khi ông nói ra câu này. Đó là bởi vì họ cho rằng bất cứ khi nào Kinh Thánh sử dụng thuật ngữ “các việc làm,” thì nó đơn giản có nghĩa là “điều gì đó bạn làm,” tức là, điều gì đó mà bạn LÀM trái ngược với điều gì đó mà Đức Chúa Trời làm. Giả định này là một sai lầm nghiêm trọng.
Trong trường hợp này điểm khác biệt không phải là về các việc làm mà chúng ta làm như vậy, nhưng là về chính thuật ngữ “các việc làm,” và thuật ngữ được sử dụng như thế nào. Sự thật đó là khi Tân Ước sử dụng thuật ngữ liên quan đến “các việc làm,” nó sử dụng các thuật ngữ này theo hai nghĩa khác biệt. Điều này có nghĩa là một trong những điểm khác biệt quan trọng nhất (nhưng có lẽ là ít được biết đến nhất) mà chúng ta phải đưa ra liên quan đến ân điển là đây: chúng ta phải phân biệt giữa các thời điểm khi mà Tân Ước sử dụng “các việc làm” theo một nghĩa BÌNH THƯỜNG hay chung chung, và các thời điểm khi nó sử dụng “các việc làm” theo một nghĩa đặc biệt hơn về CÁC VIỆC LÀM CỦA LUẬT PHÁP.
“Các việc làm” theo nghĩa bình thường hay chung chung có nghĩa đơn giản là “điều gì đó mà bạn làm.” Điều đó bao gồm BẤT CỨ ĐIỀU GÌ mà bạn làm, và ĐIỀU ĐÓ bao gồm bất cứ điều gì mà bạn làm để vâng phục bất cứ mạng lệnh nào của Đức Chúa Trời, cho dù điều đó là một mạng lệnh luật pháp của Đức Chúa Trời như Đấng Tạo Dựng hay một mạng lệnh ân điển của Đức Chúa Trời như Đấng Cứu Thế. Tức là, chính đức tin là điều gì đó mà BẠN làm, và vì vậy nó là một việc làm theo nghĩa này. Điều này được chứng minh bởi Giăng 6:26-29, khi mà Đức Chúa Jêsus sử dụng thuật ngữ “các việc làm” để miêu tả về chính đức tin. Đức tin, cùng với mọi hành động khác của sự vâng phục các mạng lệnh ân điển, là một việc làm theo nghĩa chung này.
Nhưng đây là cách giải quyết: Phao-lô phân biệt đức tin với các việc làm (như trong Ê-phê-sô 2:8-9 và nhiều nơi khác ), và nói rằng các việc làm không có chỗ trong việc nhận được ân điển. Làm thế nào mà điều này có thể là như vậy, xét theo Giăng 6:26-29? Đơn giản như vậy: khi Phao-lô sử dụng thuật ngữ “các việc làm,” ông không đang sử dụng nó theo nghĩa chung của “điều gì đó mà bạn làm.” Đối với ông, nó phải có ý nghĩa khác nào đó – một ý nghĩa đặc biệt hơn. Nếu không thì sự dạy dỗ của ông sẽ trái nghịch với sự dạy dỗ của Đức Chúa Jêsus – điều mà không thể được. Vì vậy chúng ta phải phân biệt Phao-lô đang sử dụng thuật ngữ “các việc làm ” như thế nào, với Đức Chúa Jêsus sử dụng thuật ngữ như thế nào.
Điểm cốt yếu là đây: bất cứ khi nào mà Phao-lô sử dụng thuật ngữ “các việc làm,” ông đặc biệt muốn nói đến “các việc làm của luật pháp.” Đôi khi ông nói là “các việc làm,” đôi khi ông nói là “các việc làm của luật pháp.” (Một nghiên cứu kỹ lưỡng hơn Rô-ma 3:27-28 bày tỏ điều này. Trong Rô-ma 4:6, ông nói về việc “được cho là công bình” – tức là, được bào chữa – “chẳng bởi việc làm,” mà không thêm vào “của luật pháp;” nhưng rõ ràng rằng ông muốn nói điều tương tự bằng “các việc làm” trong 4:6 như ông muốn nói bởi “các việc làm của luật pháp” trong 3:28). Và đối với Phao-lô, “các việc làm ” là một danh sách đặc biệt của “những việc mà chúng ta làm,” theo nghĩa là những điều gì đó mà chúng ta làm không phải là “các việc làm ” – tức là, các việc làm của luật pháp.
Xem Rô-ma 3:20, 28; Ga-la-ti 2:16; và 3:2, 5 cho cách sử dụng thuật ngữ “các việc làm của luật pháp” của Phao-lô. Ví dụ, trong Rô-ma 3:20, ông nói rằng “chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài.” Trong Rô-ma 3:28 ông nói chúng ta “được xưng công bình bởi đức tin, chớ không bởi việc làm theo luật pháp.” Trong Ga-la-ti 2:16 Phao-lô lập lại các ý tưởng của Rô-ma 3:20, 28 và sử dụng “các việc làm của luật pháp” ba lần. Trong Ga-la-ti 3:2 ông hỏi liệu rằng chúng ta có nhận được Đức Thánh Linh “cậy các việc luật pháp hay là bởi nghe và tin” (cũng xem câu 5).
Chú ý: mặc cho các sự dịch nghĩa có sai sót, nhưng Phao-lô CHƯA BAO GIỜ sử dụng một mạo từ trong nhóm từ này. Ông chưa bao giờ nói “THE works của The Law”; nó chỉ luôn luôn là “works của law.” Cũng vậy, ông CHƯA BAO GIỜ giới hạn “luật pháp” này thành luật pháp của Môi-se, trái ngược với một giải nghĩa bình thường nhưng là cách giải nghĩa sai lầm nghiêm trọng. Đây là điểm cốt yếu: “các việc làm của luật pháp” (tức là, “các việc làm” mà không thể cứu được) là BẤT CỨ và TẤT CẢ những điều mà chúng ta làm đáp lại bộ luật của chúng ta (các mạng lệnh luật pháp), bao gồm tất cả các mạng lệnh Tân Ước về đời sống thánh. Phao-lô thậm chí bao gồm CÁC TỘI LỖI của chúng ta nghịch với bộ luật của chúng ta về khái niệm của “các việc làm của luật pháp,” như một sự so sánh của Rô-ma 3:28 và 4:6-8 bày tỏ. Tức là, chúng ta được xưng công bình bởi đức tin, TÁCH BIỆT KHỎI một sự xem xét hồ sơ của sự vâng phục của chúng ta và của các tội lỗi của chúng ta nghịch cùng các mạng lệnh của bộ luật của chúng ta. (Vui lòng đọc câu cuối cẩn thận).
Vậy thì cái gì là “những điều mà chúng ta làm” mà không được bao gồm trong thuật ngữ “các việc làm” như Phao-lô sử dụng thuật ngữ đó? Đặt ra một cách đơn giản, ông không bao gồm sự vâng phục tin lành trong danh sách của các việc làm (tức là, các việc làm của luật pháp). Đây phải là như vậy vì chúng ta không được cứu bởi các việc làm (Ê-phê-sô 2:8-9), nhưng chúng ta không thể được cứu mà không có sự vâng phục tin lành (Rô-ma 10:16; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:8).
Đây là dòng cuối cùng: khi Phao-lô nói chúng ta không được cứu bởi các việc làm, ông muốn nói là chúng ta không được cứu bởi việc chúng ta vâng phục các mạng lệnh LUẬT PHÁP của chúng ta tốt như thế nào. (Đây là lý do tại sao ông gọi chúng là các việc làm CỦA LUẬT PHÁP). Tuy nhiên, ông KHÔNG loại trừ các hành động của sự vâng phục các mạng lệnh ÂN ĐIỂN từ sự kiện cứu rỗi, bao gồm mạng lệnh chịu phép báp-têm. Sự vâng phục các mạng lệnh tin lành không phải là các việc làm, theo ý của Phao-lô về thuật ngữ.
Một bình luận cuối cùng: những gì mà chúng ta đang nói ở đây không có nghĩa là mọi “điều mà chúng ta làm” đều thuộc MỘT trong những danh sách này nhưng không phải là CÁI KHÁC. Nó có nghĩa là một trong những danh sách (và thuật ngữ áp dụng cho nó như Đức Chúa Jêsus sử dụng nó – “các việc làm” chung) bao gồm TẤT CẢ mọi điều mà chúng ta làm, trong khi danh sách khác (và thuật ngữ miêu tả nó như Phao-lô sử dụng nó – đặc biệt là “các việc làm của luật pháp”) bao gồm ĐA SỐ của các điều tương tự này, nhưng không phải là tất cả chúng. Phao-lô để dành thuật ngữ “các việc làm” cho những điều mà chúng ta làm để vâng phục các mạng lệnh của luật pháp thôi.
7. CÁC MẠNG LỆNH CỦA LUẬT PHÁP VÀ CÁC HÌNH PHẠT CỦA LUẬT PHÁP
Điểm khác biệt khác liên quan đến luật pháp là sự khác biệt giữa CÁC MẠNG LỆNH của luật pháp, và CÁC HÌNH PHẠT được ra lệnh bởi luật pháp khi các mạng lệnh của nó không được vâng phục. Đó là cốt yếu để hiểu được sự khác biệt này, để hiểu được chính xác công việc của Đức Chúa Jêsus-Christ.
Bất cứ hệ thống của các luật pháp nào (bất cứ bộ luật nào) đều bao gồm cả các mạng lệnh và các hình phạt. Xem lại Ê-sai 33:22 và Gia-cơ 4:12: Đức Chúa Trời vừa là ĐẤNG LẬP LUẬT (ban các mạng lệnh) và vừa là QUAN XÉT (ép buộc sự vâng phục qua các hình phạt). Như lúc trước, trong vai trò là Đấng Tạo Dựng, Đức Chúa Trời đưa ra các mạng lệnh mà Ngài đòi hỏi các vật tạo dựng của Ngài phải vâng phục. Như sau này, cũng trong vai trò của Ngài như Đấng Tạo Dựng, Đức Chúa Trời ngồi trong nơi phán xét các vật tạo dựng của Ngài và áp dụng các hình phạt của địa ngục cho những người không vâng phục.
Cho đến tận khi chúng ta các vật tạo dựng được quan tâm đến, thì chúng ta được xem là CÔNG BÌNH khi chúng ta vâng phục các mạng lệnh của luật pháp. (Sự công bình theo định nghĩa có nghĩa sự tuân theo các quy tắc tiêu chuẩn thích hợp, và các tiêu chuẩn thích hợp cho loài người là luật pháp của Đấng Tạo Dựng). Nếu chúng ta giữ sự vâng phục bộ luật của chúng ta một cách hoàn hảo, thì chúng ta giữ được sự thông công với Đấng Tạo Dựng. Nhưng nếu như chúng ta phạm tội, chúng ta không bao giờ “công bình với Đức Chúa Trời” nữa theo các thuật ngữ của các MẠNG LỆNH của luật pháp.
Vậy thì luật pháp trở nên không hoạt động bình thường và bị loại bỏ khi chúng ta phạm tội nghịch với nó phải không? Nó rơi vào sự không tôn trọng và bất lực phải không? Không! Luật pháp, tức là, Đấng lập luật, được chuẩn bị để đối phó với những người phá luật. Việc áp dụng HÌNH PHẠT của luật pháp gìn giữ danh dự của Đấng lập luật và khả năng hoạt động của luật pháp. Và với việc áp dụng hình phạt của luật pháp, thậm chí người phá luật giữ “sự công bình với luật pháp” theo nghĩa mà người đó thỏa mãn hình phạt được đòi hỏi của nó. (Như một sự so sánh, chúng ta nói rằng một kẻ phạm tội, người mà đáp ứng thời hạn được định của mình ở trong tù đã “trả món nợ của mình cho xã hội.” Tuy nhiên theo trường hợp của luật pháp của Đức Chúa Trời, thì việc trả món nợ – đời đời trong địa ngục – là không bao giờ kết thúc).
Điều này phải làm gì với Đức Chúa Trời? Tại sao luật pháp của Đức Chúa Trời lại bao gồm cả các mạng lệnh VÀ các hình phạt? Nó là một vấn đề về sự CÔNG BÌNH của chính Đức Chúa Trời. Vì Đức Chúa Trời là nguồn gốc của luật pháp, cách đáp lại của chúng ta với luật pháp đó phản chiếu lên chính Đức Chúa Trời. Vì vậy để Đức Chúa Trời gìn giữ được danh dự của chính Ngài, thì Ngài phải thấy được rằng luật pháp của Ngài được tôn trọng và gìn giữ. Tức là, để Đức Chúa Trời là đúng đắn với chính Ngài (tức là, công bình), thì Ngài phải bảo đảm rằng các MẠNG LỆNH của luật pháp được tôn trọng và được vâng phục, hay là HÌNH PHẠT của luật pháp được áp dụng và làm theo một cách nghiêm khắc. Khi các mạng lệnh của luật pháp của Ngài bị phạm bởi tội lỗi của loài người, bản chất thánh của Đức Chúa Trời đòi hỏi HÌNH PHẠT của luật pháp được đáp ứng. Dù sao đi nữa thì Đức Chúa Trời là công bình.
8. SỰ CÔNG BÌNH CÁ NHÂN VÀ SỰ CÔNG BÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
Trong chương trước, chúng ta đã nói về sự công bình của loài người cũng như sự công bình của Đức Chúa Trời. Việc phân biệt giữa chúng là rất quan trọng khi chúng ta cố gắng hiểu được ân điển, vì chúng ta không thể được cứu mà không có sự công bình.
Trước tiên, “công bình” là gì? Cơ bản, để là công bình có nghĩa là trong sự tuân theo QUY TẮC TIÊU CHUẨN mà bởi đó một người được đánh giá một cách chính xác và công bằng. Quy tắc tiêu chuẩn chính xác mà loài người phải tuân theo nó là bộ luật của Đấng Tạo Dựng của chúng ta. Vì vậy chúng ta có thể định nghĩa sự công bình (đặc biệt trong mạch văn về ân điển) như “sự đáp ứng được các yêu cầu của luật pháp.” Chủ yếu điều này bao gồm việc đáp ứng được các mạng lệnh của luật pháp, nhưng có một ý nghĩa mà trong đó nó có thể bao gồm việc đáp ứng hình phạt của luật pháp. Có hai cách khác nhau mà một người có thể là công bình liên quan đến bộ luật của chúng ta.
Cách khác để nói về nó đó là để được công bình có nghĩa là phải “đúng đắn với Đức Chúa Trời,” và điều này có nghĩa đặc biệt là để đúng đắn với luật pháp của Đức Chúa Trời.
(Một định nghĩa thịnh hành chung về sự công bình là nó có nghĩa “trung tín với các lời hứa của giao ước.” Ý tưởng đó là dân Y-sơ-ra-ên không sống theo các cam kết giao ước của nó, vì vậy Đức Chúa Jêsus đã đến như một “người thay thế” cho dân Y-sơ-ra-ên và làm trọn các lời hứa giao ước của dân Y-sơ-ra-ên trong vị trí của nó. Tuy nhiên, điều này không tương xứng một cách đáng tiếc. Đức Chúa Jêsus đã không đến để “lắp” vào mối quan hệ thất bại của dân Y-sơ-ra-ên với giao ước của nó; Ngài đã đến để giải quyết mối quan hệ bị hư mất của loài người với luật pháp của Đức Chúa Trời!)
Chúng ta không thể gìn giữ sự thông công với Đức Chúa Trời mà không có sự công bình. Như Phao-lô nói trong 1 Cô-rinh-tô 6:9, “Anh em há chẳng biết những kẻ không công bình [những kẻ phá luật pháp] chẳng bao giờ hưởng được nước Đức Chúa Trời sao.” Quy tắc tiêu chuẩn mà chúng ta phải tuân theo để được công bình là bộ luật giao ước mới của chúng ta. Chúng ta phải đáp ứng các mạng lệnh của bộ luật của chúng ta để được Đức Chúa Trời chấp nhận. Dĩ nhiên, sự lựa chọn để là những kẻ phá luật (các tội nhân) và vì vậy bị kết tội để đáp ứng đòi hỏi của luật pháp cho hình phạt. Vì chúng ta thực tế là các tội nhân, số phận của chúng ta sẽ sinh ra là điều đến sau. (Điều đến sau này thực chất là một loại công bình – “là đúng đắn với luật pháp” – nhưng không theo một cách mà cứu được.)
Nhưng đây là nơi điểm khác biệt giữa sự công bình của cá nhân và công bình của Đức Chúa Trời đi đến hướng giải thoát. Sự công bình của CÁ NHÂN đơn giản là sự đáp ứng của CHÍNH chúng ta về các đòi hỏi của luật pháp của Đức Chúa Trời. Chúng ta mong ước chúng ta có thể làm điều này bằng phương tiện của tính chính trực của cá nhân chúng ta, sự trung tín của chúng ta với ý muốn của Đức Chúa Trời, sự vâng phục của chúng ta đến tất cả các mạng lệnh luật pháp mà không có bất cứ sự sai trái nào. Vấn đề ở đây được nhìn thấy trong lời nhắn của Rô-ma 1:18-3:20, “chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không” (3:10); “vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (3:23). Như Ê-sai 64:6 tuyên bố, “Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp.”
Vậy thì điều này có nghĩa là gì? Đơn giản đây là: bởi vì chúng ta là tội nhân, chúng ta không bao giờ có thể là công bình với Đức Chúa Trời theo cách nói của các mạng lệnh của luật pháp; vì vậy sự lựa chọn duy nhất để là công bình với luật pháp của Đức Chúa Trời là theo cách nói của hình phạt của nó. Về sự công bình của cá nhân chúng ta, chúng ta bị kết tội để được phù hợp với luật pháp bằng việc chịu đựng hình phạt của nó: đời đời trong địa ngục.
Có bất cứ hy vọng gì cho chúng ta không? Không được căn cứ trên sự công bình của chính chúng ta. Nhưng đây là điểm của tin lành về ân điển: Đức Chúa Trời bước vào trong vị trí của chúng ta và đáp ứng các đòi hỏi của luật pháp CHO chúng ta! Đức Chúa Trời bảo đảm rằng các đòi hỏi của luật pháp của chính Ngài được đáp ứng. Ngài không cho phép luật pháp của Ngài bị bôi nhọ hay không được tôn trọng. Ngài bảo đảm rằng sự hoàn hảo của luật pháp được gìn giữ trong sự công bình tuyệt đối. Và vinh hiển của ân điển của Ngài là đây: Ngài BAN sự công bình THÁNH đó – sự công bình của CHÍNH Ngài – cho chúng ta như cơ sở cho sự cứu rỗi của chúng ta!
Quay trở lại với Ê-sai, chúng ta sẽ nhớ rằng trong 64:6 ông nói rằng mọi việc công bình của chúng ta như áo nhớp. Nhưng trong 61:10, Đấng tiên tri tuyên bố rằng, “Ta sẽ rất vui vẻ trong Ðức Giê-hô-va, linh hồn ta mừng rỡ trong Ðức Chúa Trời ta; vì Ngài đã mặc áo cứu rỗi cho ta; khoác áo choàng công bình (NGÀI!) cho ta.” Sự ban sự công bình của Đức Chúa Trời này là “sự công bình của Đức Chúa Trời” mà Phao-lô nói được bày tỏ trong tin lành (Rô-ma 1:16-17).
9. SỰ CÔNG BÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI: PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC HOÀN HẢO CỦA NGÀI HAY SỰ BAN CHO CỦA NGÀI ĐẾN CÁC TỘI NHÂN?
Kinh Thánh đặc biệt nói rằng chúng ta được cứu bởi sự công bình của Đức Chúa Trời. Ví dụ, Phao-lô nói rằng nguyên nhân để quá nhiều người Giu-đa bị hư mất là do họ đang cố gắng để được cứu bởi sự công bình của chính họ, và vì vậy đã không giao phó chính bản thân họ cho sự công bình của Đức Chúa Trời (Rô-ma 10:1-3). Tin lành về sự cứu rỗi quá quyền năng bởi vì “trong Tin lành nầy có bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời” (Rô-ma 1:16-17).
Điều này sinh ra câu hỏi: khi Phao-lô nói về “sự công bình của Đức Chúa Trời,” thì chính xác là ông đang nói về cái gì? Đây là nơi chúng ta phải đưa ra điểm khác biệt khác: chúng ta phải phân biệt giữa sự công bình của Đức Chúa Trời như PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC HOÀN HẢO của Ngài, và sự công bình của Ngài như SỰ BAN CHO CÁC TỘI NHÂN của Ngài.
Mấu chốt ở đây là để hiểu được chính xác cái gì có nghĩa bởi sự công bình của Đức Chúa Trời khi nó được kéo vào trong sự cứu rỗi của các tội nhân. Đa số, khi Kinh Thánh nói đến sự công bình của Đức Chúa Trời, nó đang nói về phẩm chất đạo đức hoàn hảo không thay đổi của Ngài, tức là, một thuộc tính của bản chất tự nhiên của Ngài. Nhưng trong phạm vi về ân điển (ví dụ, Rô-ma 1:16-17; 3:21-22; 5:18; 10:3-6) nó dường như là điều gì đó khác, hay ít nhất điều gì đó HƠN THẾ. Việc không nhìn thấy điểm khác biệt này có thể dẫn đến sự rối loạn nhiều về việc chúng ta được cứu như thế nào.
Liên quan đến điều trước, sự công bình của Đức Chúa Trời thực tế là một trong những thuộc tính chính của Ngài. (Xem sách của tôi, “Đức Chúa Trời – Đấng Cứu Chuộc,” chương 4, trang 175-243). Giờ thì, nếu như sự công bình có nghĩa là “sự tuân theo một quy tắc tiêu chuẩn, thì điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời có một quy tắc tiêu chuẩn mà Ngài phải đánh giá theo nó phải không? Theo một nghĩa nào đó, thì đúng như vậy. “Quy tắc tiêu chuẩn” đó là bản chất tự nhiên của chính Ngài, tổng hợp của các thuộc tính của Ngài. Chúng ta có thể nói nó giống như thế này: sự công bình của Đức Chúa Trời có nghĩa là các hành động của Ngài sẽ luôn luôn nằm trong sự tuân thủ hoàn hảo với tính tự nhiên hay bản chất của Ngài. Bởi vì Đức Chúa Trời công bình là thánh, nên các hành động của Ngài có thể không bao giờ xâm phạm bản chất thánh của Ngài. Bởi vì Đức Chúa Trời công bình là yêu thương, nên các hành động của Ngài có thể không bao giờ xâm phạm tình yêu thương của Ngài – và cứ thế tiếp tục. Ngài là kiên định với bản thân mình, Ngài mãi mãi trung tín với chính Ngài. Đây là sự công bình của Ngài.
Như chúng ta đã nhìn thấy, Phao-lô nói rằng sự công bình của Đức Chúa Trời là phần của tin lành (Rô-ma 1:16-17, và “tin lành” có nghĩa là “tin tức tốt lành.” Nhưng làm thế nào mà sự công bình của Đức Chúa Trời là TIN TỨC TỐT LÀNH cho các tội nhân? Đức Chúa Trời phải luôn luôn đúng với chính bản thân Ngài. Điều đó nghe có vẻ tốt, cũng như chúng ta đối xử với chính bản thân chúng ta. Nhưng sự thật đó là chúng ta là những tội nhân, và Đức Chúa Trời cũng là một “đám lửa hay thiêu đốt” của sự thạnh nộ (Hê-bơ-rơ 12:29). Vậy thì chúng ta những người tội nhân có thể mong đợi gì từ một Đức Chúa Trời công bình ngoại trừ địa ngục? Làm thế nào để sự công bình của Ngài là “tin tức tốt lành” cho các tội nhân?
Đây là nơi chúng ta phải học để suy ngẫm về sự công bình của Đức Chúa Trời như là hơn thuộc tính nội tâm đơn giản của phẩm chất đạo đức cá nhân của Ngài. Như Kinh Thánh trình bày nó trong mạch văn về ân điển, sự công bình của Đức Chúa Trời là điều gì đó tách biệt khỏi bản chất tự nhiên của chính Ngài, điều gì đó mà có thể được gói thành một gói quà và được cho đi (được chuyển đi, được dành cho) các tội nhân, giống như “áo của sự công bình” trong Ê-sai 61:10.
Để hiểu được điều này, chúng ta phải nghĩ đến sự công bình của Đức Chúa Trời không chỉ như ĐỨC CHÚA TRỜI LÀ điều gì đó, nhưng như ĐỨC CHÚA TRỜI LÀM điều gì đó. Đức Chúa Trời công bình LÀM điều gì đó mà gìn giữ tính liêm chính của luật pháp của Ngài, và các ảnh hưởng của hành động đó mà sau khi được chuyển đi (được dành cho) chúng ta – các tội nhân và trở thành cơ sở cho sự cứu rỗi của chúng ta. Vì vậy chúng ta được cứu không chỉ bởi sự công bình của CHÍNH chúng ta, nhưng bởi sự công bình của ĐỨC CHÚA TRỜI.
Điều này mà Đức Chúa Trời làm, mà tạo thành sự ban cho của sự công bình của Ngài đến các tội nhân là gì? Đây là nơi Đức Chúa Jêsus-Christ xuất hiện trong khung cảnh. Đức Chúa Jêsus, như hiện thân của Đức Con, “làm ra” sự công bình của Đức Chúa Trời trong lịch sử của chúng ta trong nơi chốn của các tội nhân. Những gì mà Đức Chúa Jêsus đã làm cho chúng ta tạo nên sự công bình của Đức Chúa Trời mà là cơ sở cho sự cứu rỗi của chúng ta. Sự công bình của Ngài là sự ban cho đầy ân điển của Đức Chúa Trời cho chúng ta.
10. CÁC MẠNG LỆNH CỦA LUẬT PHÁP ĐƯỢC ĐÁP ỨNG, HAY HÌNH PHẠT CỦA LUẬT PHÁP ĐƯỢC ĐÁP ỨNG?
Vấn đề ở đây là như thế này: về tất cả những gì mà Đức Chúa Jêsus đã làm trong khi Ngài còn trên thế gian, chính xác là phần nào của những việc đó được chuyển (được dành) cho chúng ta như “sự công bình của Đức Chúa Trời”? Ở đây chúng ta phải phân biệt giữa sự làm cho thỏa mãn CÁC MẠNG LỆNH của luật pháp của Đức Chúa Jêsus, và sự làm cho thỏa mãn HÌNH PHẠT của nó của Ngài. Chúng ta đã miêu tả sự công bình (như được sử dụng trong mạch văn về ân điển) như là sự làm thỏa mãn các yêu cầu của luật pháp. Chúng ta được nói rằng Đức Con như Đức Chúa Jêsus của Na-xa-rét “làm ra” sự công bình này cho chúng ta. Tức là, Ngài đã làm thỏa mãn các yêu cầu của luật pháp cho chúng ta, và điều này được ban cho chúng ta như một món quà và được xem như của chính chúng ta.
Câu hỏi là, theo các cách nào mà Đức Chúa Jêsus đã “làm thỏa mãn các yêu cầu của luật pháp,” và làm thế nào mà điều này được chuyển đến cho chúng ta? Có sự rối loạn đáng kể và sự hiểu sai ở đây, vì vậy chúng ta phải giải thích nó thật cẩn thận.
Đức Chúa Jêsus đã làm thỏa mãn các yêu cầu của luật pháp theo hai cách riêng biệt. Trước tiên, Ngài là vô tội, tức là, Ngài đã vâng phục một cách hoàn hảo tất cả CÁC MẠNG LỆNH của luật pháp mà Ngài đã sống dưới nó như một con người (chính là luật pháp Môi-se). Đây được gọi là sự vâng phục chủ động của Ngài hay sự công bình chủ động. Nhiều người tin rằng “sự công bình của Đức Chúa Trời” này được chuyển đến (được dành cho) các tội nhân đang tin như cơ sở cho sự xưng công bình của họ trước Đức Chúa Trời. Hồ sơ vâng phục hoàn hảo của Đức Chúa Jêsus được chuyển đến tài khoản của chúng ta, và Đức Chúa Trời tính nó như là của chúng ta và xem chúng ta là công bình. Đây chính mà một niềm tin rất phổ biến.
Tuy nhiên, đây là SAI LẦM. Vì một điều, sự vâng phục hoàn hảo của Đức Chúa Jêsus không gì hơn là Ngài, người đã mắc nợ Đức Chúa Trời rồi như một con người đang sống dưới bộ luật của luật pháp Môi-se. Ngài không có gì “để lại,” để nói, để chia sẻ cho bất cứ người nào. (Đây là một kết luận được căn cứ trên Lu-ca 17:7-10). Thậm chí như một con người hoàn hảo thì Đức Chúa Jêsus vẫn là một “đầy tớ vô ích.”
Lý do khác mà tại sao nó sai khi nghĩ rằng sự vâng phục hoàn hảo của Đức Chúa Jêsus là “sự công bình của Đức Chúa Trời” được dành cho các tội nhân đó là Kinh Thánh nói (Rô-ma 5:18) rằng “bởi chỉ một việc công bình mà sự xưng công bình, là sự ban sự sống, cũng rải khắp cho mọi người thể ấy.” MỘT VIỆC của sự công bình! Đây sẽ không phải là đời sống hoàn hảo của Ngài, nhưng là SỰ ĐÓNG ĐINH của Ngài, một việc làm mà trong đó Đức Chúa Jêsus đang làm thỏa mãn yêu cầu của luật pháp CHO HÌNH PHẠT cho toàn bộ thế hệ loài người! Đây được gọi là sự vâng phục bị động của Đức Chúa Jêsus hay sự công bình bị động – và ĐÂY LÀ TẤT CẢ SỰ CÔNG BÌNH MÀ CHÚNG TA CẦN cho sự xưng công bình trước Đức Chúa Trời!
Chỉ mình sự công bình bị động này là sự công bình của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong tin lành, và sự công bình của Đức Chúa Trời mà được dành cho các tội nhân và trên cơ sở đó mà Đức Chúa Trời xưng chúng ta công bình. Bởi vì Đức Chúa Jêsus trên thập tự giá giao phó chính Ngài cho cơn thạnh nộ vô tận của Đức Chúa Trời trong vị trí của chúng ta, khi “một việc làm” này được áp dụng cho chúng ta, thì chúng ta được xưng công bình. Ý nghĩa của sự xưng công bình là đây: Đức Chúa Trời như Quan xét nhìn vào chúng ta và tuyên bố rằng, “Không có hình phạt dành cho ngươi!” (xem Rô-ma 8:1). Đây là tất cả những gì mà chúng ta cần cho sự xưng công bình.
Thực ra Đức Chúa Jêsus đã làm thỏa mãn các mạng lệnh của luật pháp một cách hoàn hảo, và cũng là hình phạt đời đời của luật pháp. Nhưng Ngài đã làm cái trước tiên cho chính Ngài, để duy trì sự công bình của chính Ngài. Sau đó một người hoàn hảo cũng như sự hiện thân của Đức Chúa Trời Toàn Năng, Ngài đã làm thỏa mãn hình phạt đời đời của luật pháp trong vị trí của chúng ta, như người thay thế của chúng ta, vì vậy làm cho Đức Chúa Trời công bình có thể xưng chúng ta công bình trong khi đang duy trì sự công bình của chính Ngài (Rô-ma 3:26; 2 Cô-rinh-tô 5:21).
| TÓM TẮT: LÀM THẾ NÀO ĐÚNG VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI BỞI PHƯƠNG CÁCH | |
| Hệ Thống LUẬT PHÁP | Hệ Thống ÂN ĐIỂN |
| A. Căn bản của “sự công bình:” sự công bình cá nhân B. Sự công bình này đạt được bằng cách nào bởi chúng ta? Thông qua sự vâng phục các mạng lịnh LUẬT PHÁP. a. Các mạng lịnh Luật Pháp = nội dung của bộ luật của một người. b. Một người hồi đáp các mạng lịnh Luật Pháp = các việc làm của Luật Pháp (theo Phao-lô). | A. Căn bản của sự cứu rỗi: sự công bình của Đức Chúa Trời (của Đấng Christ) B. Sự công bình này đạt được bằng cách nào bởi chúng ta? Thông qua việc vâng phục các mạng lịnh Tin Lành. a. Các mạng lịnh Tin Lành = sự chỉ dạy của Đức Chúa Trời bằng cách nào để được cứu. b. Sự vâng phục các mạng lịnh tin lành của một người = các việc làm chung chung = (những việc chúng ta làm). c. Thậm chí đức tin là một việc làm theo nghĩa chung chung xem Giăng 6:26-29. |



